Bài 6
PHÁT TRIỂN TÂM THẦN – VẬN ĐỘNG Ở TRẺ EM
1. TẦM QUAN TRỌNG CỦA SỰ PHÁT TRIỂN TÂM THẦN – VẬN ĐỘNG BÌNH THƯỜNG Ở TRẺ EM
Sự lớn lên của trẻ em không chỉ liên quan đến chiều dài và trọng lượng của cơ thể mà còn bao gồm sự phát triển và trưởng thành về tâm thần, vận động. Một trẻ được coi là phát triển bình thường khi đạt được các mốc phát triển mong đợi tương ứng với lứa tuổi cả về thể chất và tâm thần – vận động (TT-VD).
Mục tiêu của chăm sóc nhi khoa là tối ưu hóa quá trình tăng trưởng (growth) và phát triển (development) của mỗi trẻ. Để thực hành tốt việc theo dõi quá trình này, bác sĩ nhi khoa cần có kiến thức về sự phát triển TT-VD bình thường của trẻ. Từ đó có thể phát hiện sớm sự chậm trễ hoặc bất thường trong quá trình phát triển của trẻ (chậm phát triển, bại não, rối loạn phổ tự kỷ…) để kịp thời tư vấn cho cha mẹ và cung cấp các can thiệp hỗ trợ cần thiết. Đồng thời, bác sĩ nhi khoa cũng cần phải hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển như sự tương tác giữa các yếu tố sinh học và môi trường trong mối quan hệ giữa trẻ với cha mẹ, các thành viên gia đình, trường học và xã hội.
2. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN TÂM THẦN – VẬN ĐỘNG BÌNH THƯỜNG
2.1. Gen
Mỗi trẻ sinh ra đều được thừa hưởng gen di truyền (kiểu gen) từ bố mẹ với nguồn gốc từ trứng và tinh trùng, đây như một bản đồ chỉ đường cho sự phát triển của trẻ sau này. Kiểu hình là cách mà các gen này thực sự được thể hiện ra bên ngoài bao gồm các đặc điểm về hình thể như chiều cao, màu sắc da, màu mắt… cũng như các đặc điểm về tính cách như nhút nhát, hướng nội hay cởi mở, hướng ngoại. Biểu hiện của kiểu gen phụ thuộc vào tương tác di truyền giữa các gen và tương tác giữa gen với môi trường. Các bất thường về vật chất di truyền có thể đưa đến những bệnh lý ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ. Ví dụ: Các bất thường liên quan đến nhiễm sắc thể (NST) giới tính như trong hội chứng Klinefelter, hội chứng Turner, hội chứng X dễ gãy (Fragile X syndrome) hoặc các bất thường liên quan đến NST thường hay gặp như hội chứng Down (3 NST số 21), hội chứng Patau (3 NST số 13), hội chứng Edwards (3 NST 18)… có thể dẫn đến trẻ chậm phát triển so với trẻ bình thường.
2.2. Dinh dưỡng
Sự thiếu hụt dinh dưỡng ảnh hưởng đến sự tăng trưởng về thể chất của trẻ và có thể làm ảnh hưởng đến sự phát triển TT-VD. Chế độ dinh dưỡng ngay trong giai đoạn thai kỳ của các bà mẹ cũng ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của trẻ sau này. Thiếu dinh dưỡng với các thành phần cơ bản như protein, vitamin và khoáng chất trong thai kỳ mang thai có thể dẫn đến tình trạng suy dinh dưỡng bào thai, các bất thường phát triển của hệ thần kinh, sinh non. Vì vậy kiểm soát các yêu cầu dinh dưỡng của bà mẹ trong giai đoạn thai kỳ là cần thiết để có một trẻ khỏe mạnh. Khi trẻ ra đời, việc nuôi dưỡng chăm sóc trẻ với chế độ dinh dưỡng phù hợp theo nhu cầu phát triển của lứa tuổi, cũng là chìa khóa cho sự phát triển khỏe mạnh cả về thể chất lẫn TT-VD.
