Bài 33
HỆ TIẾT NIỆU TRẺ EM: GIẢI PHẪU VÀ SINH LÝ
1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH HỆ TIẾT NIỆU PHÔI THAI
Thận và niệu quản phát sinh từ 2 dải trung bì trung gian gọi là dải sinh thận, nằm dọc mỗi bên từ vùng đầu đến vùng dưới phôi và xen vào giữa các khúc nguyên thủy và trung bì bên. Mỗi dải sinh thận, dọc theo chiều dài và theo hướng đầu – dưới, theo thứ tự thời gian sẽ lần lượt biệt hóa thành 3 cơ quan khác nhau: tiền thận, trung thận và hậu thận. Trong đó, tiền thận được hình thành từ tuần thứ 3 của thai kỳ và biến mất hoàn toàn vào tuần thứ 4. Trung thận bắt đầu phát sinh từ tuần thứ 4 nhưng cũng như tiền thận trung thận chỉ là cơ quan tạm thời và cũng tồn tại đến tuần thứ 8. Hậu thận mới là thận vĩnh viễn được hình thành từ khoảng tuần thứ 5 của thai kỳ. Đoạn dưới của dải sinh thận không chia đốt được gọi là mầm sinh hậu thận, từ đó sẽ hình thành nên tiểu cầu thận, ống lượn gần, quai Henle, ống lượn xa.
Ở cuối tuần thứ 4, tại thành sau của ống trung thận dọc, gần nơi mà vào ổ nhập này ra một cái túi thừa gọi là mầm niệu quản. Mầm này phát triển về phía mầm sinh hậu thận và sẽ sinh ra niệu quản, bể thận, đài thận, ống góp.
Mầm niệu quản tiến dần lên và mầm sinh hậu thận tiến dần xuống, chúng gặp nhau vào tuần thứ 8 (cuối tháng thứ 2) của thai kỳ. Nếu vì một lý do nào đó do bất thường trong sự dịch chuyển sẽ tạo ra thận lạc chỗ hoặc thận hình móng ngựa…
Từ tuần thứ 5 từ trung thận sinh ra mầm niệu quản và ống Wolf, đến tuần thứ 6 hai ống này chia tách biệt thành hai và đến tuần thứ 9 thì mang 6 nhập mà ra. Nếu bất thường mầm niệu quản có thể xuất hiện bất thường như thận niệu quản đôi. Nếu sai sót về vị trí cắm của niệu quản gây ra niệu quản cắm lạc chỗ.
1.1. Sự hình thành bể thận, đài thận, ống góp
Mầm niệu quản tiến vào mầm sinh hậu thận, đoạn xa của nó phình ra thành bể thận, còn đoạn gần vẫn hẹp và dài ra tạo thành niệu quản mà giai đoạn đầu mở vào ổ nhớp. Trong quá trình phát triển, đầu xa niệu quản phân nhánh tỏa ra như nan hoa từ trung tâm ra ngoại vi của mầm sinh hậu thận. Những nhánh cấp 1 nở to và trở thành đài thận lớn. Những nhánh từ cấp 2 đến cấp 4 hợp lại tạo ra đài thận nhỏ. Những ống còn lại (từ cấp 5 đến 22) sẽ trở thành ống góp.

Hình 6.1. Quá trình phát triển bể thận, đài thận, ống góp
1.2. Sự hình thành tiểu cầu thận và ống thận
Ống góp tương lai chia nhánh nhiều lần, mầm sinh hậu thận cũng tăng sinh theo sự phát triển của ống góp. Mỗi ống được phủ ở đầu xa bởi những đám tế bào trung mô hậu thận hình mũ gọi là mũ hậu thận. Đám tế bào trung mô trong mỗi mũ hậu thận biệt hóa tạo thành một cái túi gọi là túi hậu thận. Túi này dài ra thành những ống gọi là ống hậu thận có một đầu kín, còn đầu kia thông với ống góp. Mỗi ống hậu thận sẽ tạo thành một nephron.
