Vùng Dưới Đồi Và Tuyến Yên – Sinh Lý Nội Tiết

Bài 13.2

SINH LÝ NỘI TIẾT: VÙNG DƯỚI ĐỒI VÀ TUYẾN YÊN

Mục lục
3. TUYẾN YÊN

2. VÙNG DƯỚI ĐỒI

2.1. Đặc điểm cấu tạo

Vùng dưới đồi (hypothalamus) là một cấu trúc thuộc não trung gian, nằm quanh não thất III và nằm chính giữa hệ viền (limbic). Vùng dưới đồi có nhiều neuron tập trung thành nhiều nhóm nhân và chia thành ba vùng.

  • Vùng dưới đồi trước gồm những nhóm nhân như nhóm nhân trên thị, nhân cạnh não thất, nhân trước thị.
  • Vùng dưới đồi giữa có nhóm nhân lõi giữa, bụng giữa, lưng giữa…
  • Vùng dưới đồi sau có nhóm nhân trước vú, trên vú, củ vú…

Các neuron của vùng dưới đồi ngoài chức năng dẫn truyền xung động thần kinh như các neuron của các cấu trúc thần kinh khác, còn có chức năng tổng hợp và bài tiết các hormon.

Vùng dưới đồi có mối liên hệ mật thiết qua đường mạch máu và đường thần kinh với tuyến yên (sẽ được trình bày ở phần tuyến yên). Các hormon do vùng dưới đồi bài tiết sẽ theo những con đường này đến dự trữ hoặc tác động (kích thích hoặc ức chế) đến chức năng của tuyến yên.

2.2. Các hormon giải phóng và ức chế của vùng dưới đồi

Các neuron của vùng dưới đồi mà thân của chúng có thể nằm ở các nhóm nhân khác nhau của vùng dưới đồi và tận cùng của neuron thì khu trú tại vùng lõi giữa có khả năng tổng hợp các hormon giải phóng (Releasing Hormone) và các hormon ức chế (Inhibitory Hormone) để kích thích hoặc ức chế hoạt động của các tế bào thùy trước tuyến yên.

Các hormon giải phóng và ức chế sau khi được tổng hợp từ thân neuron, chúng được vận chuyển theo sợi trục xuống tích trữ ở các túi nhỏ trong tận cùng thần kinh nằm ở vùng lõi giữa. Tại đây hormon khuếch tán vào mạng mao mạch thứ nhất rồi theo hệ mạch cửa dưới đồi – yên xuống thùy trước tuyến yên.

2.2.1. Bản chất hóa học và tác dụng của các hormon giải phóng và ức chế

2.2.1.1. Hormon giải phóng và ức chế GH: GHRH và GHIH (Growth Hormone Releasing Hormone và Growth Hormone Inhibitory Hormone)
  • Cả hai đều là polypeptid gồm 44 acid amin.
  • GHRH có tác dụng kích thích thùy trước tuyến yên bài tiết GH và ngược lại GHIH lại ức chế tế bào thùy trước tuyến yên làm giảm bài tiết hormon GH.
2.2.1.2. Hormon giải phóng TSH: TRH (Thyrotropin Releasing Hormone)
  • TRH là hormon có cấu trúc rất đơn giản, chỉ gồm ba acid amin.
  • TRH kích thích tế bào thùy trước tuyến yên tổng hợp và bài tiết TSH. Ngoài ra TRH còn có tác dụng kích thích thùy trước tuyến yên bài tiết prolactin.
2.2.1.3. Hormon giải phóng ACTH: CRH (Corticotropin Releasing Hormone)
  • CRH là một peptid có 41 acid amin.
  • CRH kích thích tế bào thùy trước tuyến yên tổng hợp và bài tiết ACTH.
2.2.1.4. Hormon giải phóng FSH và LH: GnRH (Gonadotropin Releasing Hormone)
  • GnRH là một peptid có 10 acid amin.
  • GnRH kích thích tế bào thùy trước tuyến yên tổng hợp và bài tiết cả hai hormon FSH và LH. GnRH được bài tiết theo nhịp, tuy nhiên nhịp bài tiết GnRH liên quan chặt chẽ đến sự bài tiết LH hơn là FSH. Vắng mặt GnRH hay đưa GnRH vào dòng máu đến tuyến yên liên tục thì cả LH và FSH đều không được bài tiết.
2.2.1.5. Hormon ức chế prolactin: PIH (Prolactin Inhibitory Hormone)
  • Trước đây người ta cho rằng cấu trúc của PIH chưa rõ. Đến nay, người ta đã xác nhận rằng PIH do vùng dưới đồi bài tiết chính là dopamine. Trên động vật thực nghiệm, người ta đã tìm thấy các receptor tiếp nhận dopamine ở các tế bào bài tiết hormone hướng tuyến sữa của vùng dưới đồi.
  • Tác dụng của PIH là ức chế sinh tổng hợp và bài tiết prolactin từ tế bào ưa acid của thùy trước tuyến yên.