2.3. Bệnh tật
Các bệnh lý bẩm sinh hoặc mắc phải của hệ thần kinh, nội tiết, tim mạch, cơ xương khớp cũng ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và phát triển của trẻ. Sự phát triển TT-VD của trẻ em diễn biến song song với sự trưởng thành của hệ thần kinh trung ương và cơ thể nói chung. Khi sinh ra, hệ thần kinh còn tiếp tục được phát triển trong 5 năm đầu của cuộc đời. Não trẻ sơ sinh nặng 300 g, nhưng não người trưởng thành nặng 1200 g – 1400 g, đó là kết quả của sự myelin hóa. Nhờ vào quá trình myelin hóa, sự phát triển TT-VD hình thành và thuần thục dần dần. Khi hệ thần kinh phát triển thêm một bước, trẻ sẽ xuất hiện thêm một khả năng mới như: biết đi, biết chạy, biết phân biệt phải – trái… Nếu hệ thần kinh phát triển bất thường như: mắc các dị tật bẩm sinh hoặc mắc phải như bại não, não úng thủy… hoặc tình trạng di chứng sau xuất huyết não, viêm não – màng não, chấn thương sọ não… dẫn đến trẻ có thể không phát triển TT-VD bình thường. Các bệnh lý liên quan đến nội tiết như thiếu hụt hormon tăng trưởng, suy giáp trạng bẩm sinh, hội chứng Cushing; các bệnh lý về cơ xương như teo cơ, còi xương… có thể dẫn đến trẻ phát triển không bình thường về TT-VD.
2.4. Môi trường
Trẻ lớn lên trong môi trường gia đình, nhà trường và xã hội. Môi trường sống có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển về TT-VD của trẻ.
Gia đình: đây là môi trường nuôi dưỡng trẻ đầu tiên, chăm sóc trẻ từ những năm tháng đầu đời đến lúc trẻ trưởng thành ra ngoài xã hội. Trẻ sinh ra và lớn lên trong gia đình có điều kiện kinh tế tốt, các thành viên trong gia đình đều quan tâm yêu thương, chăm sóc đứa trẻ thì trẻ sẽ có điều kiện phát triển tốt. Trẻ học rất nhiều từ cử chỉ điệu bộ, cách ứng xử của các thành viên trong gia đình đặc biệt là cha mẹ trẻ. Do đó, cách chăm sóc, dạy dỗ trẻ ảnh hưởng rõ rệt đến sự phát triển TT – VD cũng như tính cách, hành vi, cảm xúc của trẻ sau này.
Trường học: Môi trường trường học là nơi trẻ được học tập kiến thức về tự nhiên, xã hội và các bài học về đạo đức làm người, nơi trẻ được giao lưu kết bạn học hỏi và bồi dưỡng phát triển cả về nhân cách và trí tuệ. Các thành tố trong môi trường trường học như điều kiện vật chất, thầy cô, bạn bè, chương trình học tập… cũng ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển của trẻ.
Xã hội: Ở những xã hội có nền kinh tế phát triển sẽ có nhiều chính sách tốt, cung cấp những điều kiện chăm sóc sức khỏe và các dịch vụ tiện ích hỗ trợ tối ưu sự phát triển của trẻ. Những đặc điểm về văn hóa xã hội, nhận thức của cộng đồng về trẻ em – thế hệ tương lai của xã hội cũng góp phần rất quan trọng tạo nên môi trường phát triển tốt nhất cho trẻ em.
Thông qua sự tác động của môi trường, hành vi, cảm xúc của trẻ được phát triển theo các xu hướng khác nhau. Đồng thời hành vi, cảm xúc cũng góp phần phát triển nhân cách của từng trẻ. Chuỗi phát triển được kích thích hoặc ức chế thông qua sự tác động qua lại lẫn nhau giữa trẻ và môi trường.
3. CÁC MỐC PHÁT TRIỂN TÂM THẦN VẬN ĐỘNG BÌNH THƯỜNG CỦA TRẺ THEO LỨA TUỔI
Đánh giá sự phát triển TT-VD dựa trên sự quan sát và theo dõi ở 4 lĩnh vực:
– Vận động thô
– Ngôn ngữ
– Vận động tinh
– Cá nhân – xã hội
3.1. Một số khái niệm
Mốc phát triển (developmental milestones) là tập hợp những kỹ năng đặc trưng cho lứa tuổi mà trẻ bình thường ở lứa tuổi đó có thể thực hiện được.
