Bài 52
ĐẶC ĐIỂM DA, CƠ, XƯƠNG Ở TRẺ EM
1. DA VÀ TỔ CHỨC TẾ BÀO DƯỚI DA
Những đặc điểm về hình thái học, hóa học, sinh lý học về da ở trẻ em rất khác người lớn, do đó đánh giá đúng tình trạng da của trẻ em sẽ có giá trị lớn trong công tác chẩn đoán và điều trị. Trong khi quan sát trẻ em, cần chú ý tới màu sắc, độ khô, các mao mạch dưới da, số lượng lông tơ, độ chun giãn, độ ẩm, độ khô, nhiệt độ của da,… vì những đặc tính đó có tác dụng trong việc đánh giá chức năng của các tuyến nội tiết và hệ thống thần kinh thực vật.
1.1. Đặc điểm cấu tạo da của trẻ em
1.1.1. Da
– Da của trẻ em thường mềm mại, có nhiều mao mạch, sợi cơ và sợi đàn hồi phát triển yếu, tuyến mỡ phát triển tốt ngay từ khi sơ sinh. Tuyến mồ hôi trong 3–4 tháng đầu đã phát triển nhưng chưa hoạt động vì trung tâm thần kinh chưa được kiện toàn. Khả năng điều hòa nhiệt chưa được hoàn chỉnh, do đó trẻ em dễ bị lạnh quá hoặc nóng quá. Da trẻ rất dễ bị tổn thương (loét, mưng mủ,…) vì miễn dịch tại chỗ còn yếu nên dễ dẫn tới nhiễm trùng huyết do nhiễm trùng qua da.
– Đặc biệt da của trẻ sơ sinh có nhiều nước, mỏng xốp, sờ vào mịn như nhung. Ngay từ khi mới đẻ, trên da có một lớp mỡ màu xám trắng hoặc đôi khi có màu vàng nhạt gọi là chất gây (vernix caseosa). Lớp mỡ này có thể nhiều ít tùy theo từng trẻ.
– Chất gây gồm có mỡ và lớp thượng bì bong ra. Trong chất gây có từ 47–75% mỡ hòa tan trong ether và nhiều cholesterol. Trước kia người ta thường đem rửa sạch lớp chất gây này đi, nhưng hiện nay chỉ nên lau bằng bông ướt các kẽ hay chỗ da dính chất nhầy và máu sau khi đẻ mà thôi, vì lớp chất gây này có tác dụng:
- Bảo vệ da khỏi bị chấn thương.
- Làm da mất nhiệt của cơ thể.
- Có tính chất miễn dịch.
- Là sản phẩm dinh dưỡng của da.
Tuy nhiên, sau 48 giờ cần lau sạch những chất gây này đi, nếu không sẽ gây hăm do các kẽ da.
– Ở trẻ sơ sinh trong những ngày đầu xuất hiện những hiện tượng sinh lý ở da như: đỏ da sinh lý, vàng da sinh lý.
- Đỏ da sinh lý: Sau khi lau sạch lớp mỡ trên mặt da, da ở dưới hơi phù nề, nhợt nhạt rồi trở nên đỏ hồng, có phù tím nhẹ. Đó là hiện tượng đỏ da sinh lý. Cường độ đỏ da rất khác nhau, người ta thấy ở những trẻ da mềm mại như nhung thì đỏ da biểu hiện mạnh hơn là những trẻ có da khô. Ở trẻ đẻ non, hiện tượng đỏ da sinh lý biểu hiện rất rõ, biểu hiện mạnh nhất là ngày 1–2 sau khi đẻ, sau đó da dần dần trở nên trắng và bong vảy đồng thời với hiện tượng vàng da sinh lý.
- Vàng da sinh lý: 85–90% trẻ sơ sinh có hiện tượng vàng da sinh lý. Vàng da xuất hiện vào ngày thứ 2–5 sau khi đẻ và kéo dài đến ngày thứ 7–8 thì hết, có khi kéo dài 3–4 tuần (thường gặp ở trẻ đẻ non).