2.2.2. Điều hòa bài tiết các hormon giải phóng và ức chế

Cũng như các hormon khác trong hệ nội tiết, các hormon giải phóng và ức chế được điều hòa chủ yếu bằng cơ chế điều hòa ngược mà các tín hiệu điều hòa xuất phát từ tuyến yên hoặc các tuyến ngoại biên khác (hình 13.7).

  • Cơ chế điều hòa ngược do các hormon tuyến đích ngoại biên điều khiển (tuyến giáp, tuyến vỏ thượng thận, tuyến sinh dục) được gọi là cơ chế điều hòa ngược vòng dài.
  • Cơ chế điều hòa ngược do các hormon tuyến yên điều khiển (GH, TSH, ACTH, FSH, LH, prolactin) được gọi là cơ chế điều hòa ngược vòng ngắn.
  • Cơ chế điều hòa ngược do chính nồng độ hormon của vùng dưới đồi điều khiển được gọi là cơ chế điều hòa ngược vòng cực ngắn. Cơ chế này mới chỉ tìm thấy ở hai hormon GnRH và TRH.

2.3. Các hormon khác

Ngoài các hormon giải phóng và ức chế, các neuron thuộc hai nhóm nhân trên thị và cạnh não thất còn tổng hợp hai hormon khác là ADH (vasopressin) và oxytocin. Hai hormon này được tổng hợp ở thân tế bào rồi theo sợi trục đến tích trữ ở thùy sau tuyến yên.

Bản chất hóa học, tác dụng và điều hòa bài tiết hai hormon này sẽ được trình bày ở phần các hormon thùy sau tuyến yên (xem mục 3.3).

3. TUYẾN YÊN

3.1. Đặc điểm cấu tạo và mối liên hệ với vùng dưới đồi

3.1.1. Vị trí và mối liên hệ với vùng dưới đồi

Tuyến yên là một tuyến nhỏ đường kính khoảng 1 cm, nặng từ 0,5 – 1 gam. Tuyến yên nằm trong hố yên của xương bướm thuộc nền sọ. Tuyến yên gồm hai phần có nguồn gốc cấu tạo từ thời kỳ bào thai hoàn toàn khác nhau đó là thùy trước và thùy sau (hình 13.8). Tuyến yên liên quan mật thiết với vùng dưới đồi qua đường mạch máu và đường thần kinh đó là hệ thống cửa dưới đồi-yên và bó sợi thần kinh dưới đồi – yên.

  • Hệ thống cửa dưới đồi-yên (hệ cửa Popa-Fielding) được cấu tạo bởi mạng mao mạch thứ nhất xuất phát từ động mạch yên trên. Mao mạch này tỏa ra vùng lồi giữa (Median Eminence) rồi tập trung thành những tĩnh mạch cửa dài đi qua cuống tuyến yên rồi xuống thùy trước tuyến yên tỏa thành mạng mao mạch thứ hai cung cấp 90% lượng máu cho thùy trước tuyến yên. Lượng máu còn lại từ các tĩnh mạch cửa ngắn bắt đầu từ mạng mao mạch của động mạch yên dưới (hình 13.9).

Hình 13.7. Điều hòa bài tiết hormon vùng dưới đồi – yên

Các hormon giải phóng và ức chế của vùng dưới đồi được bài tiết từ các tận cùng của vùng lồi giữa sẽ thấm vào các mao mạch lồi giữa rồi theo hệ thống cửa dưới đồi-yên xuống điều khiển sự bài tiết hormon của tuyến yên.

Hình 13.8. Tuyến yên

  • Bó sợi thần kinh dưới đồi-yên là bó thần kinh gồm các sợi trục của các neuron mà thân nằm ở hai nhóm nhân trên thị và cạnh não thất còn tận cùng của chúng thì khu trú ở thùy sau tuyến yên (hình 13.9).

Hai hormon do các neuron của nhóm nhân trên thị và cạnh não thất tổng hợp và bài tiết sẽ theo bó sợi thần kinh này đến dự trữ ở thùy sau tuyến yên do vậy các tín hiệu kích thích vào vùng dưới đồi hoặc thùy sau tuyến yên đều gây bài tiết hai hormon này.

