Bài 3
TĂNG TRƯỞNG THỂ CHẤT Ở TRẺ EM
1. ĐẠI CƯƠNG
1.1. Khái niệm về tăng trưởng và phát triển
Tăng trưởng (growth) là thuật ngữ chỉ sự gia tăng về số lượng và kích thước của tế bào, dẫn đến sự thay đổi kích thước của từng bộ phận và của cả cơ thể. Nói cách khác, tăng trưởng là một hiện tượng gắn liền với sự tăng chiều dài/cao và trọng lượng cơ thể.
Phát triển (development) là một khái niệm về sinh lý, chỉ sự biệt hóa của các mô và bộ phận của cơ thể cùng với sự hoàn thiện dần chức năng.
1.2. Ý nghĩa của sự tăng trưởng
Trẻ em là một cơ thể đang lớn và phát triển. Quá trình tăng trưởng diễn ra liên tục từ khi trứng được thụ thai cho đến khi cơ thể trưởng thành. Vì vậy, tăng trưởng là một đặc điểm sinh học cơ bản của trẻ em. Nghiên cứu tăng trưởng là một ngành khoa học cơ bản của nhi khoa, được gọi là tăng trưởng học (auxology).
Quá trình tăng trưởng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố. Tác động của mỗi yếu tố thay đổi tùy theo giai đoạn của sự tăng trưởng. Tăng trưởng nói chung là tấm gương phản chiếu tình trạng kinh tế – xã hội và ngược lại sự tăng trưởng của trẻ em cũng tác động đến sự phát triển kinh tế – xã hội, tình trạng sức khỏe của một quốc gia, một dân tộc.
1.3. Các phương pháp nghiên cứu về tăng trưởng
Có 2 phương pháp nghiên cứu về tăng trưởng:
- Nghiên cứu dọc (longitudinal study) là nghiên cứu một nhóm đối tượng trong một khoảng thời gian nhất định, nhằm đánh giá tốc độ tăng trưởng của các đại lượng nhân trắc theo thời gian.
- Nghiên cứu cắt ngang (cross-sectional) là nghiên cứu các đối tượng khác nhau trong cùng một thời gian, nhằm tìm ra giá trị trung bình của các thông số nhân trắc ở một cộng đồng.
Ngoài ra, có thể kết hợp cả hai loại nghiên cứu trên. Cụ thể, để nghiên cứu chuẩn tăng trưởng của trẻ em dưới 5 tuổi, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã tiến hành nghiên cứu dọc trẻ em từ 0 – 2 tuổi, đồng thời nghiên cứu cắt ngang trẻ em từ 2 – 5 tuổi.
1.4. Các tiêu chí đánh giá quá trình tăng trưởng
Để đánh giá sự tăng trưởng của trẻ em có thể dựa vào:
- Các chỉ số nhân trắc: cân nặng, chiều dài/cao, chu vi các vòng, tỷ lệ giữa các phần cơ thể.
- Tuổi xương: thời gian xuất hiện các điểm cốt hóa.
- Các dấu hiệu trưởng thành về tình dục.
- Số liệu về thành phần dự trữ cơ thể (body composition): tỷ lệ nước và tỷ lệ mỡ trong cơ thể.
1.5. Xử lý thống kê các số liệu nhân trắc
Phần lớn giá trị của các chỉ số nhân trắc tuân theo quy luật phân bố chuẩn, nghĩa là giá trị trung bình (mean) tương tự như giá trị trung vị (median, bách phân vị 50). Theo hướng dẫn của WHO, giá trị của các chỉ số này được biểu thị bằng bách phân vị (percentile) và Z-score.
2. CHUẨN TĂNG TRƯỞNG VỀ CHIỀU CAO VÀ CÂN NẶNG
2.1. Tăng trưởng của trẻ em < 5 tuổi
Năm 2006, WHO đã công bố chuẩn tăng trưởng về chiều dài/cao, cân nặng/tuổi của trẻ em từ lúc sinh cho đến trẻ 5 tuổi. Số liệu này được thu thập từ các nghiên cứu đa trung tâm của WHO (Multicentre growth reference study – MGRS) được tiến hành từ 1997 – 2003 tại 6 nước Mỹ, Braxin, Na Uy, Ghana, Oman và Ấn Độ.
Qua nghiên cứu này, chuyên gia của WHO đã kết luận rằng trẻ sơ sinh đủ tháng ở tất cả các nước, không phân biệt chủng tộc và địa dư, nếu được nuôi bằng sữa mẹ, được bổ sung thức ăn đầy đủ, được chăm sóc trong môi trường tối ưu, đều đạt mức độ tăng trưởng như nhau. Vì vậy, chuẩn tăng trưởng mới của WHO – 2006 được xem là biểu đồ tăng trưởng của trẻ em trong thế kỷ XXI. Chuẩn tăng trưởng này được tính theo bách phân vị (percentile) và Z-score; mỗi điểm tương ứng với 1 độ lệch chuẩn.
