HỘI CHỨNG RUỘT KÍCH THÍCH – NỘI KHOA Y HÀ NỘI

CHƯƠNG V. BÀI 13:

HỘI CHỨNG RUỘT KÍCH THÍCH

MỤC TIÊU

  1. Tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng ruột kích thích.
  2. Các thăm dò cận lâm sàng chẩn đoán hội chứng ruột kích thích.
  3. Điều trị hội chứng ruột kích thích.

1. ĐẠI CƯƠNG

Bệnh đại tràng chức năng hay còn gọi là hội chứng ruột kích thích biểu hiện bởi nhiều triệu chứng chủ yếu là các triệu chứng liên quan đến rối loạn vận động tiêu hóa: đại tràng dễ kích thích, tăng co bóp đại tràng, đại tràng quá mẫn cảm. Bệnh biểu hiện chủ yếu bởi các triệu chứng rối loạn phân nhưng khi thăm dò không có các tổn thương thực thể của đại tràng.

Bệnh lành tính rất ít ảnh hưởng đến sức khỏe và thời gian sống. Người bệnh thường quá lo lắng vì bệnh tật ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Thầy thuốc thường chủ quan coi đó chỉ là tổn thương chức năng không thăm dò đầy đủ có thể để sót các bệnh lý thực thể nguy hiểm đến tính mạng.

Đại tràng chức năng chiếm tỷ lệ cao trong số các bệnh nhân đến khám tại phòng khám chuyên khoa tiêu hóa 20 – 40%, tỷ lệ thường gặp trong các bệnh lý nội khoa chung tùy từng nghiên cứu từ 5 – 20%. Bệnh có xu hướng ngày càng tăng. Vấn đề quản lý và điều trị tốt bệnh lý đại tràng chức năng giúp cải thiện tốt chất lượng cuộc sống.

2. SINH LÝ BỆNH

Hội chứng ruột kích thích cho đến giờ vẫn còn là các giả thiết cơ chế tập trung vào các vấn đề chính:

  • Tăng mẫn cảm tạng.
  • Rối loạn vận động ruột.
  • Thay đổi tính thấm ruột.
  • Viêm nhiễm lâm sàng.
  • Chủng vi khuẩn.
  • Phân hủy protein ruột và receptours hoạt động bởi men phân hủy protein (Protease).
  • Yếu tố tâm lý.

Hiện nay cơ chế sinh bệnh của hội chứng ruột kích thích vẫn còn là giả thiết nhưng đã xác định được ở các bệnh nhân hội chứng ruột kích thích có những bất thường về nhận cảm đau đặc biệt là tăng mẫn cảm tạng, thậm chí là những rối loạn rất khác về vận động ruột. Các cổng trình nghiên cứu đã chứng tỏ rằng cũng có mối liên quan giữa ruột và não: hội chứng ruột kích thích và trục ruột-não. Khi có cảm giác đau ở ruột, tình trạng căng giãn ở ruột, các triệu chứng cũng được dẫn về não ở các vùng chi phối cho trạng cùng thể hiện cảm giác đau, cảm giác căng giãn ruột. Tăng mẫn cảm ruột, rối loạn vận động ruột thể hiện không giống nhau ở các dạng hội chứng ruột kích thích.

Proteases tiêu hóa và receptours hoạt động bởi protease. Proteases có mặt trong ống tiêu hóa điều hòa nhiều chức năng, trung gian bởi PARs. Hội chứng ruột kích thích với đau tiêu hóa, hoạt động của proteases huyết thanh tăng cao kích thích ống tiêu hóa tăng vận động. Protease được điều hòa bằng receptors PAR-2 khu trú ở các neuron thần kinh tạng.

Khi receptor dẫn truyền tác động của protease huyết thanh không có trên các tế bào ruột, những bất thường về vận động do protease huyết thanh gây ra được điều chỉnh.

Các yếu tố khác quan tác động từ bên ngoài cũng có ảnh hưởng lớn đến rối loạn vận động ống tiêu hóa: trạng thái lo lắng, rối loạn tình cảm, khó khăn khi hòa nhập xã hội hay nghề nghiệp.

3. LÂM SÀNG

3.1. Triệu chứng lâm sàng

Bệnh hay xảy ra ở người trẻ, tuổi trước 30 tuổi, tỷ lệ nữ mắc nhiều hơn nam. Ba triệu chứng chính thường gặp là đau bụng, táo bón và ỉa lỏng. Ba triệu chứng có thể đơn độc hay phối hợp với nhau.