3.1.2. Đặc điểm cấu tạo của tuyến yên

3.1.2.1. Thùy trước tuyến yên (thùy tuyến)

Thùy trước tuyến yên được cấu tạo bởi những tế bào chế tiết. Những tế bào này có nhiều loại, mỗi loại tổng hợp và bài tiết một loại hormon. Khoảng 20% tế bào tuyến yên là những tế bào tổng hợp và bài tiết ACTH. Các tế bào tổng hợp và bài tiết các hormon khác của thùy trước tuyến yên mỗi loại chỉ chiếm từ 3-5% nhưng chúng có khả năng bài tiết hormon rất mạnh để điều hòa chức năng tuyến giáp, tuyến sinh dục và tuyến vú.

3.1.2.2. Thùy sau tuyến yên (thùy thần kinh)

Thùy sau tuyến yên được cấu tạo chủ yếu bởi các tế bào giống tế bào thần kinh đệm (glial like cell). Những tế bào này không có khả năng chế tiết hormon mà chỉ có chức năng như một cấu trúc hỗ trợ cho một lượng lớn các sợi trục và các cúc tận cùng sợi trục khu trú ở thùy sau tuyến yên mà thân nằm ở nhân trên thị và nhân cạnh não thất. Trong cúc tận cùng của những sợi thần kinh này có các túi chứa hai hormon là ADH và oxytocin.

3.2. Các hormon thùy trước tuyến yên

Thùy trước tuyến yên tổng hợp và bài tiết 6 hormon đó là:

  • Hormon phát triển cơ thể – GH (Human Growth Hormone)
  • Hormon kích thích tuyến giáp (Thyroid Stimulating Hormone)
  • Hormon kích thích tuyến vỏ thượng thận – ACTH (Adreno Corticotropin Hormone)
  • Hormon kích thích nang noãn – FSH (Follicle Stimulating Hormone)
  • Hormon kích thích hoàng thể – LH (Luteinizing Hormone)
  • Hormon kích thích bài tiết sữa PRL (Prolactin)

Hình 13.9. Mối liên hệ giữa vùng dưới đồi – tuyến yên

Ngoài trừ GH là hormon có tác dụng điều hòa trực tiếp chức năng chuyển hóa của toàn bộ cơ thể, các hormon còn lại chỉ tác dụng đặc hiệu lên một tuyến hoặc một mô nào đó. Thông qua tác dụng lên các tuyến nội tiết này để điều hòa các chức năng chuyển hóa của cơ thể như hormon TSH, ACTH, FSH, LH, PRL.

3.2.1. Hormon phát triển cơ thể – GH (hGH)

3.2.1.1. Bản chất hóa học

GH là một phân tử protein chứa 191 acid amin trong một chuỗi đơn và có trọng lượng phân tử là 22.005.

3.2.1.2. Tác dụng

GH làm phát triển hầu hết các mô có khả năng tăng trưởng trong cơ thể. Nó vừa làm tăng kích thước tế bào vừa làm tăng quá trình phân chia tế bào do đó làm tăng trọng lượng cơ thể, làm tăng kích thước các phụ tạng.

– Kích thích mô sụn và xương phát triển.

  • Tăng lắng đọng protein ở các tế bào sụn và tế bào xương.
  • Tăng tốc độ sinh sản các tế bào sụn và tế bào xương.
  • Tăng chuyển các tế bào sụn thành các tế bào xương.

GH làm xương phát triển nhờ hai cơ chế chính:

Cơ chế làm dài xương: GH làm phát triển sụn ở đầu xương dài, nơi mà đầu xương tách khỏi thân xương. Sự phát triển này bắt đầu bằng tăng phát triển mô sụn, sau đó mô sụn sẽ được chuyển thành mô xương mới, do đó thân xương dài ra và từ nó cũng dần dần được cốt hóa sao cho đến tuổi vị thành niên thì mô sụn ở đầu xương không còn nữa, lúc này đầu xương và thân xương sẽ hợp nhất lại với nhau và xương không dài ra nữa. Như vậy, GH kích thích cả sự phát triển mô sụn đầu xương và chiều dài xương nhưng khi mà đầu xương hợp nhất với thân xương thì GH không có khả năng làm dài xương nữa.

Cơ chế làm dày xương: GH kích thích mạnh tế bào tạo xương là tế bào thường nằm trên bề mặt xương, do vậy xương tiếp tục dày ra dưới ảnh hưởng của GH, đặc biệt là màng xương. Tác dụng này được thể hiện ngay cả khi cơ thể đã trưởng thành đặc biệt đối với các xương dẹt như xương hàm, xương sọ và những xương nhỏ như xương bàn tay và xương bàn chân. Khi GH được tiết ra quá nhiều ở những người đã trưởng thành thì xương hàm dày lên, làm cho đầu và mặt to ra, xương bàn chân hay bàn tay cũng dày lên làm bàn chân, bàn tay to ra.