Đầu kín của ống hậu thận lõm vào tạo thành một cái bao gồm 2 lá sẽ trở thành bao Bowman. Bên trong bao, sự xâm nhập của mạch máu tạo thành một cuộn mao mạch. Bao Bowman và cuộn mao mạch nằm bên trong tạo thành tiểu cầu thận. Đoạn còn lại của ống hậu thận dài ra, đoạn gần tiểu cầu thận phình to, cong queo tạo thành ống lượn gần, đoạn giữa uốn cong hình chữ U hình thành quai Henle, còn đoạn cuối thông với ống góp, vẫn nằm gần tiểu cầu thận dài ra, cong queo tạo ra ống lượn xa.
1.3. Sự hình thành bàng quang, niệu đạo
Vách niệu – trực tràng ngăn ổ nhập thành 2 phần: phần bụng là xoang niệu – sinh dục và phần lưng là hậu môn – trực tràng. Xoang niệu – sinh dục chia thành 3 đoạn: đoạn bàng quang – niệu đạo, đoạn chậu, đoạn đường vật (đoạn sinh dục) (ở nam). Ở nữ, từ tuần thứ 8: xoang niệu sinh dục, ống Wolf và ống Muller chưa mở vào xoang niệu sinh dục. Đoạn bàng quang – niệu đạo sẽ tạo ra bàng quang, niệu đạo và các tuyến niệu đạo. Đoạn chậu và đoạn đường vật phát triển khác nhau tùy theo giới tính của phôi và sẽ được trình bày trong phần hệ sinh dục. Đoạn bàng quang – niệu đạo của xoang niệu sinh dục thông với niệu nang ở phía bụng và với ống trung thận dọc ở phía lưng. Ống trung thận dọc và niệu quản mở riêng rẽ vào đoạn bàng quang – niệu đạo. Lỗ niệu quản dịch chuyển về phía đầu phôi và mở vào đoạn trên của ống bàng quang – niệu đạo, đoạn này là nguồn gốc của bàng quang sau này. Còn ống trung thận dọc di chuyển sát vào nhau và mở vào phần trên của niệu đạo. Lối thông giữa bàng quang và niệu nang gọi là ống niệu rốn sẽ bị bít kín và trở thành dây chằng rốn – bàng quang.
2. ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU
2.1. Thận
Mỗi cơ thể có 2 thận nằm hai bên cột sống ngang thắt lưng, nằm dưới cơ hoành. Thận hình hạt đậu, màu nâu đỏ, bề mặt trơn do được bao bọc bởi một bao xơ. Thận của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ còn giữ được cấu tạo thùy từ thời kỳ bào thai nên nhìn ngoài thấy có nhiều múi. Thận của trẻ dễ di động vì tổ chức mỡ quanh thận chưa phát triển.
Kích thước và trọng lượng thận thay đổi theo các lứa tuổi trẻ em. Hai thận cân nặng chưa tới 1% trọng lượng cơ thể.
Có thể sử dụng công thức tính chiều dài thận áp dụng trên lâm sàng theo Bisset R.A.L và A.N.KHAN.
Trẻ dưới 1 tuổi:
Chiều dài thận (cm) = 4,98 + 0,1555 x tuổi (tháng)
Trẻ trên 1 tuổi:
Chiều dài thận (cm) = 6,97 + 0,22 x tuổi (năm).
Thận trái thường lớn và nằm cao hơn thận phải. Theo H. Seipelt, chiều dài của thận tương đương với độ dài 4 đốt sống thắt lưng đầu tiên cho bất kỳ lứa tuổi nào và không khác biệt giữa trai và gái (tỷ lệ giữa chiều dài của thận trái và 4 đốt sống thắt lưng là 0,99 ± 0,09 và của thận phải 0,95 ± 0,07).
Thận có 2 bờ, bờ ngoài lồi, bờ trong lõm trên và dưới, ở giữa lõm gọi là rốn thận là nơi có động mạch thận đi vào và tĩnh mạch thận, niệu quản đi ra. Bổ dọc qua thận ta thấy nhu mô thận gồm 2 phần: vùng vỏ có màu hồng ở bên ngoài và vùng tủy ở trong có màu vàng. Vùng tủy thận có khoảng 10 – 18 khối hình nón đáy quay về vùng vỏ, còn đỉnh hướng về vùng tủy, lồi vào trong bể thận tạo thành các đài thận. Khối hình nón này gọi là tháp tủy hay còn gọi là tháp Malpighi. Giữa các tháp tủy vùng vỏ ăn sâu vào tạo thành các trụ Bertin. Từ các tháp tỏa ra vùng ngoại vi những tháp hình tia tủy (tháp Ferrin). Toàn bộ tháp tủy và khối vỏ thận bao quanh gọi là thùy thận, còn tia tủy là trung tâm của tiểu thùy thận. Thùy thận phân biệt rõ ở phôi thai và mờ nhạt dần theo tuổi.