1.1.2. Lớp mỡ dưới da
- Lớp mỡ dưới da có từ khi thai bắt đầu được 7–8 tháng, do đó trẻ đẻ non lớp mỡ dưới da phát triển yếu. Nếu trẻ sơ sinh đủ tháng thì lớp mỡ này đã phát triển tốt ngay từ khi đẻ. Trong 6 tháng đầu lớp mỡ phát triển mạnh nhất ở mặt và ít hơn ở bụng. Bề dày của lớp mỡ dưới da ở trẻ 3 tháng ở em trai 6–7 mm, 1 năm 10–12 mm, 7–10 tuổi 7 mm, 11–16 tuổi 8 mm; ở em gái 12 tuổi: 12 mm, 14 tuổi: 15 mm.
- Về thành phần hóa học: lớp mỡ dưới da của trẻ em gồm nhiều acid béo no (acid palmitic và acid stearic), ít acid béo không no (acid oleic) hơn người lớn. Độ nóng chảy ở lớp mỡ dưới da của trẻ em 43°C lớn hơn so với người lớn (17,5°C), do đó về mùa rét trẻ dễ bị cứng bì (và phù cứng bì), trẻ đẻ non càng dễ bị hơn.
Bảng 9.1. Thành phần của lớp mỡ dưới da ở trẻ em và người lớn tính theo phần trăm
| Acid béo | Trẻ sơ sinh | Người lớn |
| Acid oleic | 68 | 90 |
| Acid palmitic | 29 | 8 |
| Acid stearic | 3 | 2 |
| Độ nóng chảy | 43°C | 17,5°C |
Cần phải chú ý đến thành phần hóa học của lớp mỡ dưới da ở trẻ em. Trong khi điều trị, tránh tiêm một số thuốc hòa tan trong dầu như dầu long não thường làm da trẻ bị cứng lại và chất dầu lâu tan dễ đưa tới áp xe.
1.1.3. Lông và tóc
- Lông tơ: Trên da của trẻ em còn có lông tơ, thường thấy nhiều ở vai và lưng, đặc biệt lông tơ nhiều ở trẻ đẻ non.
- Lông tơ ở ngực, chân và vai thường gặp ở trẻ em trong những tháng đầu, những trẻ em dinh dưỡng kém thì lông tơ mọc nhiều hơn và hầu như không thấy có lông tơ ở trẻ em được nuôi dưỡng tốt.
- Đến tuổi dậy thì lông mọc ở hõm nách và bộ sinh dục, ở em trai có thể xuất hiện thêm râu mép và cằm. Trong trường hợp rối loạn nội tiết thì lông có thể phát triển yếu hay mạnh và ở những vị trí không bình thường.
- Tóc: Tóc của trẻ em có thể rậm, thưa, đen hoặc hơi vàng. Tóc của trẻ nhỏ thường rất mềm mại vì chưa có lõi tóc ở trong như người lớn.
Tóm lại những đặc điểm về cấu tạo da ở trẻ em sẽ kéo dài trong năm đầu và mất dần khi đứa trẻ lớn lên.
1.2. Đặc điểm sinh lý của da
- Bề mặt da của trẻ em so với trọng lượng cơ thể cao hơn người lớn và tính theo công thức:

- Diện tích da ở người lớn trung bình là 1,73 m². Do đó, sự thải nước theo đường da ở trẻ em sẽ lớn hơn người lớn.
1.2.1. Chức năng bảo vệ
Da bảo vệ các lớp tổ chức sâu bên trong chống lại với các tác dụng cơ học, hóa học bên ngoài, chức năng này ở trẻ nhỏ rất yếu so với người lớn. Do đó, da trẻ em dễ bị tổn thương và nhiễm trùng.
1.2.2. Chức năng hô hấp và bài tiết
Ở trẻ nhỏ, sự hô hấp ở ngoài da biểu hiện rất mạnh so với người lớn, còn về bài tiết của da ở trẻ nhỏ trong những tháng đầu tuyến mồ hôi chưa làm việc nên da có tác dụng bài tiết mồ hôi.
1.2.3. Chức năng điều hòa nhiệt
Chức năng này ở trẻ em trong những tháng đầu chưa được hoàn thiện, do đó trẻ dễ bị nóng quá hay lạnh quá. Chức năng điều hòa nhiệt được hoàn thiện là do da của trẻ em mỏng và mềm mại, có nhiều mạch máu, tuyến mồ hôi chưa hoạt động, hệ thống thần kinh chưa hoàn thiện.