– Kích thích sinh tổng hợp protein:

  • Tăng vận chuyển acid amin qua màng tế bào.
  • Tăng quá trình sao chép ADN của nhân tế bào để tạo ARN.
  • Tăng quá trình dịch mã ARN để làm tăng tổng hợp protein từ ribosom.
  • Giảm quá trình thoái hóa protein và acid amin.

– Tăng tạo năng lượng từ nguồn lipid.

  • Tăng giải phóng acid béo từ các mô mà dự trữ, do đó làm tăng nồng độ acid béo trong máu.
  • Chính vì tác dụng này mà người ta coi tác dụng huy động lipid của GH là một trong những tác dụng quan trọng nhất nhằm tiết kiệm protein để dùng nó cho sự phát triển cơ thể.

– Tác dụng lên chuyển hóa carbohydrat.

  • Giảm sử dụng glucose cho mục đích sinh năng lượng.
  • Tăng dự trữ glycogen ở tế bào.
  • Giảm vận chuyển glucose vào tế bào và tăng nồng độ glucose trong máu.
  • Tăng bài tiết insulin: Nồng độ glucose trong máu tăng dưới tác dụng của GH đã kích thích tuyến tụy nội tiết bài tiết insulin, đồng thời chính GH cũng có tác dụng kích thích trực tiếp lên tế bào beta của tuyến tụy.
3.2.1.3. Điều hòa bài tiết
  • Vùng dưới đồi: GH được bài tiết dưới sự điều khiển gần như hoàn toàn của hai hormon vùng dưới đồi là GHRH và GHIH (xem mục 2. Vùng dưới đồi).
  • Somatostatin là một hormon tại chỗ do nhiều vùng não và đường tiêu hóa bài tiết (xem mục 8. Hormon tại chỗ) cũng có tác dụng ức chế bài tiết GH.
  • Nồng độ glucose trong máu giảm, nồng độ acid béo trong máu giảm, thiếu protein nặng và kéo dài sẽ làm tăng bài tiết GH.
  • Tình trạng stress, chấn thương, luyện tập gắng sức sẽ làm tăng bài tiết GH.

Ở người Việt Nam, nồng độ GH trong máu cuống rốn trẻ sơ sinh là 28,38 ± 10,03 ng/ml, người trưởng thành là 3,94 ± 2,09 ng/ml.

3.2.2. Hormon kích thích tuyến giáp – TSH

3.2.2.1. Bản chất hóa học

TSH là một glycoprotein, có trọng lượng phân tử 28.000.

3.2.2.2. Tác dụng

– Tác dụng lên cấu trúc tuyến giáp:

  • Tăng số lượng và kích thước tế bào tuyến giáp trong mỗi nang giáp.
  • Tăng biến đổi các tế bào nang giáp từ dạng khối sang dạng trụ (dạng bài tiết).
  • Tăng phát triển hệ thống mao mạch của tuyến giáp.

– Tác dụng lên chức năng tuyến giáp:

  • Tăng hoạt động bơm iod do đó làm tăng khả năng bắt iod của tế bào tuyến giáp.
  • Tăng gắn iod vào tyrosin để tạo hormon tuyến giáp.
  • Tăng phân giải thyroglobulin được dự trữ trong lòng nang để giải phóng hormon tuyến giáp vào máu và do đó làm giảm chất keo trong lòng nang giáp.
3.2.2.3. Điều hòa bài tiết

Ở người Việt Nam bình thường nồng độ TSH ở trẻ sơ sinh (máu cuống rốn) là 6,24 ± 2,69 và người trưởng thành (16-60 tuổi) là 2,12 ± 0,91 mU/l.

Mức bài tiết TSH của tuyến yên chịu sự điều khiển từ trên xuống của TRH vùng dưới đồi và chịu sự điều hòa ngược của tuyến đích là tuyến giáp.

  • Nếu nồng độ TRH vùng dưới đồi tăng thì tuyến yên sẽ bài tiết nhiều TSH và ngược lại nếu TRH giảm thì nồng độ TSH giảm. Khi hệ thống cửa dưới đồi-yên bị tổn thương, mức bài tiết TSH của tuyến yên có thể giảm tới mức bằng không.
  • Nồng độ hormon tuyến giáp ảnh hưởng đến sự bài tiết TSH của tuyến yên theo cơ chế điều hòa ngược âm tính và dương tính (xem mục 1. Đại cương về hệ nội tiết và hormon).

3.2.3. Hormon kích thích vỏ thượng thận – ACTH

3.2.3.1. Bản chất hóa học

ACTH là một phân tử polypeptid lớn gồm 39 acid amin.