Hình 6.2. Giải phẫu hệ thận – tiết niệu
Ở trẻ sơ sinh phần vỏ mỏng hơn trẻ lớn. Tỷ lệ giữa phần vỏ và phần tủy ở trẻ sơ sinh là 1 : 4, ở trẻ bú mẹ là 1 : 2,5 và ở người lớn là 1 : 2.
Đơn vị cấu tạo và chức năng của thận là nephron. Số lượng nephron của thai nhi 25 tuần vào khoảng 2 triệu (khoảng 1 triệu nephron cho mỗi thận) và không tăng lên nữa theo tuổi. Sự lớn lên của thận là do sự tăng sinh và phì đại của tế bào của nephron.
Mỗi nephron có 2 thành phần chính:
- Tiểu cầu có cấu trúc hình cầu gồm bao Bowman bao bọc chum mao mạch tiểu cầu.
- Bao Bowman có hình chén với 2 lớp biểu mô. Lớp trong gọi là lớp tạng gồm những tế bào có chân (podocyte) ôm lấy các mao mạch của chum mao mạch tiểu cầu thận. Lớp ngoài là lớp thành được lót bởi lớp biểu mô lát đơn. Giữa 2 lớp biểu mô trong khoang trống thông với ống lượn gần gọi là khoang Bowman.
- Mỗi tiểu cầu thận có 2 cực: cực niệu nối với ống lượn gần còn cực mạch là nơi tiểu động mạch vào và ra. Tại cực mạch của tiểu cầu thận có phức hợp đường kính 150 – 250 micron gọi là phức hợp cận cầu thận.
- Mao mạch tiểu cầu thận có đặc điểm: Tế bào nội mô có lỗ thủng nhiều và lớn, đường kính 70-90 nm, bào tương trải rộng. Màng đáy mao mạch dày do hòa nhập bào tương tế bào nội mô và tế bào có chân. Màng đáy bao bọc một cuộn mao mạch hoặc một số mao mạch xuất phát từ một nhánh. Giữa các mao mạch có chung màng đáy có nhiều tế bào gian mạch chức năng chưa rõ.

Hình 6.3. Cấu tạo tiểu cầu thận
Tế bào có chân (Podocyte): Chứa một thân có chứa nhân và một số nhánh chính, từ đó phát triển thành nhiều nhánh thứ cấp ôm lấy một hoặc một số mao mạch tiểu cầu.
Như vậy hàng rào lọc của cầu thận gồm 3 lớp:
- Tế bào nội mô mao mạch
- Màng đáy: có 3 lớp, lớp trong suốt ở ngoài và ở trong chứa sulfat heparan có tác dụng ngăn không cho các phân tử protein lọc qua màng đáy, lớp đặc ở giữa có nhiều collagen làm nhiệm vụ của một rây lọc vật lý với lỗ lưới khoảng 7nm.
- Tế bào có chân và tế bào gian mạch

Hình 6.4. Cấu trúc của cầu thận và ống thận
Trong nephron, phần ống thận tương đối kém phát triển hơn phần đầu thận. Diện tích lọc của thận tỷ lệ thuận với diện tích da nghĩa là 1,6m²/1,73m² diện tích cơ thể.
Hệ thống tuần hoàn trong thận có một số đặc điểm:
- Bình thường nhận khoảng 20% cung lượng tim.
- Đường kính của tiểu động mạch đến lớn gấp 2 lần tiểu động mạch đi.
- Hệ thống mao mạch ở phần vỏ
- Hệ thống mạch thẳng gồm các mạch máu theo dọc quai Henle của các nephron nằm gần phần tủy thận.