1.2.4. Chức năng chuyển hóa vật chất
Ngoài phần chuyển hóa hơi nước, da còn cấu tạo nên các men, các chất miễn dịch và vitamin D. Vitamin D được cấu tạo ở da dưới ảnh hưởng của tia cực tím, do đó cần phải cho trẻ em được tắm ánh nắng mặt trời để tránh còi xương.
Tóm lại, vai trò sinh lý của da rất quan trọng, cần phải bảo vệ, chăm sóc da cho trẻ em ngay từ khi mới lọt lòng.
2. HỆ CƠ
Hệ cơ cùng với hệ xương đảm bảo các hoạt động của cơ thể, sự vận động của các cơ có liên quan với sự hoạt động của vỏ não. Những cử động, những sự rèn luyện thân thể, công tác lao động chân tay không những có tác dụng làm phát triển các cơ mà còn tác dụng làm tăng thêm sự hoạt động tinh thần.
2.1. Đặc điểm cấu tạo cơ của trẻ em
Hệ cơ của trẻ em phát triển yếu. Tỷ lệ về cân nặng của hệ cơ so với cân nặng của cơ thể ở người lớn là 42%, trẻ sơ sinh 23%. Cơ trẻ em màu nhạt và mỏng hơn cơ người lớn.
2.1.1. Về tổ chức học
Bề dày của sợi cơ nhỏ bằng 1/5 sợi cơ của người lớn, tổ chức kẽ phát triển nhiều và nhanh, tế bào cơ có nhiều nhân.
2.1.2. Về thành phần hóa học
Cơ trẻ em có nhiều nước, ít chất đạm, mỡ và các muối vô cơ. Đến 15–18 tuổi thì số lượng nước ở trong các cơ mới giảm đi, các cơ trở nên chắc hơn, các chất đạm, mỡ, muối vô cơ nhiều hơn.
Do cơ của trẻ em có nhiều nước nên khi bị tiêu chảy thì dễ bị mất nước nặng và sụt cân nhanh.
Bảng 9.2. Tỷ lệ các chất của cơ theo lứa tuổi (%)
| Các chất | Trẻ sơ sinh | Trẻ 3 tháng | Trẻ 2 tuổi |
| Nước | 81,65 | 79,22 | 77,21 |
| Các chất khô | 18,35 | 20,88 | 22,79 |
2.2. Đặc điểm về sự phát triển của các cơ
- Cơ trẻ em phát triển không đều nhau trong mọi lứa tuổi. Các cơ lớn (cơ đùi, cơ vai, cơ cánh tay trước) phát triển trước, các cơ nhỏ (cơ lòng bàn tay…) sau này mới phát triển. Do đó, trẻ em dưới 6 tuổi chưa làm được những động tác tỉ mỉ cần sử dụng đến những ngón tay.
- Từ 6–7 tuổi, trẻ có thể làm được những công việc như múc nước, tưới rau, đan lát,… Ở tuổi này ta có thể dạy cho trẻ tập viết dần. Nhưng không nên cho viết nhiều quá, ngón tay dễ bị mỏi vì các cơ này chưa hoàn toàn trưởng thành. Những năm sau các cơ của trẻ em phát triển mạnh lên dần và đặc biệt phát triển mạnh nhất ở cuối thời kỳ dậy thì, lúc đó không những phát triển các cơ tay mà còn phát triển các cơ lưng, cơ hông và cơ chân.
- Trên 15 tuổi, các cơ nhỏ phát triển mạnh, trẻ làm được đầy đủ mọi công việc và khéo léo hơn.
2.3. Đặc điểm sinh lý của cơ
2.3.1. Cơ lực
- Chúng ta có thể xác định lực kéo ở cơ trẻ em bằng cách cho nâng cao các vật có trọng lượng nặng nhẹ hay bằng lực kế.
Bảng 9.3. Lực kéo của cơ trẻ em tính theo kg
| Tuổi | Cân nặng mà trẻ có thể mang |
| 5 tuổi | 2,1 |
| 6 tuổi | 2,4 |
| 7 tuổi | 2,9 |
| 8 tuổi | 3,5 |
| 12 tuổi | 5,2 |
| 16 tuổi | 9,3 |
| Người lớn | 15,3 |
- Lực cơ ở tay phải mạnh hơn tay trái, con trai mạnh hơn con gái. Do lực cơ trẻ em kém hơn nhiều so với người lớn cho nên không được cho trẻ luyện tập cơ thể, lao động chân tay quá nhiều và không nên cho trẻ nâng các vật nặng quá mức quy định ở trên.