WHO đề nghị lấy điểm ngưỡng < 2 độ lệch chuẩn (<-2SD) so với quần thể tham khảo để đánh giá tình trạng dinh dưỡng. Trẻ bình thường khi các chỉ số cân nặng/tuổi, chiều cao/tuổi, cân nặng/chiều cao có giá trị Z-score trong khoảng từ -2 đến +2.
Thiếu dinh dưỡng được ghi nhận khi các chỉ số trên có giá trị Z-score < -2:
Cân nặng/tuổi Z-Score <-2: Suy dinh dưỡng thể nhẹ cân
Cân nặng/tuổi Z-Score <-3 : Suy dinh dưỡng thể nhẹ cân nặng
Chiều cao/tuổi Z-Score <-2: Suy dinh dưỡng thấp còi
Chiều cao/tuổi Z-Score <-3: Suy dinh dưỡng thể thấp còi nặng
Cân nặng/chiều cao Z-Score <-2: Suy dinh dưỡng thể gầy còm
Cân nặng/chiều cao Z-Score <-3: Suy dinh dưỡng thể gầy còm nặng
Cân nặng/tuổi Z-Score >2: Thừa cân
Cân nặng/tuổi Z-Score >3: Béo phì
2.2. Tăng trưởng của trẻ em trên 5 tuổi
Năm 2007, WHO đã công bố chuẩn tăng trưởng về chiều dài/cao, cân nặng, chỉ số khối cơ thể (BMI) của trẻ em từ 5 tuổi cho đến 19 tuổi.
Dùng chỉ số khối cơ thể BMI (BMI được tính theo giới và tuổi của trẻ do đặc điểm lứa tuổi này là cơ thể đang phát triển và chiều cao chưa ổn định).
BMI = cân nặng (kg)/chiều cao² (m)
Chỉ số BMI (Z-score) > 1: Thừa cân
Chỉ số BMI (Z-score) > 2: Béo phì
Hình 1.1. Cân nặng theo tuổi của trẻ gái từ 0-5 tuổi (Z-Score)
Hình 1.2. Chiều dài/cao theo tuổi của trẻ gái từ 0-5 tuổi (Z-Score)
Hình 1.3. Cân nặng/chiều dài theo tuổi của trẻ gái từ 0-2 tuổi (Z-Score)
Hình 1.4. Cân nặng/chiều cao theo tuổi của trẻ gái từ 2-5 tuổi (Z-Score)
Hình 1.5. Chỉ số BMI theo tuổi của trẻ gái từ 5-19 tuổi (Z-Score)
Hình 1.6. Cân nặng theo tuổi của trẻ trai từ 0-5 tuổi (Z-Score)
Hình 1.7. Chiều dài/cao theo tuổi của trẻ trai từ 0-5 tuổi (Z-Score)
Hình 1.8. Cân nặng/chiều dài theo tuổi của trẻ trai từ 0-2 tuổi (Z-Score)
Hình 1.9. Cân nặng/chiều cao theo tuổi của trẻ trai từ 2-5 tuổi (Z-Score)
Hình 1.10. Chỉ số BMI theo tuổi của trẻ trai từ 5-19 tuổi (Z-Score)
Hình 1.11. Chỉ số vòng cánh tay theo tuổi của trẻ gái từ 3 tháng đến 5 tuổi (Z-Score)
Hình 1.12. Chỉ số vòng cánh tay theo tuổi của trẻ trai từ 3 tháng đến 5 tuổi (Z-Score)
Hình 1.13. Chỉ số vòng đầu theo tuổi của trẻ gái từ 0-5 tuổi (Z-Score)
Hình 1.14. Chỉ số vòng đầu theo tuổi của trẻ trai từ 0-5 tuổi (Z-Score)
3. TĂNG TRƯỞNG VÒNG ĐẦU, VÒNG NGỰC VÀ VÒNG CÁNH TAY
3.1. Vòng đầu
Vòng đầu phản ánh kích thước của não và cần được đo thường quy trong 2 – 3 năm đầu đời, vì đây là thời gian não bộ tăng nhanh về kích thước. Khi mới đẻ, kích thước não của trẻ sơ sinh đủ tháng khoảng 25% kích thước của người lớn, với vòng đầu trung bình là 35cm. Trong năm đầu, vòng đầu tăng trung bình 1cm/tháng (2cm/tháng trong 3 tháng đầu, sau đó chậm hơn). Cuối năm thứ nhất, kích thước não trẻ đạt 75% kích thước của người lớn, với vòng đầu 45 – 47cm. Trong 2 năm tiếp theo vòng đầu tăng 3,5cm; kích thước não đạt 80% kích thước của người lớn lúc 3 tuổi và 90% lúc 7 tuổi. Đến 15 tuổi, vòng đầu khoảng 52cm.