- Sự phân bố máu ở thận không đồng đều: phần vỏ được cung cấp nhiều máu nhất, chiếm 90%, phần tủy ngoài chỉ chiếm 6-8% và phần tủy trong chỉ chiếm 1-2%. Hai hệ thống tuần hoàn ở phần vỏ và phần tủy tương đối độc lập nhau, tuy nhiên do có những cầu nối động mạch Truétta cho nên trong những điều kiện nhất định, lượng máu không đi vào phần vỏ mà lại vào phần tủy thận gây nên tình trạng thiếu máu cục bộ ở vỏ thận và đưa đến hoại tử vỏ thận gây suy thận cấp.
- Tuần hoàn thận có khả năng tự điều chỉnh để bảo đảm sự tuần hoàn thường xuyên trong thận, mặc dù huyết áp ngoại biên rất dao động. Khi huyết áp ngoại biên thay đổi sẽ gây ra sự thay đổi trương lực của các mạch máu thận nhờ có sự co thắt cơ trơn của tiểu động mạch đến với sự tham gia của bộ phận cận cầu thận.
2.2. Đài bể thận
Mỗi thận có từ 10-12 đài thận và xếp thành 3 nhóm: trên, giữa, dưới. Hình dạng của hệ thống đài, bể thận nhờ có những động co bóp để tiết nước tiểu xuống phía dưới và thay đổi theo từng lứa tuổi nên rất khác nhau.
2.3. Niệu quản
Niệu quản ở trẻ sơ sinh đi ra từ bể thận là một góc vuông, còn ở trẻ lớn niệu quản đi ra từ bể thận là một góc tù. Đường kính niệu quản của trẻ em tương đối lớn, niệu quản tương đối dài nên dễ bị gấp hoặc xoắn.
2.4. Bàng quang
Bàng quang ở trẻ nhỏ nằm cao hơn trẻ lớn và người lớn, phần lớn ở ngoài hố chậu nhỏ, vì vậy dễ sờ, gõ thấy được bàng quang.
Dung tích của bàng quang lớn dần theo tuổi:
- Sơ sinh: 30 – 60ml
- Bú mẹ: 60 – 100ml
- 6 tuổi: 100 – 250ml
- 10 tuổi: 150 – 350ml
- 15 tuổi: 200 – 400ml
2.5. Niệu đạo
Chiều dài niệu đạo từ sơ sinh đến dậy thì ở trẻ gái tăng khoảng 2-4cm, trẻ trai tăng từ 6 -15cm. Trẻ nhỏ do bàng quang nằm cao nên niệu đạo trẻ ở lứa tuổi này tương đối dài.
Do niệu đạo của trẻ gái ngắn và hướng thẳng hơn trẻ trai nên dễ bị nhiễm khuẩn ngược dòng hơn.
3. ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ
Thận có hai chức năng sinh lý chính là ngoại tiết và nội tiết. Chức năng ngoại tiết là bài tiết nước tiểu, bài tiết chất độc, điều hòa nội môi. Chức năng nội tiết của thận bao gồm: điều hòa huyết áp, tạo hồng cầu, điều hòa calci – phospho giúp xương chắc khỏe và một số chức năng nội tiết khác.
3.1. Chức năng ngoại tiết
Chức năng ngoại tiết của thận đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với cơ thể sống. Thông qua quá trình siêu lọc tại cầu thận, tái hấp thu và bài tiết tích cực ở ống thận đã giúp thận bài tiết nước tiểu, bài tiết chất độc, điều hòa nội môi thể hiện ở cân bằng điện giải và acid-base.
Tất cả các chất đều được lọc qua màng đáy các tiểu cầu thận rồi đi đến các ống thận.
- Ống lượn gần: Ống lượn gần hấp thu 80% nước. Các protein trọng lượng phân tử thấp và các acid amin, glucose, kali được tái hấp thu hoàn toàn. Phần lớn HCO3- và 65% natri cũng được tái hấp thu tại ống lượn gần. Ure tái hấp thu một phần do chênh lệch nồng độ.
- Quai Henle: Hấp thu 5% nước, nhánh xuống chỉ hấp thu nước, nhánh lên hấp thu natri và ure.
- Ống lượn xa: cùng với ống góp hấp thu 15% nước. Ống lượn xa cũng tái hấp thu một phần HCO3- và hấp thu natri chủ yếu nhờ aldosterol.