3.2.3.2. Tác dụng
  • Tác dụng lên cấu trúc vỏ thượng thận: ACTH làm tăng sinh tế bào vỏ thượng thận đặc biệt là tế bào của lớp bó và lưới, là những tế bào bài tiết cortisol và androgen do đó làm tuyến nở to. Thiếu ACTH vỏ thượng thận sẽ bị teo lại.
  • Tác dụng lên chức năng vỏ thượng thận: ACTH có tác dụng kích thích vỏ thượng thận tổng hợp và bài tiết hormon do hoạt hóa các enzym proteinkinase A là enzym thúc đẩy chặng đầu tiên của quá trình sinh tổng hợp hormon vỏ thượng thận.
  • Tác dụng lên não: ACTH có vai trò làm tăng quá trình học tập và trí nhớ, tăng cảm xúc sợ hãi.
  • Tác dụng lên tế bào sắc tố: ACTH kích thích tế bào sắc tố sản xuất sắc tố melanin rồi phân tán sắc tố này trên bề mặt biểu bì da. Thiếu ACTH sẽ làm cho da không có sắc tố (người bạch tạng). Ngược lại thừa ACTH làm cho da có những mảng sắc tố.
3.2.3.3. Điều hòa bài tiết
  • Do nồng độ CRH của vùng dưới đồi quyết định, khi nồng độ CRH tăng thì ACTH được bài tiết nhiều ngược lại khi vắng mặt CRH, tuyến yên chỉ bài tiết một lượng rất ít ACTH.
  • Do tác dụng điều hòa ngược âm tính và dương tính của cortisol.
  • Nồng độ ACTH còn được điều hòa theo nhịp sinh học. Trong ngày, nồng độ ACTH cao nhất vào khoảng từ 6-8 giờ sáng, sau đó giảm dần và thấp nhất vào khoảng 23 giờ rồi lại tăng dần về sáng.

Bình thường nồng độ ACTH trong huyết tương vào buổi sáng khoảng 10-50 pg/ml, khi bị stress nồng độ tăng rất cao có thể lên tới 600 pg/ml. Ở người Việt Nam trưởng thành (lấy mẫu lúc 8 giờ 30 sáng trên nam khỏe mạnh) nồng độ ACTH là 9,7773 ± 4,599 pg/ml.

3.2.4. Hormon kích thích tuyến sinh dục: FSH và LH

3.2.4.1. Bản chất hóa học

Cả FSH và LH đều là glycoprotein. FSH được cấu tạo bởi 236 acid amin với trọng lượng phân tử 32.000, còn LH có 215 acid amin và trọng lượng phân tử là 30.000.

3.2.4.2. Tác dụng

– Tác dụng lên tuyến sinh dục nam (tinh hoàn):

+ FSH

  • Kích thích ống sinh tinh phát triển.
  • Kích thích tế bào Sertoli nằm ở thành ống sinh tinh phát triển và bài tiết các chất tham gia vào quá trình sản sinh tinh trùng.

+ LH

  • Kích thích tế bào kẽ Leydig (nằm giữa các ống sinh tinh) phát triển.
  • Kích thích tế bào kẽ Leydig bài tiết testosteron.

– Tác dụng trên tuyến sinh dục nữ (buồng trứng):

+ FSH

  • Kích thích các nang noãn phát triển đặc biệt là kích thích tăng sinh lớp tế bào hạt để từ đó tạo thành lớp vỏ (lớp áo) của nang noãn.

+ LH

  • Phối hợp với FSH làm phát triển nang noãn tiến tới chín.
  • Phối hợp với FSH gây hiện tượng phóng noãn.
  • Kích thích những tế bào hạt và lớp vỏ còn lại phát triển thành hoàng thể.
  • Kích thích lớp tế bào hạt của nang noãn và hoàng thể bài tiết estrogen và progesteron.
3.2.4.3. Nồng độ FSH và LH

Hai hormon FSH và LH chỉ bắt đầu được bài tiết từ tuyến yên của trẻ em ở lứa tuổi 9-10 tuổi. Lượng bài tiết hai hormon này tăng dần và có mức cao nhất vào tuổi dậy thì.

Bình thường nồng độ FSH và LH ở nữ dao động trong chu kỳ kinh nguyệt (CKKN) còn ở nam giới thì không thấy hiện tượng này. Nồng độ hai hormon này ở người Việt Nam được ghi trong bảng 13.1.