3.2. Vòng ngực
Lúc mới đẻ, vòng ngực nhỏ hơn vòng đầu, có trị số trung bình là 30cm. Cũng như vòng đầu, vòng ngực tăng nhanh trong những tháng đầu, nhưng mức tăng chậm hơn vòng đầu và đuổi kịp vòng đầu lúc 2 – 3 tuổi, sau đó vòng ngực lớn hơn vòng đầu.
3.3. Vòng cánh tay
Lúc 1 tháng tuổi, chu vi vòng giữa cánh tay của trẻ xấp xỉ 11cm, đến 1 năm đạt 13,5cm và đến 5 tuổi được 15±1cm. Như vậy, đối với trẻ từ 1 – 5 tuổi, vòng cánh tay < 12,5cm là bị suy dinh dưỡng.
4. TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG VỀ CHIỀU CAO VÀ CÂN NẶNG
Tăng trưởng là một quá trình liên tục từ khi thụ thai cho đến tuổi trưởng thành, tuy nhiên tốc độ tăng trưởng khác nhau tùy theo giai đoạn. Theo K. Hussain và M. Preece (2006), quá trình tăng trưởng có 4 giai đoạn (phase) tách biệt, nhưng lồng ghép với nhau:
- Giai đoạn thứ nhất (giai đoạn trong tử cung): chịu nhiều ảnh hưởng của di truyền, dinh dưỡng và chức năng của rau thai. Đây là giai đoạn tăng trưởng nhanh nhất.
- Giai đoạn thứ hai (giai đoạn nhũ nhi): trong 2 – 3 năm đầu sau sinh, tiếp tục giai đoạn trong tử cung với sự tăng trưởng khá nhanh. Giai đoạn này sự tăng trưởng chủ yếu phụ thuộc vào yếu tố dinh dưỡng và chăm sóc.
Về chiều dài/cao: trong năm đầu, chiều dài tăng thêm một nửa chiều dài lúc mới sinh (khoảng 25cm), đặc biệt trong 6 tháng đầu sau sinh, chiều dài tăng 2,5cm/tháng; 6 tháng tiếp theo tăng trung bình 1,3cm/tháng. Chiều cao gấp đôi chiều dài lúc mới sinh khi trẻ 4 – 5 tuổi (khoảng 100cm).
Về cân nặng: cũng tăng nhanh trong năm đầu; cân nặng tăng gấp 2 lần cân nặng lúc mới sinh khi trẻ được 4 – 5 tháng, tăng gấp 3 lần khi tròn 1 tuổi và gần 4 lần lúc 2 tuổi. Từ 2 – 5 tuổi, cân nặng tăng bình quân 2 kg/năm, và chiều cao tăng 6cm/năm.
- Giai đoạn thứ ba (giai đoạn nhi đồng): sự tăng trưởng phụ thuộc vào hormon tăng trưởng. Trong giai đoạn này, tốc độ tăng trưởng về chiều cao và cân nặng chậm hơn, trung bình chiều cao tăng 5cm/năm và cân nặng tăng 1,5-2 kg/năm.
- Giai đoạn thứ tư (giai đoạn dậy thì): sự tăng trưởng chiều cao và cân nặng trong giai đoạn này lại tăng nhanh tạo nên “tăng vọt dậy thì” (pubertal growth spurt).
Hình 1.15. Sự tăng trưởng tương đối các bộ phận và hệ thống trong quá trình tăng trưởng cơ thể
Ở trẻ trai, bước nhảy vọt tăng trưởng xảy ra trong khoảng 12 – 17 tuổi, đỉnh tăng trưởng là 13 – 15 tuổi với tốc độ tăng chiều cao có thể > 10cm/năm.
Ở trẻ gái, bước nhảy vọt tăng trưởng xảy ra trong khoảng 9,5 – 14,5 tuổi, đỉnh tăng trưởng là 11 – 13,5 tuổi với tốc độ tăng chiều cao 9cm/năm.
Sau khi dậy thì hoàn toàn (trẻ gái xuất hiện kinh nguyệt, trẻ trai xuất tinh lần đầu) thì tốc độ tăng trưởng chậm lại và kết thúc tăng trưởng khi đạt tuổi trưởng thành.
5. TỶ LỆ GIỮA CÁC PHẦN CỦA CƠ THỂ
5.1. Tỷ lệ chiều cao đầu/chiều cao đứng
Sẽ giảm dần theo tuổi (Hình 1.16 và bảng 1.4).