- Khi các cơ phải làm việc quá nặng, nhất là kéo dài trong một thời gian dài thì sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển của cơ thể. Nếu các cơ ngón tay phải làm việc quá nhiều trong khi viết, đan, khâu, đánh đàn piano thì có thể gây ra bệnh chuột rút ngón tay.
2.3.2. Trương lực cơ
Ở trẻ em, trong những tháng đầu cơ có tính chất đặc hiệu là tăng trương lực cơ sinh lý, cho nên trẻ thường co cơ chân và tay. Tăng trương lực cơ chi trên đến 2–2,5 tháng thì hết, còn chi dưới thì chậm hơn, phải 3–4 tháng mới hết.
2.3.3. Điện cơ
Những nghiên cứu của Minkowski chứng tỏ rằng, các cơ bào thai 3 tháng có thể bị kích thích bởi dòng điện galvanic và faradic. Tính chịu kích thích bằng điện của hệ thần kinh cơ ở trẻ em trong những tuần đầu mới sinh kém hơn ở trẻ em lớn tuổi và người lớn.
- Ngưỡng (seuil): đó là cường độ tối thiểu gây nên kích thích của cơ khi có dòng điện một chiều. Cường độ này biểu hiện trong những điện thế gọi là cường độ cơ sở (rheobase).
- Thời trị (chronaxie): đó là thời gian tối thiểu cần thiết để cho dòng điện có cường độ bằng 2 rheobases gây nên kích thích. Thời gian tối thiểu này biểu hiện bằng 1/1.000 giây.
Các chỉ số tuyệt đối và trung bình của thời trị ở trẻ em cao hơn nhiều so với người lớn, ở trẻ em khoảng 10 tuổi cũng gần như ở người lớn.
Bảng 9.4. Chỉ số trung bình của thời trị
| Tuổi | Cường độ cơ sở | Thời trị |
| 1 tháng | 44 | 0,60 |
| 1 đến 2 tháng | 41,4 | 0,56 |
| 2 đến 3 tháng | 45 | 0,46 |
| 11 đến 12 tháng | 31 | 0,27 |
| 1 tuổi đến 1 tuổi rưỡi | 32 | 0,24 |
| 2 tuổi 3 tháng đến 2 tuổi 6 tháng | 31 | 0,20 |
| 3 tuổi đến 3 tuổi 6 tháng | 31 | 0,16 |
| 4 tuổi 6 tháng đến 5 tuổi | 31 | 0,2 |
3. HỆ XƯƠNG
Xương là chỗ dựa của toàn bộ cơ thể, một số xương làm nhiệm vụ bảo vệ các bộ phận quan trọng như: não, tim, phổi,…
Hệ xương phối hợp với hệ cơ làm cơ thể vận động được.
3.1. Đặc điểm cấu tạo của hệ xương
Xương của thai nhi hầu hết là tổ chức sụn. Quá trình tạo thành xương dần dần phát triển và kết thúc lúc 20–25 tuổi.
3.1.1. Hình thể
Xương trẻ em khác xương người lớn. Ở trẻ sơ sinh:
- Đầu to.
- Thân dài.
- Chân tay ngắn.
- Xương sống hầu như thành một đường thẳng.
- Lồng ngực tròn, mềm và dễ biến dạng.
3.1.2. Thành phần hóa học
Xương trẻ sơ sinh có rất nhiều nước và ít muối khoáng, khi trẻ lớn lên thì số lượng nước sẽ giảm xuống và số lượng muối khoáng tăng lên. Theo Gundobin, trẻ em đến 12 tuổi thành phần cấu tạo xương gần giống người lớn.
Bảng 9.5. Thành phần hóa học của xương trẻ em (%) (Theo Brabakhe)
| Thành phần | Thai nhi | Trẻ 4 tuổi |
| Nước | 69,11 | 45,29 |
| Muối | 13,2 | 21,59 |
Do đặc điểm trên nên xương của trẻ em mềm, ít gãy và chun giãn hơn nhiều so với người lớn.