3.2.4.4. Điều hòa bài tiết
  • Do tác dụng kích thích của hormon vùng dưới đồi GnRH.
  • Do tác dụng điều hòa ngược của hormon sinh dục: testosteron, estrogen, progesteron. Khi các hormon này tăng thì ức chế tuyến yên và ngược lại nếu nồng độ các hormon này giảm sẽ kích thích tuyến yên bài tiết nhiều FSH và LH.

Bảng 13.1. Nồng độ LH và FSH ở phụ nữ Việt Nam.

LH (IU/l) FSH (IU/l)
GĐ I của CKKN 3,94 – 7,66 1,45 – 2,33
Nồng độ đỉnh 44,12 – 59,60 8,87 – 11,43
Ngày xuất hiện đỉnh 16,54 ± 3,86 16,06 ± 2,89
GĐ II của CKKN 2,44 – 4,009 0,43 – 0,84
Mãn kinh 2,90 ± 2,12 4,60 ± 1,91

3.2.5. Hormon kích thích bài tiết sữa – Prolactin (PRL)

3.2.5.1. Bản chất hóa học

Prolactin là một hormon protein có 198 acid amin với trọng lượng phân tử 22.500.

3.2.5.2. Tác dụng

Prolactin có tác dụng kích thích bài tiết sữa trên tuyến vú đã chịu tác dụng của estrogen và progesteron.

Prolactin bình thường được bài tiết với nồng độ rất thấp nhưng khi người phụ nữ có thai, nồng độ prolactin được bài tiết tăng dần từ tuần thứ 5 của thai nhi cho tới lúc sinh. Nồng độ prolactin trong thời kỳ này tăng gấp 10-20 lần so với bình thường. Tuy nhiên do estrogen và progesteron có tác dụng ức chế bài tiết sữa nên trong khi có thai mặc dù nồng độ prolactin rất cao nhưng lượng sữa được bài tiết chỉ khoảng vài mililit mỗi ngày. Ngay sau khi đứa trẻ được sinh ra, cả hai hormon estrogen và progesteron giảm đột ngột tạo điều kiện cho prolactin phát huy tác dụng tiết sữa.

3.2.5.3. Điều hòa bài tiết

Ở người Việt Nam bình thường, nồng độ prolactin ở nam giới vào khoảng 110-510 và ở nữ giới là 80-600 mU/l. Khi có thai nồng độ tăng cao, sau khi sinh vài tuần nồng độ prolactin trở lại mức cơ sở nếu không cho con bú, nếu cho con bú nồng độ prolactin vẫn cao. Sự bài tiết prolactin được điều hòa dưới ảnh hưởng của hormon vùng dưới đồi và một số yếu tố khác.

  • Vai trò của hormon vùng dưới đồi: khác với các hormon khác của tuyến yên chủ yếu chịu tác dụng kích thích của hormon vùng dưới đồi, prolactin lại chịu tác dụng ức chế mạnh của PIH được bài tiết từ vùng dưới đồi. Khi tổn thương vùng dưới đồi hoặc tổn thương hệ mạch cửa dưới đồi – yên sự bài tiết prolactin tăng lên trong khi các hormon khác của tuyến yên lại giảm đi.
  • Dopamin được bài tiết từ nhân cung (arcuate nuclei) của vùng dưới đồi có tác dụng ức chế bài tiết prolactin để duy trì một nồng độ thấp trong tình trạng bình thường. Khi đang cho con bú dopamin lại kích thích bài tiết prolactin.
  • TRH ngoài tác dụng giải phóng hormon TSH nó còn là hormon có tác dụng mạnh trong việc kích thích tuyến yên bài tiết prolactin.
  • Prolactin được bài tiết khi có các kích thích trực tiếp vào núm vú (động tác mút vú của trẻ).

3.3. Các hormon thùy sau tuyến yên

Hai hormon được bài tiết từ thùy sau tuyến yên có nguồn gốc từ vùng dưới đồi. Chúng được bài tiết từ các neuron mà thân khu trú ở nhân cạnh não thất và nhân trên thị. Sau khi được tổng hợp chúng được vận chuyển dọc theo sợi trục đến chứa ở các bọc nhỏ nằm trong tận cùng thần kinh khu trú ở thùy sau tuyến yên. Hai hormon đó là hormon oxytocin và ADH (Antidiuretic Hormone).

3.3.1. Hormon ADH

3.3.1.1. Bản chất hóa học

ADH hay còn gọi là vasopressin là một peptid có 9 acid amin.