Vận động thô (gross motor) là các động tác vận động do sử dụng các khối cơ lớn ở tay, chân, bàn chân, thân mình như ngồi, đứng, đi, chạy, thay đổi tư thế, giữ thăng bằng.
Vận động tinh (fine motor) là các động tác vận động do sử dụng các nhóm cơ nhỏ như ngón tay, cổ tay, ngón chân, môi, lưỡi và khéo léo kết hợp các động tác như nhặt, giữ, cầm nắm đồ…
Ngôn ngữ (speech and language) là khả năng trẻ hiểu và sử dụng lời nói (ngôn ngữ có lời) và các cử chỉ, điệu bộ (ngôn ngữ không lời).
Cá nhân xã hội (personal social) là kỹ năng trẻ tự phục vụ, tạo dựng quan hệ với người chăm sóc, tương tác với mọi người, đáp ứng cảm xúc và kiểm soát bản thân.
3.2. Các mốc phát triển TT-VD bình thường của trẻ em qua các lứa tuổi
| Lứa tuổi | Vận động thô | Vận động tinh | Ngôn ngữ | Cá nhân – xã hội |
| 0-1 tháng | Chủ yếu là vận động tự phát, không có mục đích, không có trật tự, không phối hợp, xuất hiện đột ngột cả hai bên và các phản xạ tự nhiên như bú mút, nắm, Moro, Root, bước đi tự động. Khi nằm ngửa: đầu gối, khuỷu tay gấp trong. Nằm sấp treo ngang bụng: đầu rũ | Tiếng khóc là ngôn ngữ giao tiếp, có sự khác nhau khi trẻ đói, khó chịu, buồn, cô đơn… cần sự nhạy cảm, đáp ứng yêu cầu nhanh chóng, vuốt ve. | Từ 2-3 tuần tuổi, có thể nhìn theo mẹ, quan sát vật trước mắt. | |
| 2-3 tháng | – Giữ vững cổ.
– Khi nằm sấp có thể ngẩng đầu lên từng lúc.- Cuối tháng thứ 3, có thể nâng đầu cao, duy trì và nâng ngực. |
– Hầu hết các phản xạ mất dần, chuyển thành các vận động có mục đích. Đưa tay vào miệng, nhìn ngắm, mở và nắm bàn tay.
– Nhìn tới đường giữa. |
– Tiếng khóc thể hiện mục đích rõ hơn.
– Phát âm ư, a khi hóng chuyện. |
– Nhìn mặt người, mỉm cười, hóng chuyện.
– Đáp ứng với âm thanh. – Nhìn theo vật sang di động và đồ vật. |
| 4-5 tháng | – Lẫy được từ sấp → ngửa, ngửa → sấp.
– Có thể ngồi khi được đỡ nách. |
– Hướng về với tay theo đồ chơi.
– Đưa mọi thứ vào miệng. |
– Phát âm vài nguyên âm, có thể bắt chước âm thanh. | Thích cười đùa, vui reo thành tiếng.
Nhìn chăm chú các đồ vật có màu sắc. |
| 6-8 tháng | – 6 tháng: Ngồi được nhưng chưa vững, dễ ngã.
– 7-8 tháng: tự ngồi vững vàng. |
– Cầm đồ vật bằng lòng bàn tay.
– Chuyển vật từ tay này sang tay khác, đập đồ vật vào nhau để phát âm thanh. – Đưa tay với lấy đồ vật, cầm bánh cho vào miệng. |
Bập bẹ âm đơn giản, ma, ba (6 tháng), âm đôi ba ba, mam mam, da da… (7-8 tháng). | – Phân biệt lạ quen (ví dụ: phân biệt mẹ và người lạ).
– Biết vẫy chào, hoan hô. |
| 9-11 tháng | – Bò bằng bàn tay, bàn chân.