Triệu chứng đau bụng không có đặc điểm gì cố định, không có vị trí nhất định có thể đau dọc khung đại tràng, căng lên sau ăn, thậm chí chưa ăn xong đã gây đau bụng làm người ta phải ngừng ăn, khi ăn phải thức ăn lạ dễ gây đau bụng. Các yếu tố khác như lạnh, nóng cũng có thể gây đau. Đau có thể triền miên nhiều ngày nhưng cũng có thể chỉ 1 – 2 ngày, một tháng có thể đau nhiều ngày, nhưng cũng có bệnh nhân nhiều tháng mới đau một lần.

Phân lỏng hoặc nát, phân có thể sống, có mùi nhầy lẫn phân, lẫn bọt, lượng nhầy, bọt nhiều ít tùy theo từng bệnh nhân.

Phân táo: phân trở nên rắn, số lần giảm, < 3 lần đại tiện/tuần thường kèm theo mùi nhầy bọc ngoài phân.

Đặc điểm quan trọng nhất là phân không lẫn máu, nếu có dấu hiệu phân máu đó không phải là triệu chứng của bệnh đại tràng chức năng mà phải coi đó là tổn thương thực thể cần phải tìm nguyên nhân.

Ngoài ra các triệu chứng tại bụng cũng khá thường gặp: bụng đầy hơi, ậm ạch, trung tiện nhiều, chán ăn, ăn không ngon miệng nhưng không có dấu hiệu sút cân. Toàn trạng không bị ảnh hưởng nhiều. Các triệu chứng khác ngoài tiêu hóa như nhức đầu mất ngủ, bốc hỏa.

3.2. Các thăm dò cận lâm sàng

Chẩn đoán chủ yếu là chẩn đoán loại trừ. Muốn vậy phải làm đủ các thăm dò và các xét nghiệm C: công thức máu, bilan tuyến giáp: TSH, FT4, test tìm hồng cầu trong phân.

Xét nghiệm phân: soi tìm hồng cầu trong phân, tìm ký sinh trùng, cấy phân tìm vi khuẩn.

Chụp khung đại tràng: loại trừ các bệnh lý tắc nghẽn.

Soi trực tràng và nội soi đại tràng, sinh thiết nhiều mảnh nhiều nơi trực tràng và các đoạn đại tràng.

Tất cả các thăm dò đó đều bình thường ở người bệnh được chẩn đoán hội chứng ruột kích thích hoặc có thể phát hiện các dấu hiệu có tính chất rất lành tính như túi thừa đại tràng, các polyp nhỏ. Tuy nhiên các tổn thương thường không đủ để giải thích tình trạng nặng với nhiều triệu chứng của bệnh hội chứng ruột kích thích.

Các thăm dò rất cần thiết giúp loại trừ các bệnh lý tổn thương thực thể: polyp đại tràng, ung thư đại trực tràng, các bệnh lý viêm mạn tính đại tràng, tổn thương loét đại tràng…

4. CHẨN ĐOÁN

4.1. Tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng ruột kích thích

Các triệu chứng lâm sàng chính: có 6 triệu chứng.

  • Đau thay đổi khi nghỉ.
  • Đau bụng nhưng kèm phân mềm hơn.
  • Đau bụng kèm phân thường là bình thường.
  • Bụng chướng.
  • Phân có nhầy.
  • Đại tiện không hết phân.

Tiêu chuẩn chẩn đoán ROME

  • Kiểu đau (2/3 tiêu chuẩn đau bụng).
  • Với thay đổi số lần đại tiện.
  • Với thay đổi mức độ cứng của phân.

Thời gian xuất hiện các triệu chứng theo tiêu chuẩn ROME

  • Rome I: 3 tháng liên tục (nghiên cứu cách đây 15-20 năm).
  • Rome II: 3 tháng không cần liên tục trong 1 năm.
  • Rome III: ít nhất 3 ngày/tháng trong thời gian 3 tháng cuối với triệu chứng tiến triển ≥ 6 tháng.

Chẩn đoán hội chứng ruột kích thích dựa vào

  • Đó là chẩn đoán loại trừ. Không có bệnh thực thể.
  • Không có bệnh do dùng thuốc gây ra.

4.2. Sơ đồ các bước chẩn đoán hội chứng ruột kích thích

5. ĐIỀU TRỊ

5.1. Nguyên tắc điều trị

  • Tầm quan trọng trong điều trị hội chứng ruột kích thích là thiết lập mối quan hệ tốt giữa thầy thuốc và bệnh nhân giúp cho người bệnh yên tâm tin cậy thầy thuốc.
  • Xác định rõ với bệnh nhân những mục tiêu của điều trị thực tế.