3.3.1.2. Tác dụng
  • Với một lượng rất nhỏ chỉ 2 ng ADH khi tiêm cho người sẽ làm giảm bài tiết nước tiểu do ADH có tác dụng làm tăng tái hấp thu nước ở đoạn xa và ống góp. Nếu không có ADH, ống góp và ống lượn xa hầu như không tái hấp thu nước làm cho một lượng lớn nước mất qua đường nước tiểu. Ngược lại, với sự có mặt của ADH tính thấm đối với nước của ống lượn xa và ống góp tăng lên nhiều lần, nước được tái hấp thu triệt để có thể làm cho nước tiểu được cô đặc.
  • Với nồng độ cao, ADH có tác dụng làm co mạnh các tiểu động mạch ở toàn cơ thể, do đó làm tăng huyết áp. Chính vì lý do này mà ADH còn có tên thứ hai là vasopressin.
3.3.1.3. Điều hòa bài tiết

– Điều hòa bằng áp suất thẩm thấu

Khi dịch thể đậm đặc (áp suất thẩm thấu tăng), nhân trên thị bị kích thích, các tín hiệu kích thích sẽ truyền đến thùy sau tuyến yên và gây bài tiết ADH. ADH được máu đưa đến tế bào làm tăng tính thấm đối với nước của tế bào ống thận đặc biệt ống góp do vậy hầu hết nước được tái hấp thu trong khi đó các chất điện giải vẫn được tiếp tục đưa ra nước tiểu do đó nước tiểu được cô đặc.

– Điều hòa bằng thể tích máu

Thể tích máu giảm là một tác nhân mạnh gây bài tiết ADH (vasopressin). Tác dụng này đặc biệt mạnh khi thể tích máu giảm từ 15-25%, khi đó nồng độ ADH có thể tăng tới 50 lần cao hơn bình thường.

3.3.2. Oxytocin

3.3.2.1. Bản chất hóa học

Oxytocin cũng là một peptid có 9 acid amin, chỉ có acid amin thứ 8 khác với phân tử ADH (thay arginin bằng leucin).

3.3.2.2. Tác dụng

– Tác dụng lên tử cung

Oxytocin có tác dụng co tử cung mạnh khi đang mang thai đặc biệt càng gần cuối thời kỳ có thai tác dụng co tử cung của oxytocin càng mạnh. Vì tác dụng này mà nhiều người cho rằng oxytocin có liên quan đến cơ chế đẻ. Trên một số loài động vật nếu không có oxytocin động vật này không đẻ được. Ở người nồng độ oxytocin tăng trong khi đẻ đặc biệt tăng trong giai đoạn cuối. Ở những người đẻ khó do cơn co tử cung yếu người ta thường tiêm truyền oxytocin để làm tăng cơn co tử cung (đẻ chỉ huy).

– Tác dụng bài xuất sữa

Oxytocin có tác dụng co các tế bào biểu mô cơ (myoepithelial cells) là những tế bào nằm thành hàng rào bao quanh nang tuyến sữa. Những tế bào này co lại sẽ ép vào nang tuyến với áp lực 10 – 20 mmHg và đẩy sữa ra ống tuyến, khi đứa trẻ bú thì nhận được sữa. Tác dụng này của oxytocin được gọi là bài xuất sữa, khác với tác dụng gây bài tiết sữa của PRL.

3.3.2.3. Điều hòa bài tiết

Bình thường nồng độ oxytocin huyết tương là 1 – 4 pmol/l. Oxytocin được bài tiết do kích thích cơ học và tâm lý.

  • Kích thích trực tiếp vào núm vú: chính động tác mút núm vú của đứa trẻ là những tín hiệu kích thích được truyền về tủy sống rồi vùng dưới đồi làm kích thích các neuron ở nhân cạnh não thất và nhân trên thị. Những tín hiệu này được truyền xuống thùy sau tuyến yên để gây bài tiết oxytocin.
  • Kích thích tâm lý hoặc kích thích hệ giao cảm.

Vùng dưới đồi luôn nhận được các tín hiệu từ hệ limbic do vậy tất cả những kích thích tâm lý hoặc kích thích hệ giao cảm có liên quan đến hoạt động cảm xúc đều có ảnh hưởng đến vùng dưới đồi làm tăng bài tiết oxytocin và do vậy tăng bài xuất sữa. Tuy nhiên nếu những kích thích này quá mạnh hoặc kéo dài thì có thể ức chế bài tiết oxytocin và làm mất sữa ở các bà mẹ đang nuôi con.

3.4. Rối loạn hoạt động tuyến yên

3.4.1. Suy giảm tuyến yên toàn bộ

Thuật ngữ suy giảm tuyến yên toàn bộ được dùng để chỉ tình trạng giảm bài tiết tất cả các hormon tuyến yên. Tình trạng này có thể do nguồn gốc bẩm sinh cũng có thể do mắc phải sau này.