– Bắt đầu đứng vịn và thích đi men. |
Có thể nhặt vật nhỏ bằng ngón cái và ngón trỏ. | – Nói 2-3 âm tiết như ba ba ba, ma ma, mam mam…
– Bắt chước tiếng kêu con vật. |
– Biết vẫy tay tạm biệt, bắt chước vỗ tay, khoanh tay, cúi đầu chào…
– Biết nhận ra các thuộc tính của đồ vật qua các giác quan. |
| 12 tháng | – Đứng vững, đi men tốt, có thể tự ngồi xuống và đứng lên được, tự bước vài bước. | – Chỉ đồ vật bằng ngón trỏ. | – Nói từ đơn: ba, ba, mẹ.
– Hiểu từ “không”, biết thể hiện một số cử chỉ như lắc đầu, xua tay, gật đầu. |
– Khóc khi cha mẹ rời đi; biết xấu hổ, sợ hãi trước người lạ.
– Biết phối hợp khi mặc quần áo. |
| 13-15 tháng | – Tự đi một mình vài bước nhưng loạng choạng dễ ngã.
– Leo trèo lên các đồ đạc như bàn ghế hoặc đồ vật kích thước lớn. – Tự cúi xuống và ngồi xổm nhặt đồ sau đó tự mình đứng lên không cần trợ giúp. |
– Sử dụng ngón tay dễ dàng hơn (nhặt vật nhỏ, dở trang sách, dùng bút chì tạo nét vẽ trên giấy).
– Ném quả bóng nhỏ về phía trước. – Xếp chồng ba khối hộp hoặc đồ chơi nhỏ lên nhau. |
– Nói từ đơn, khoảng 4-6 từ (ba, bố, mẹ, ăn, xin, đi…).
– Biết lắc đầu khi âm chỉ “không” hoặc gật đầu khi âm chỉ “đồng ý”. – Hiểu và thực hiện mệnh lệnh đơn giản. |
– Biết chơi với búp bê hoặc thú bông.
– Dùng thìa tự xúc ăn (có thể còn rơi vãi). |
| 18-23 tháng | – Trẻ đi vững, chạy một đoạn ngắn, có thể chưa vững.
– Bước lên xuống một vài bậc cầu thang khi bám vịn vào tường hoặc lan can. – Có thể đá quả bóng về phía trước. |
– Biết bật tắt công tắc điện.
– Xếp chồng được sáu khối nhỏ hoặc nhiều đồ chơi lên nhau. – Cầm được thìa và xúc ăn. – Cầm bút nguệch ngoạc. |
– Nói được nhiều từ đơn, bắt chước nói câu hai từ “mẹ về, ba đi, hết rồi…” gọi tên con vật, đồ vật.
– Chỉ bằng ngón trỏ vào đồ vật khi trẻ muốn lấy, chỉ được ít nhất 7 bộ phận trên cơ thể. |
– Biết tự cầm cốc uống nước, tự xúc ăn bằng thìa, có thể còn rơi vãi.
– Biết chơi giả vờ với búp bê hoặc thú bông. – Bắt chước một số hành động đơn giản của người lớn (lau bàn, bỏ đồ chơi vào hộp…). – Quan tâm và chia sẻ đồ chơi với bạn cùng lứa. |
| 2 tuổi | – Chạy vững.
– Có thể bước lên xuống đủ thang khi có người dắt. – Có thể nhảy với 2 chân rời mặt đất cùng lúc. |
– Có thể xếp chồng 6-7 khối màu nhỏ lên nhau.
– Biết xâu hạt cườm, vòng nhỏ vào sợi dây. |
– Nói câu 2-3 từ biểu thị ý tưởng khác nhau (mẹ về rồi, mèo đi rồi…).
– Dùng đại từ nhân xưng để gọi tên mình (con, cháu) nhiều hơn dùng tên. – Biết gọi đi đại tiện, tiểu tiện. – Hiểu và thực hiện mệnh lệnh (đóng cửa lại, nắm tay mẹ…). |
– Xúc ăn không rơi vãi.