Thận điều hòa cân bằng acid-base thông qua khả năng bài tiết H+, tái hấp thu HCO3-, tổng hợp và bài tiết NH3.
3.2. Chức năng nội tiết
Thận điều hòa huyết áp nhờ bộ máy cận tiểu cầu thận. Khi máu đến thận giảm tế bào hạt ở bộ máy cận tiểu cầu thận tăng tiết ra rennin – bản chất là một enzym xúc tác kích hoạt chuyển angiotensinogen -> angiotensin I -> angiotensin II. Angiotensin II là chất có hoạt tính sinh học cao, có khả năng gây co mạch, kích thích quá trình tổng hợp và bài tiết aldosteron, từ đó làm tăng huyết áp.
Thận là một trong những cơ quan sản xuất ra erythropoietin để tham gia vào quá trình sinh hồng cầu trong tủy xương. Bên cạnh đó, thận còn sản sinh ra các chất ức chế tạo hồng cầu khi máu thừa oxy. Như vậy, sự bão hòa oxy trong máu có vai trò quan trọng trong sự điều hòa sản sinh hồng cầu ở thận.
Các tế bào của bộ máy cận tiểu cầu thận còn sản sinh ra urokinase, là một chất có khả năng hủy fibrin nên kích thích quá trình tan cục máu đông. Thận còn là cơ quan dự trữ heparin nên có thể ức chế quá trình đông máu.
3.3. Sự phát triển chức năng sinh lý thận trong thời kỳ bào thai
Vào khoảng tháng thứ 7-8 của thai kỳ, thận đã hoạt động và bài tiết nước tiểu cùng các chất bất thường đối với cơ thể và người ta tìm thấy các chất này trong nước ối. Điều này chứng tỏ thận đã hoạt động trong thời kỳ bào thai nhưng chưa thực sự cần thiết cho đời sống của bào thai. Nếu trong bào thai mà thận bị suy thiếu ối, ngược lại nếu có bệnh lý ống thận ví dụ hội chứng Bartter mất chức năng cô đặc thì sẽ gây đa ối.
3.4. Sự phát triển chức năng sinh lý thận
Chức năng thận được phát triển mạnh ngay từ sau khi đẻ để có thể đảm bảo cho sự hằng định nội môi trong cơ thể.
Chức năng lọc của cầu thận trong thời kỳ sơ sinh khoảng 1/4 trị số trung bình của trẻ lớn. Trẻ đẻ non dưới 3 con thận, mới chỉ đạt được 0 tuần có mức lọc cầu thận 2 < 10ml/phút/1,73m2 da, ở trẻ 34 tuần là < 15ml/phút/1,73m2, trong khi đó mức lọc cầu thận ở trẻ sơ sinh đủ tháng là 20 ml/phút/1,73m2 và nhờ những tuần đầu tiên, sau đó thay đổi theo huyết động nên dần chóng tăng gấp đôi trong n… chú ý đến việc dùng thuốc độc thận sau sinh thấp hơn và rộng vài tháng đầu và đạt trị số cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ độc thận ví dụ nhóm aminosid… Trẻ non tháng thì mức lọc tăng chậm hơn trẻ đủ tháng. Tuy nhiên, tiếp tục tăng mạnh tới số bình thường như người lớn lúc 2 tuổi vì vậy khi dùng thuốc cần chú ý tới liều thuốc đặc biệt là các thuốc thải qua thận.
Có rất nhiều công thức tính mức lọc cầu thận. Hiện nay, trên lâm sàng thường áp dụng công thức Schwartz.