Bảng 1.4. Tỷ lệ chiều cao đầu/chiều cao đứng
| Tuổi | Cao đầu/Cao đứng | Tuổi | Cao đầu/Cao đứng |
| Thai 2 tháng | 1/2 | 6 tuổi | 1/6 |
| Sơ sinh | 1/4 | 12 tuổi | 1/7 |
| Trẻ 2 tuổi | 1/5 | Người lớn | 1/8 |
Hình 1.16. Thay đổi tỷ lệ đầu/chiều cao đứng từ phôi thai đến tuổi trưởng thành
5.2. Chiều cao của thân
Chiều cao của thân trẻ em tương đối dài so với chiều cao đứng. Thân trẻ sơ sinh mới đẻ gần bằng 45% chiều dài cơ thể, đến tuổi dậy thì chỉ còn khoảng 38%. Tỷ lệ chiều cao ngồi/chiều cao đứng cũng giảm dần theo tuổi.
5.3. Tỷ lệ chiều dài của chi dưới so với chiều cao đứng
Nghiên cứu các chỉ số Skelle (Chiều cao đứng – Cao ngồi/Cột sống cao ngồi × 100) cho thấy chỉ số này tăng dần theo tuổi (1 tuổi: 59,5%; 2 tuổi: 63%; 3 tuổi: 70%; 4 tuổi: 74,5%; 5 tuổi: 76,6%; 6 tuổi: 79%). Chỉ số này thể hiện chiều dài của chi dưới và chiều cao đứng, nói lên rằng theo lứa tuổi chiều dài chi dưới ngày càng có xu hướng dài hơn thân.
Tóm lại, theo quá trình tăng trưởng, tỷ lệ các phần cơ thể trẻ em thay đổi theo khuynh hướng đầu nhỏ, thân ngắn và chi dài ra.
5.4. Các chỉ số khác
Chỉ số Pignet: Chiều cao đứng – (cân nặng + vòng ngực trung bình) và chỉ số khối cơ thể (BMI = cân nặng/chiều cao đứng bình phương) của trẻ em cũng thay đổi theo tuổi và có xu hướng tăng dần.
6. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ TĂNG TRƯỞNG
Quá trình tăng trưởng chịu ảnh hưởng tương tác của hai yếu tố cơ bản là di truyền và môi trường.
Hình 1.17. Các hormon tác động tăng trưởng trong thai kỳ trẻ em và lứa tuổi chịu ảnh hưởng nhiều nhất
6.1. Di truyền
- Giới, chủng tộc
- Các yếu tố gen
- Các bất thường bẩm sinh
6.2. Môi trường
- Trước sinh
- Bà mẹ
- Điều kiện kinh tế xã hội
- Khí hậu, mùa
- Hoạt động thể chất
- Dinh dưỡng là yếu tố quan trọng nhất
- Các stress tâm lý
6.3. Nội tiết
Hormon các tuyến giáp, tụy, thượng thận, sinh dục, tuyến yên.
6.4. Bệnh tật
Các bệnh về chuyển hóa, thận, thần kinh, nội tiết, hô hấp, tim mạch, tiêu hóa… đều ảnh hưởng đến sự tăng trưởng.
6.5. Xu hướng thế tục (secular trend)
Chiều cao trung bình của người trưởng thành trên thế giới có xu hướng tăng lên trong hơn một thế kỷ qua. Ở các nước phát triển như khu vực Bắc Âu, chiều cao cuối cùng của người trưởng thành có vẻ đã đạt mức bình nguyên nhưng ở các nước đang phát triển như Việt Nam xu hướng vẫn tăng. Chiều dài trung bình lúc sinh không thay đổi trong thời gian gần đây ở các nước công nghiệp cho thấy xu hướng thế tục về chiều cao ở người trưởng thành bắt nguồn chủ yếu trong 2 năm đầu sau sinh.
Xu hướng thế tục trong tăng trưởng là một chỉ điểm cho sức khỏe cộng đồng và cung cấp những hiểu biết về tương tác giữa môi trường và sự tăng trưởng. Xu hướng này chịu ảnh hưởng bởi tình trạng kinh tế – xã hội, nhiễm trùng, dinh dưỡng. Trong khi các yếu tố di truyền (genetic factors) không thể giải thích được sự thay đổi nhanh chóng về chiều cao trung bình của các quần thể theo thời gian, thì các yếu tố ngoại di truyền (epigenetic factors) được chú ý nhiều trong mối liên quan giữa tăng trưởng và môi trường.
Cập nhật thông tin mới nhất về kiến thức y học và test y học tại facebook TEST Y HỌC
Tham gia nhóm zalo: Tài Liệu Y Học Tổng Hợp
Ôn thi nội trú, sau đại học TẠI ĐÂY