Thuốc có thể có hiệu quả ở bệnh nhân hội chứng ruột kích thích nhưng kết quả không thường xuyên cần phải coi điều chỉnh chế độ sinh hoạt là điều trị cơ bản.

Đôi khi cần phải kết hợp nhiều loại thuốc để điều trị những triệu chứng khác nhau (đau, rối loạn nhu động…).

  • Thường xuyên nhắc lại với bệnh nhân hội chứng ruột kích thích là bệnh lành tính và không có nguy cơ ung thư và giáo dục bệnh nhân lạc quan, hy vọng vào cuộc sống.

5.2. Chế độ sinh hoạt

Điều kiện quan trọng giúp điều trị thành công. Trước hết cần ăn kiêng các thức ăn không thích hợp như tôm, cua, cá nhưng thức ăn khó tiêu sinh hơi nhiều như khoai lang, kiêng thức ăn gây kích thích như rượu, cà phê, thuốc lá, các thức ăn gia vị như hạt tiêu, ớt, các thức ăn có đường lactose, đa số người bệnh rối loạn cơ năng đại tràng bị thiếu lactase. Không nên ăn các thức ăn chứa nhiều cellulose khó tiêu như cám, sỏi, mít… Đối với người táo bón thì nên ăn thêm rau công tơa, đối với người ỉa chảy cần ăn thức ăn đặc dễ tiêu, đối với người đầy hơi không dùng đồ uống có ga. Khi ăn nên ăn từ từ, ăn chậm, không nên ăn quá nhiều một lúc.

Đi đôi với việc ăn kiêng là luyện tập thói quen đi đại tiện vào giờ nhất định dù là táo bón hay ỉa chảy. Luyện tập thói quen đi đại tiện ngay một lần vào buổi sáng, cần làm động tác xoa bụng trước khi đi ngoài để kích thích gây cảm giác đi ngoài. Nếu đi ngoài phân lỏng nhiều lần cũng phải tập đi ít lần bằng cách cố nhịn. Luyện tập phải công phu và kiên trì.

Thay đổi môi trường sống để tạo không khí thoải mái dễ chịu, tắm biển, suối nước nóng…

5.3. Điều trị bằng thuốc

Các thuốc sử dụng trong hội chứng ruột kích thích tùy vào triệu chứng lâm sàng nổi bật ở trên bệnh nhân.

5.4. Điều trị triệu chứng đau bụng

Thuốc tác động vào hệ thần kinh ruột tác dụng giảm đau, giảm các triệu chứng đầy bụng, căng chướng.

Thuốc kháng cholinergique: atropin, scopolamin, hyoscin.

Thuốc chống co thắt: mebeverin, alverin.

Thuốc chủ vận của thụ thể opiat: trimebutin.

Ức chế kênh calci: pinaverium, nifedipin.

5.5. Điều trị táo bón

Thuốc nhuận tràng: gồm có nhiều nhóm thuốc nhuận tràng: chỉ định trị khi có triệu chứng táo bón mạn tính kéo dài; có thể chỉ định táo bón cấp tính cần theo dõi sát để phát hiện các bệnh lý kèm theo:

  • Nhuận tràng thẩm thấu.
  • Nhóm thuốc tăng nhu động.
  • Nhóm thuốc tăng tạo khối lượng phân.
  • Nhuận tràng dạng thụt, đặt.
  • Thuốc làm mềm phân (Parafin).
  • Nhóm nhuận tràng kích thích (phenolphtalein, bisacodyl).

5.6. Điều trị triệu chứng tiêu chảy

Thuốc chống tiêu chảy: loperamid (giảm nhu động), smecta.

5.7. Điều trị toàn thân

  • Tác động hệ thần kinh trung ương: chống trầm cảm loại 3 vòng amitriptylin, sulpirid (Dogmatil).
  • Bổ sung các nhóm vitamin, các yếu tố vi lượng như magne, kẽm giúp cải thiện vận động ống tiêu hóa.

Cập nhật thông tin mới nhất về kiến thức y học và test y học tại facebook TEST Y HỌC

Tham gia nhóm zalo: Tài Liệu Y Học Tổng Hợp

Ôn thi nội trú, sau đại học TẠI ĐÂY

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Content is protected !!
All in one