3.1.3. Tổ chức học
Xương của trẻ sơ sinh được tạo bằng những tổ chức xơ thành hình mạng lưới, các lá xương ít và phân phối không đều. Ống Havers to và có nhiều huyết quản, quá trình tạo cốt và hủy cốt tiến triển nhanh cho nên trẻ em bị gãy xương thì chóng liền. Màng ngoài xương của trẻ còn dày và phát triển mạnh hơn người lớn do đó trẻ hay bị gãy xương theo kiểu cành tươi.
3.1.4. Điểm cốt hóa
- Điểm cốt hóa thường ở giữa các đầu xương và xuất hiện theo từng thời kỳ. Người ta có thể dựa vào điểm cốt hóa của trẻ em để xác định lứa tuổi.
Ví dụ: trẻ 3–6 tháng xuất hiện điểm cốt hóa ở xương cả và xương móc, đến 3 tuổi xương tháp, 4–6 tuổi xương bán nguyệt và xương thang, 5–7 tuổi xương thuyền, 10–13 tuổi xương đậu.
- Thời gian trung bình và thời gian giới hạn xuất hiện các điểm cốt hóa (Bảng 9.6 và 9.7).
Bảng 9.6. Cốt hóa chi trên
| Khớp | Điểm cốt hóa | Giới hạn trung bình dưới | Trung bình | Giới hạn trung bình trên |
| Vai | Đầu xương cánh tay
Mấu động to Nối 2 điểm |
Khi mới đẻ
6 tháng
|
3 tháng
1 tuổi 5 tuổi |
9 tháng
2 tuổi
|
| Khuỷu tay | Điểm lồi cầu
Đầu xương quay Mỏm trên ròng rọc Ròng rọc Mỏm khuỷu (điểm thứ 1) Mỏm trên lồi cầu |
4 tháng
4 tuổi 4 tuổi 1/2 8 tuổi 1/2 7 tuổi 1/2 11 tuổi
|
1 tuổi 1/2
5 tuổi 1/2 6 tuổi 8 tuổi 1/2 9 tuổi 12 tuổi
|
2 tuổi 1/2
7 tuổi 1/2 8 tuổi 11 tuổi 11 tuổi 1/2 14 tuổi
|
| Cổ tay và bàn tay | Xương cả | 1 tháng | 6 tháng | 1 tuổi |
| Xương móc | 1 tháng | 6 tháng | 1 tuổi | |
| Điểm quay dưới | 6 tháng | 1 tuổi 1/2 | 2 tuổi 1/2 | |
| Xương tháp | 1 tuổi | 2 tuổi 1/2 | 4 tuổi 1/2 | |
| Xương bán nguyệt | 2 tuổi | 4 tuổi | 5 tuổi 1/2 | |
| Xương thuyền | 4 tuổi | 5 tuổi 1/2 | 7 tuổi 1/2 | |
| Xương thang | 4 tuổi | 5 tuổi | 7 tuổi 1/2 | |
| Xương thê | 4 tuổi 1/2 | 6 tuổi | 8 tuổi | |
| Xương đậu | 9 tuổi | 10 tuổi 1/2 | 12 tuổi 1/2 | |
| Điểm hợp dưới | 5 tuổi | 7 tuổi | 8 tuổi 1/2 | |
| Đầu các đốt xương bàn tay:
I II III IV V |
1 tuổi ½ 1 tuổi 1 tuổi 1 tuổi 1 tuổi |
3 tuổi 2 tuổi 2 tuổi 2 tuổi 2 tuổi |
4 tuổi 3 tuổi 3 tuổi 3 tuổi 3 tuổi |
Bảng 9.7. Cốt hóa chi dưới
| Khớp | Điểm cốt hóa | Giới hạn trung bình dưới | Trung bình | Giới hạn trung bình trên |
| Háng | Đầu xương đùi | 1 tháng | 6 tháng | 1 tuổi |
| Mấu chuyển lớn | 2 tháng | 3 tuổi 1/2 | 9 tuổi | |
| Liên ngành xương ngồi – mu | 7 tuổi | |||
| Mấu chuyển nhỏ | 8 tuổi | 9 tuổi 1/2 | 12 tuổi 1/2 | |
| Đầu gối | Điểm xương đùi dưới | Khi mới đẻ | Khi mới đẻ | 3 tháng |
| Điểm xương chày trên | Khi mới đẻ | 1 tháng | 6 tháng | |
| Đầu xương mác | 3 tuổi | 4 tuổi 1/2 | 6 tuổi | |
| Xương bánh chè | 3 tuổi | 4 tuổi 1/2 | 6 tuổi | |