– Bắt chước nhiều hành động của người lớn (quét nhà, chải tóc). – Chơi giả vờ, tưởng tượng (nấu ăn, cho búp bê ăn, gọi điện thoại…). – Chia sẻ cảm xúc (khoe, mách, chia sẻ thành công). |
| 3 tuổi | – Chạy nhanh.
– Tự leo cầu thang lần lượt từng chân lên mỗi bậc, nhảy tại chỗ, đứng 1 chân, ném bóng tay cao. – Đi xe ba bánh. |
– Cầm bút vạch được đường thẳng, bắt chước vẽ hình tròn trên giấy.
– Xếp chồng nhiều khối hình, tạo hình đa dạng. |
– Nói câu dài, vốn từ phong phú (ít nhất 250 từ).
– Hiểu đại từ nhân xưng, biết số nhiều của từ, sự sở hữu. – Biết đặt câu hỏi, hát bài hát ngắn, đọc thơ, nhận biết ít nhất 2 màu sắc. |
– Biết tự mặc quần áo, kéo khóa áo.
– Thích chơi chung, biết rủ bạn cùng chơi, hiểu luật chơi luân phiên, biết chờ đợi đến lượt mình. |
| 4-6 tuổi | – Lên xuống cầu thang dễ dàng.
– Trẻ có thể nhảy chụm chân về phía trước, nhảy lò cò 1 chân. – Có thể đi xe 2 bánh. |
– Đôi tay khéo léo (cầm kéo, nặn, vẽ, tô màu theo hình).
– Vẽ hình tròn, hình vuông, chỉ được đường thẳng dài hơn. – Vẽ hình người với ít nhất ba bộ phận. – Xếp tháp chồng cao (7-8 khối). |
– Nói câu dài, thích nghe kể chuyện và bắt chước kể lại, diễn đạt phong phú và biết phân tích, nhận xét sự kiện, hoàn cảnh một cách đơn giản.
– Thích hát múa. – Vốn từ mở rộng, có thể từ 500 – hàng nghìn từ. – Nhớ số, đếm số, nhớ địa chỉ nhà, số điện thoại, biết các thứ trong tuần. – Hiểu ý nghĩa từ (tính từ, giới từ, từ trái nghĩa…). – Nhận biết các màu sắc đa dạng. |
– Tự lấy thức ăn, chuẩn bị bữa ăn.
– Biết tự đánh răng, tự mặc quần áo, rửa tay bằng xà phòng và lau khô tay. – Gọi tên bạn. – Tham gia được các hoạt động có tổ chức, biết tuân thủ quy luật. |
| 6-10 tuổi | – Trẻ đến trường học, thay đổi môi trường, phải thích ứng và rèn luyện thêm những điều kiện mới, chịu tác động của nhiều yếu tố.
– Tập trung chú ý theo tiết học (từ 45 – 50 phút) liên tục, biết kiềm chế các hoạt động cá nhân, hòa nhập bạn bè. – Học và tuân thủ nhiều quy định, nội quy của trường, lớp. – Khả năng hiểu biết, tưởng tượng, sáng tạo tiếp tục phát triển khi trẻ được tiếp nhận khối lượng kiến thức từ nhà trường. |
|||
| 10-18 tuổi | Giai đoạn này cơ thể trẻ trải qua đột biến lớn đó là hiện tượng dậy thì, mào đầu cho tuổi vị thành niên.
– Trẻ có sự biến đổi về thể chất mạnh mẽ do các nội tiết tố sinh trưởng và sinh sản phát triển trong giai đoạn tiền dậy thì và dậy thì. – Dậy thì thực sự khi trẻ gái bắt đầu có kinh nguyệt và trẻ trai bắt đầu xuất tinh. – Về tâm lý trẻ cũng có sự biến đổi lớn. Trẻ có khuynh hướng sống tự lập, tính tự trọng cao, thích tham gia nhóm bạn cùng sở thích, đồng cảm, băn khoăn về những biến đổi cơ thể, có ý thức mạnh về giới tính, cảm xúc nhạy cảm, dễ bị tổn thương… |
|||
Sự phát triển TT – VD phân chia theo lứa tuổi có tính chất tổng quát, không phải chính xác hoàn toàn cho sự phát triển của mỗi trẻ. Một số trẻ có thể phát triển tiến bộ trước lứa tuổi, song sự khác nhau giữa các trẻ không nhiều so với mức phát triển được cho mốc phát triển bình thường như trên.
4. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN TT-VD BÌNH THƯỜNG CỦA TRẺ EM
Có nhiều loại công cụ (thang đo) khác nhau dùng để đánh giá sự phát triển của trẻ em, tùy thuộc vào từng lĩnh vực và lứa tuổi dưới nhiều góc độ.
- Đánh giá phát triển của trẻ < 6 tuổi: test Brunet- Lezine, Denver Developmental Screening Test, Baley Scales of Infant Development, Age and Stages Questionnaires (ASQ).
- Đánh giá phát triển trí tuệ của trẻ ≥ 6 tuổi: Raven, WISC (Wechsler Intelligence Scale for Children).
- Đánh giá trình độ ngôn ngữ: Test Gesell, Brunet- Lezine…
- Đánh giá cảm xúc, hành vi: Bảng liệt kê hành vi trẻ em (CBLC – Children Behavior Check List).
4.1. Test Denver (Denver Developmental Screening Test)
- Được xuất bản lần đầu tiên tại Mỹ năm 1967 (Denver I), được thích ứng và chuẩn hóa để sử dụng rộng rãi trên nhiều quốc gia trên thế giới. Năm 1990, test được bổ sung, hoàn thiện hơn và đổi tên thành test Denver II.
- Mục đích: Đánh giá sự phát triển TT-VD của trẻ em từ 0-6 tuổi, xác nhận và theo dõi quá trình phát triển bình thường, phát hiện sớm các trạng thái chậm phát triển TT-VD ở trẻ nhỏ và các đặc điểm chậm phát triển nếu có.
- Nội dung Denver II: Test gồm 125 item sắp xếp theo trình tự lứa tuổi trẻ có thể thực hiện, chia làm 4 khu vực: Vận động thô, ngôn ngữ, Vận động tinh tế – thích ứng, cá nhân – xã hội.
4.2. Thang đo phát triển cho trẻ nhỏ của Bayley (Bayley Scales of Infant and Toddler Development)
- Được xây dựng bởi Bayley từ năm 1969: Phiên bản đầu tiên (Bayley I) đánh giá phát triển cho trẻ nhỏ (Bayley Scales of Infant Development), phiên bản mới nhất là Bayley III được sửa đổi năm 2006 (Bayley Scales of Infant and Toddler Development) dành cho trẻ từ 1 – 42 tháng.
- Mục đích: đánh giá sự phát triển của trẻ lứa tuổi từ 1 – 42 tháng, cho phép đánh giá và can thiệp sớm chậm phát triển ở trẻ đẻ non, cân nặng thấp, bệnh lý về gen hoặc bẩm sinh… đồng thời theo dõi phát triển theo thời gian, chẩn đoán chậm phát triển, đánh giá trí tuệ và dự đoán khả năng của trẻ nhỏ.
- Nội dung: Thang Bayley I và II đánh giá trên 3 thang đo (tâm thần, vận động và hành vi). Thang Bayley III đánh giá trên 5 thang đo (nhận thức, ngôn ngữ, vận động, cảm xúc – xã hội, hành vi thích ứng).
4.3. Bảng hỏi phát triển theo giai đoạn tuổi (ASQ – Age and Stages Questionnaires)
- ASQ là bảng câu hỏi độ tuổi và giai đoạn phát triển gồm hệ thống các câu hỏi dành cho cha mẹ/người chăm sóc trẻ hoàn thiện, được xuất bản lần thứ nhất năm 1995, đến nay ASQ phiên bản 3 (2009) được sử dụng rộng rãi trên nhiều quốc gia trên thế giới.
- Mục đích: nhằm sàng lọc và theo dõi sự phát triển toàn diện của trẻ từ sơ sinh đến 6 tuổi, trên cơ sở đó phát hiện sớm các nguy cơ chậm phát triển ở trẻ.