Mức lọc cầu thận (ml/phút/1,73m2) = (K x chiều cao (cm)) / Creatinin máu (µmol/l)
- Trẻ cân nặng thấp < 2,5kg (0 – 12 tháng): K = 29,1
- Trẻ đủ tháng (0 – 12 tháng): K = 39,7
- Trẻ gái 2 – 21 tuổi: K = 48,6
- Trẻ trai 2 – 12 tuổi: K = 48,6
- Trẻ trai > 12 tuổi: K = 61,7
Bảng 6.1. Nồng độ creatinine máu ở trẻ sơ sinh
| Cân nặng (g) | Nồng độ creatinine máu (µmol/l) | |||
| 1 – 2 ngày tuổi | 8 – 9 ngày tuổi | 15 – 16 ngày tuổi | 22 – 23 ngày tuổi | |
| 1001 – 1500 | 95 ± 5 | 64 ± 5 | 49 ± 4 | 35 ± 3 |
| 1501 – 2000 | 90 ± 5 | 58 ± 7 | 50 ± 8 | 30 ± 2 |
| 2001 – 2500 | 83 ± 5 | 47 ± 8 | 38 ± 8 | 30 ± 10 |
| Đủ tháng | 66 ± 3 | 40 ± 4 | 30 ± 8 | 27 ± 7 |
Bảng 6.2. Nồng độ creatinine máu và niệu ở trẻ
| Tuổi (năm) | Creatinine máu | Creatinine niệu | ||
| µmol/l | mg/dl | µmol/kg/ngày | mg/kg/ngày | |
| <2 | 35-40 | 0,4-0,5 | 62-88 | 7,1-9,9 |
| 2-8 | 40-60 | 0,5-0,7 | 108-188 | 12,2-21,2 |
| 9-18 | 50-80 | 0,6-0,9 | 132-212 | 14,9-23,9 |
Khả năng cô đặc nước tiểu kém, tỷ trọng nước tiểu trẻ sơ sinh rất thấp, khả năng cô đặc chỉ đạt tối đa là 400-600mOsm/l, trong khi trẻ lớn là 800 – 1200mOsm/l, điều đó là do sự cân bằng giữa cầu thận và ống thận (trung bình: 0,22) nghiêng về phía cầu thận làm hệ số cân bằng giữa cầu thận và ống thận tăng lên (0,3-0,4). Tỷ trọng nước tiểu tăng dần và đạt chỉ số như người lớn khi 1,5 – 2 tuổi nên trẻ nhỏ rất nhạy cảm với thay đổi đột ngột ví dụ quá tải dịch… hoặc thay đổi áp lực thẩm thấu quá lớn như mất nước, chế độ ăn tăng protid, sữa bò không hợp tuổi.. Tiết natri ở trẻ nhỏ nhất là trẻ đẻ non chưa trưởng thành cần chế độ ăn cung cấp natri ở ngưỡng 2-3mEq/kg/ngày. Một số phụ nữ có thai dùng một số thuốc ảnh hưởng tới chức năng thận ở trẻ sơ sinh như ức chế men chuyển, lợi tiểu, chống viêm … nên cần khai thác thông tin dùng thuốc của bà mẹ trong thời kỳ mang thai.
Bảng 6.3. Mức lọc cầu thận và tỷ trọng nước tiểu theo tuổi
| Sơ sinh | 1-2 tuần | 6-12 tháng | 1-3 tuổi | Người lớn | |
| Mức lọc cầu thận | 26 ± 2 | 54 ± 8 | 77 ± 14 | 96 ± 22 | 118 ± 18 |
| Tỷ trọng nước tiểu | 543 ± 50 | 619 ± 81 | 864 ± 148 | 750 ± 1330 | 825 ± 1285 |
Khi mới sinh, độ thanh thải inulin có chỉ số thay đổi trong khoảng 10 – 50% so với số bình thường của trẻ lớn. Qua nhiều công trình nghiên cứu cho chúng ta thấy mức lọc inulin tăng dần từ khi trẻ lọt lòng đến 18 tháng tuổi. Độ tăng mức lọc diễn ra lớn nhất trong tháng đầu sau khi sinh (thường tăng từ 100 – 200%).
Do thanh thải PAH (Para – Amino Hippurat) ở trẻ bú mẹ tính theo diện tích cơ thể còn thấp, đến năm 2 tuổi mới đạt chỉ số bình thường như người trưởng thành, điều đó chứng tỏ tuần hoàn máu hiệu dụng ở trẻ con bú tương đối thấp. Phân số lọc Cinulin/CPAH ở vài tháng đầu sau đẻ có tỷ lệ tương đương với trẻ lớn hơn khi cả hai độ thanh thải đều tính theo diện tích cơ thể.
Sự đáp ứng với hormon chống bài niệu ở trẻ nhỏ có vẻ giống như đáp ứng của người lớn.