| Củ trước xương chày | 11 tuổi (giới hạn trên) | 11 tuổi (giới hạn trên) | ||
| Bàn chân | Xương gót | Khi mới đẻ | Khi mới đẻ | Khi mới đẻ |
| Xương sên | Khi mới đẻ | Khi mới đẻ | Khi mới đẻ | |
| Xương hộp | Khi mới đẻ | 1 tháng 1/2 | 6 tháng | |
| Đầu dưới xương chày | 6 tháng | 1 tuổi | 2 tuổi 1/2 | |
| Xương chêm thứ III | 6 tháng | 1 tuổi | 2 tuổi 1/2 | |
| Đầu dưới xương mác | 6 tháng | 1 tuổi 1/2 | 2 tuổi 1/2 | |
| Xương chêm thứ I | 1 tuổi | 2 tuổi 1/2 | 4 tuổi | |
| Xương chêm thứ II | 1 tuổi 1/2 | 3 tuổi | 4 tuổi | |
| Xương ghe | 1 tuổi 1/2 | 3 tuổi | 4 tuổi | |
| Đầu các đốt xương bàn chân | 1 tuổi 1/2 | 3 tuổi | 4 tuổi | |
| Điểm phụ xương gót | 7 tuổi | 9 tuổi | 11 tuổi 1/2 |
3.2. Đặc điểm riêng của các xương
3.2.1. Xương sọ
- Xương sọ của trẻ em có đặc điểm là phần đầu dài hơn phần mặt.
- Trẻ từ khi đẻ ra đã có 2 thóp: thóp trước và thóp sau. Thóp trước là thóp lớn, bắt đầu kín khi trẻ được 12 tháng, muộn nhất là 18 tháng. Thóp sau là thóp nhỏ, kín trong khoảng 3 tháng sau đẻ. Kích thước của thóp trước lớn khi mới đẻ có thể dao động trong một giới hạn rộng từ 1,8 × 2 đến 3 × 2,8 cm.
Cách đo thóp: phải đo từ điểm giữa của một cạnh đến điểm giữa của cạnh đối diện.
- Nhờ có thóp nên xương sọ mới phát triển được. Bệnh còi xương làm thóp chậm kín và trong bệnh đầu nhỏ thì thóp kín sớm, biểu hiện sự ngừng phát triển của xương và não bộ.
- Ở mặt trước của xương sọ: hàm trên và hàm dưới hình thành từ khi mới sinh. Xoang trán gần 3 tuổi mới có, xoang sàng ở trẻ sơ sinh hay còn nhỏ và sau này mới phát triển. Do đó, trẻ dưới 3 tuổi không có viêm xoang trán.

Hình 9.1. Sọ của trẻ sơ sinh và người lớn về cùng một tỷ lệ xích
3.2.2. Xương sống
Xương sống của trẻ sơ sinh có nhiều sụn và lúc đầu rất thẳng.
- Lúc ngẩng đầu (1 tháng rưỡi đến 2 tháng), trục sống lưng quay về phía trước.
- Lúc 6 tháng, trẻ biết ngồi thì cột sống cong về phía sau.
- Lúc 1 năm, khi trẻ biết đi, cột sống vùng lưng cong về phía trước.
- Đến 7 tuổi thì xương sống có 2 đoạn uốn cong vĩnh viễn ở cổ và ở ngực, và đến tuổi dậy thì cong ở vùng thắt lưng.
Do cột sống có nhiều sụn và sự uốn cong của cột sống chưa được chắc nên dễ biến dạng. Nếu cho trẻ ngồi sớm, bế nách và ngồi học không đúng tư thế thì dễ bị gù, vẹo người,…

Hình 9.2. Cột sống người lớn và cột sống của thai nhi
3.2.3. Xương chậu
Dưới 6–7 tuổi, xương chậu giữa em trai và em gái chưa thấy có những biểu hiện khác nhau. Xương chậu gồm có 2 xương cánh chậu, xương cùng và xương cụt. Ba loại xương này dính liền nhau lúc trẻ 7 tuổi và kết thúc quá trình đó lúc 20–21 tuổi.