3.4.1.1. Bệnh lùn tuyến yên

Hầu hết các trường hợp lùn đều do thiếu hormon tuyến yên trong thời kỳ niên thiếu. Nhìn chung cơ thể phát triển cân đối nhưng mức độ phát triển thì giảm rõ rệt, đứa trẻ 10 tuổi chỉ bằng đứa trẻ 4-5 tuổi, người 20 tuổi chỉ bằng đứa trẻ 7-10 tuổi.

Người lùn tuyến yên không có dậy thì, hormon hướng sinh dục không được bài tiết đủ do vậy chức năng sinh dục không phát triển như người trưởng thành bình thường. Có khoảng một phần ba những người lùn loại này chỉ giảm bài tiết GH, do vậy chức năng sinh dục vẫn phát triển và vẫn có khả năng sinh sản.

3.4.1.2. Bệnh suy tuyến yên ở người lớn

– Suy tuyến yên toàn bộ ở người lớn thường do một trong ba nguyên nhân sau:

  • U sọ hầu (craniopharingioma).
  • U tế bào không bắt màu ở tuyến yên (chromophobe tumor).
  • Tắc mạch máu tuyến yên, đặc biệt hay xuất hiện ở các bà mẹ sau sinh con.

– Các biểu hiện của suy tuyến yên ở người lớn là biểu hiện của:

  • Suy tuyến giáp.
  • Giảm bài tiết hormon chuyển hóa đường của vỏ thượng thận.
  • Giảm bài tiết các hormon hướng sinh dục dẫn tới giảm hoạt hoặc mất chức năng sinh dục.

Hình ảnh chung của bệnh là một tình trạng lờ đờ, chậm chạp do thiếu hormon tuyến giáp; tăng cân do thiếu tác dụng thoái hóa mỡ của hormon GH, ACTH, vỏ thượng thận và hormon tuyến giáp; mất tất cả chức năng sinh dục.

Ngoại trừ chức năng sinh dục, các rối loạn khác có thể được điều trị khỏi nhờ hormon tuyến giáp và vỏ thượng thận.

3.4.2. Bệnh khổng lồ

Nguyên nhân gây bệnh là do các tế bào bài tiết GH tăng cường hoạt động hoặc do u của tế bào ưa acid. Kết quả là hormon GH được bài tiết quá mức. Tuy nhiên bệnh khổng lồ chỉ xuất hiện khi tình trạng này xảy ra vào lúc còn trẻ (trước tuổi trưởng thành).

Biểu hiện của bệnh là tình trạng phát triển nhanh và quá mức của tất cả các mô trong cơ thể bao gồm cả xương và các phụ tạng làm cho người đó to cao quá mức bình thường nên được gọi là người khổng lồ, các phụ tạng to hơn bình thường.

Những người khổng lồ thường bị tăng đường máu và khoảng 10% có thể bị bệnh đái tháo đường.

Hầu hết các bệnh nhân khổng lồ thường chết khi còn trẻ trong tình trạng suy tuyến yên toàn bộ vì phần lớn nguyên nhân gây khổng lồ là do u tế bào bài tiết GH, khối u này càng phát triển thì càng chèn ép vào các tế bào bài tiết các hormon khác của tuyến yên. Tuy nhiên, nếu được chẩn đoán kịp thời, bệnh nhân có thể được ngăn chặn bằng vi phẫu thuật bóc tách khối u hoặc tia X.

3.4.3. Bệnh to đầu ngón

Nếu u tế bào ưa acid xảy ra vào sau tuổi trưởng thành nghĩa là xảy ra khi các sụn ở đầu xương đã được cốt hóa thì bệnh nhân sẽ không có biểu hiện khổng lồ nhưng các mô mềm vẫn phát triển và các xương đặc biệt xương dẹt và xương nhỏ có thể dày lên.

Bệnh nhân bị bệnh này sẽ có hình ảnh đầu to, hàm nhô ra, trán nhô ra, mũi to, môi dày, lưỡi to và dày, bàn tay to, bàn chân to, phụ tạng to, đôi khi có cả sự biến dạng cột sống làm lưng gù.

3.4.4. Bệnh đái tháo nhạt

Tổn thương vùng dưới đồi hoặc thùy sau tuyến yên sẽ làm giảm lượng bài tiết ADH. Triệu chứng chính của bệnh là đái nhiều nhưng nồng độ các chất điện giải trong nước tiểu lại rất thấp nên bệnh được gọi là bệnh đái tháo nhạt.

Cập nhật thông tin mới nhất về kiến thức y học và test y học tại facebook TEST Y HỌC

Tham gia nhóm zalo: Tài Liệu Y Học Tổng Hợp

Ôn thi nội trú, sau đại học TẠI ĐÂY

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Content is protected !!
All in one