- Nội dung: ASQ-3 gồm 21 bộ bảng câu hỏi cho các giai đoạn khác nhau từ 1 tháng đến 6 tuổi, mỗi bảng câu hỏi gồm 30 item chia thành 5 lĩnh vực: giao tiếp, vận động thô, vận động tinh, giải quyết vấn đề và cá nhân – xã hội.
4.4. Thang đo trí tuệ của trẻ em WISC – IV (Wechsler Intelligence Scale for Children, Fourth Edition)
Thang được phát triển bởi David Wechsler, là một bài kiểm tra trí tuệ cá nhân cho trẻ em trong độ tuổi từ 6 đến 16. Phiên bản thứ tư được xây dựng năm 2003, được dùng phổ biến với nhiều ngôn ngữ, trong đó có tiếng Việt. Phiên bản mới nhất hiện nay là phiên bản thứ năm (WISC-V; Wechsler, 2014). WISC-IV thực hiện với thời gian 45-65 phút. Đây là một thang đo khảo sát trí tuệ toàn diện (đưa ra thương số trí tuệ IQ (intelligence quotient) đại diện cho khả năng trí tuệ tổng quát của một đứa trẻ. Thang đo đánh giá 4 chỉ số chính: tư duy lời, tư duy tri giác, trí nhớ và tốc độ xử lý. Các chỉ số này thể hiện khả năng của trẻ trong các lĩnh vực nhận thức.
5. GIỚI THIỆU MỘT SỐ BẤT THƯỜNG VỀ PHÁT TRIỂN THƯỜNG GẶP Ở TRẺ EM
- Chậm phát triển (developmental delay): trẻ chậm ở tất cả các kỹ năng hoặc cụ thể một hoặc vài khu vực kỹ năng liên quan đến vấn đề phát triển trong độ tuổi từ 0-5 tuổi.
- Phát triển vận động bất thường (abnormal motor development): thể hiện qua sự chậm trễ trong việc đạt được các kỹ năng vận động như kiểm soát đầu, lẫy, ngồi, đứng, đi lại hoặc vấn đề trong việc giữ thăng bằng, sử dụng đôi tay. Những vấn đề này thường xuất hiện trong giai đoạn từ 3 tháng đến 2 tuổi khi những tiến bộ về vận động thô là nhanh chóng nhất. Nguyên nhân thường gặp nhất: thiếu hụt vận động trung ương (bại não); bệnh lý cơ bẩm sinh hoặc tiên phát; tổn thương dây cột sống; chậm phát triển toàn bộ ở các hội chứng không rõ nguyên nhân.
- Phát triển ngôn ngữ bất thường (Abnormal speech and language development) bao gồm những rối loạn trong hiểu ngôn ngữ, diễn đạt ngôn ngữ (không có khả năng hoặc khó khăn trong việc biểu đạt điều gì đó), diễn đạt lộn xộn, thiếu hụt kỹ năng giao tiếp và tương tác xã hội. Nguyên nhân có thể liên quan đến giảm/mất sức nghe, chậm phát triển toàn bộ không rõ nguyên nhân, bất thường về giải phẫu (hở hàm ếch), thiếu môi trường và cơ hội tương tác.
- Rối loạn phổ tự kỷ (Autistic spectrum disorders): là một khuyết tật về phát triển ở các mức độ khác nhau, biểu hiện đặc trưng bằng sự thiếu hụt về tương tác xã hội, giao tiếp, ngôn ngữ và hành vi rập khuôn, định hình, sở thích thu hẹp.
- Khó khăn về học (Learning difficulty): thường gặp ở trẻ tuổi đi học. Nguyên nhân có thể liên quan đến vấn đề chậm nhận thức, giảm chú ý, tăng hoạt động, thiếu những kỹ năng liên quan đến tích hợp cảm giác như sự thích ứng, sự cân bằng, trầm cảm, lo âu, rối loạn hành vi.
Cập nhật thông tin mới nhất về kiến thức y học và test y học tại facebook TEST Y HỌC
Tham gia nhóm zalo: Tài Liệu Y Học Tổng Hợp
Ôn thi nội trú, sau đại học TẠI ĐÂY