Trong tuần đầu sau khi sinh trẻ đào thải ít acid hơn trẻ lớn và người trưởng thành.
Có sự khác nhau đó là do sự chuyển hóa nitơ và lượng cung cấp protein cho cơ thể khác nhau. Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ có nồng độ bicarbonate huyết thanh là 20mEq/l, trong khi ở trẻ lớn và người trưởng thành là 24mEq/l. Sự mất cân bằng giữa tăng cung cấp acid từ chế độ ăn và chuyển hóa và sự giảm khả năng bài tiết acid làm tăng khả năng nhiễm toan chuyển hóa ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Khả năng bài tiết acid của thận trẻ đẻ non thấp hơn trẻ đủ tháng. Tuy nhiên, sự bài tiết acid của thận ở trẻ sinh đủ tháng hay đẻ non đều tăng lên nhanh chóng ngay trong những tuần đầu sau sinh.
3.5. Đặc điểm sinh lý nước tiểu trẻ em
3.5.1. Sự tạo tiểu của trẻ em
Theo Laugier và F. Gold: 92% các trẻ sơ sinh bình thường đi tiểu lần đầu tiên trong 24 giờ đầu sau sinh, 7% đi tiểu trong ngày thứ hai và chỉ có 1% đi tiểu vào ngày thứ ba. Dung tích bàng quang trẻ sơ sinh đủ tháng trung bình là 6ml (có thể tới 44ml).
Trong những ngày đầu sau đẻ trẻ tiểu rất ít, thậm chí vô niệu do mất nước sinh lý (mất nước qua da, nhịp thở và cho trẻ bú muộn). Sau đó số lần tiểu tăng lên, đặc biệt trong những tháng đầu, có thể 20 – 28 lần/ngày. Trẻ tiểu nhiều lần là do khả năng cô đặc nước tiểu còn kém, dung tích bàng quang nhỏ, khả năng điều khiển của hệ thần kinh trung ương với sự bài tiết nước tiểu còn kém. Sau năm đầu số lần đi tiểu giảm dần và có thể tập cho trẻ đi tiểu chủ động theo bãi và không tiểu đêm. Trẻ có khả năng nhịn tiểu khi trẻ 2 – 3 tuổi.
3.5.2. Số lượng nước tiểu
Số lượng nước tiểu phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chế độ ăn uống, tình trạng chức năng thận, lượng tuần hoàn. Chính vì vậy số lượng nước tiểu của trẻ khá dao động. Để tính số lượng nước tiểu trung bình của trẻ trên 1 tuổi, chúng ta có thể áp dụng công thức:
Số lượng nước tiểu/24 giờ = 600 + 100 (n-1)
n: số tuổi của trẻ (năm).
Ta cũng có thể tính số lượng nước tiểu của trẻ theo cân nặng hoặc diện tích da của cơ thể. Số lượng nước tiểu trung bình ở trẻ bú mẹ là 90-120ml/kg/24 giờ, người trưởng thành là 18-20ml/kg. Tính theo diện tích da của cơ thể, thì số lượng nước tiểu trẻ là 800-1000ml/m²/24 giờ, còn người trưởng thành là 450-500ml/m²/24 giờ. Trẻ đẻ non và ăn nhân tạo bài tiết nước tiểu nhiều hơn trẻ được nuôi bằng sữa mẹ.
3.5.3. Thành phần nước tiểu của trẻ em
Nước tiểu trẻ em đã được toàn hóa và đạt được chỉ số gần tương tự người lớn. Tỷ trọng nước tiểu của trẻ nhỏ rất thấp.
Sự bài tiết kali của trẻ nhỏ nhiều hơn trẻ lớn, còn natri thì ngược lại, trẻ lớn bài tiết nhiều hơn.
Sự bài tiết ure và creatinine ở trẻ bú mẹ kém hơn, trong khi sự bài tiết amoniac và acid amin lại nhiều hơn trẻ lớn.
Cập nhật thông tin mới nhất về kiến thức y học và test y học tại facebook TEST Y HỌC
Tham gia nhóm zalo: Tài Liệu Y Học Tổng Hợp
Ôn thi nội trú, sau đại học TẠI ĐÂY