Do đó ta cần phải chú ý lúc tập thể dục đối với em gái phải thận trọng hơn, bởi vì cơ quan sinh dục nằm trong khung chậu. Không nên cho trẻ nhảy từ trên cao xuống, ảnh hưởng đến sự dính các khớp xương và sau này sẽ gây nhiều khó khăn trong lúc đẻ.
3.2.4. Tứ chi
Tứ chi trẻ sơ sinh lúc đầu có hiện tượng cong sinh lý, sau 1 tháng thì hết. Ở những trẻ em phát triển bình thường thì các xương ở tứ chi không bao giờ bị cong quá, khi trẻ bị còi xương, viêm khớp, giả tê liệt giang mai (Parrot) thì tứ chi có thể cong.
Cổ tay hình thành đầy đủ lúc 7 tuổi, nhưng 10–13 tuổi mới thành xương. Do đó không được đè nặng lên ngón tay, không nên lao động nặng nhọc.
3.2.5. Lồng ngực

Hình 9.3. Lồng ngực trẻ sơ sinh

Hình 9.4. Lồng ngực người lớn
Ở trẻ nhỏ nhất là trẻ em 1 tuổi, đường kính trước sau của lồng ngực bằng đường kính ngang. Càng lớn lồng ngực càng dẹt và dần dần giống lồng ngực của người lớn. Ở chỗ tiếp giáp xương sườn nằm theo chiều ngang. Trẻ càng lớn, chỗ xương sườn gắn liền vào xương ức, phía trước hạ thấp xuống, và đến tuổi đi học thì xương sườn nằm theo chiều dốc nghiêng.
Do kiến trúc của lồng ngực nên trẻ em nhỏ tuổi thở khó, lúc thở chỉ có cơ hoành di động, xương sườn ít di động.
3.2.6. Răng
- Trẻ sơ sinh chưa có răng. Trẻ khỏe mạnh bắt đầu mọc răng vào tháng thứ sáu. Một năm được 8 cái, đến 2 tuổi hết thời kỳ mọc răng sữa (số răng sữa là 20 răng).
- Có thể tính số răng theo công thức: Số răng = Số tháng – 4.
- Từ 5–7 tuổi mọc răng hàm, còn những năm sau thay răng sữa bằng răng vĩnh viễn (tổng số 32 chiếc).
- Trẻ bị còi xương thường mọc răng chậm.
Bảng 9.8. Thời gian mọc răng sữa và răng vĩnh viễn
| Răng | Răng cửa giữa | Răng cửa trên | Răng nanh | Răng hàm nhỏ thứ nhất | Răng hàm nhỏ thứ hai | Răng hàm lớn thứ nhất | Răng hàm lớn thứ hai | Răng khôn | |
| Sữa | Hàm dưới | 6-8 tháng | 10-12 tháng | 18-20 tháng | 13-15 tháng | 22-24 tháng | |||
| Hàm trên | 8-9 tháng | 9-11 tháng | 17-19 tháng | 12-14 tháng | 21-23 tháng | ||||
| Vĩnh viễn | Hàm dưới | 5½-8 tuổi | 9-12½ tuổi | 9½-15 tuổi | 9-12½ tuổi | 9½-15 tuổi | 5-7½ tuổi | 10-14 tuổi | 18-25 tuổi |
| Hàm trên | 6-10 tuổi | 8½-14 tuổi | 9-14 tuổi | 10-14 tuổi | 9-14 tuổi | 5-8 tuổi | 10-14½ tuổi | 18-25 tuổi | |
Cần phải chú ý đến răng của trẻ trong giai đoạn thay răng vì nếu răng sữa bị sâu sẽ không rụng được và làm cho răng vĩnh viễn mọc lên, răng của trẻ sẽ mọc lộn xộn, không đều.
Cập nhật thông tin mới nhất về kiến thức y học và test y học tại facebook TEST Y HỌC
Tham gia nhóm zalo: Tài Liệu Y Học Tổng Hợp
Ôn thi nội trú, sau đại học TẠI ĐÂY
