Bài 19
ĐẶC ĐIỂM HỆ HÔ HẤP TRẺ EM
Bộ máy hô hấp bao gồm các thành phần của đường dẫn khí (từ mũi, họng, thanh quản, khí quản, phế quản), phổi và màng phổi.
Bộ máy hô hấp trẻ em không chỉ nhỏ hơn về kích thước so với người lớn mà còn có những đặc điểm riêng biệt về giải phẫu, sinh lý do các bộ phận của hệ hô hấp nói chung và phổi nói riêng chưa hoàn toàn biệt hóa và đang ở trong giai đoạn phát triển.
1. ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU
1.1. Mũi và xoang
- Ở trẻ nhỏ, mũi và khoang hầu ngắn và nhỏ, lỗ mũi và ống mũi hẹp làm cho sự hô hấp bằng đường mũi bị hạn chế và dễ bị bít tắc.
- Niêm mạc mũi mỏng, mềm, lớp ngoài của niêm mạc gồm các biểu mô trụ rung hình trụ giàu mạch máu và bạch huyết. Chức năng hàng rào bảo vệ của niêm mạc mũi ở trẻ nhỏ còn yếu nên trẻ dễ bị viêm nhiễm mũi họng.
- Tổ chức hang và cuộn mạch ở niêm mạc mũi chỉ phát triển ở trẻ từ 5 tuổi đến tuổi dậy thì, do đó trẻ nhỏ dưới 5 tuổi ít bị chảy máu cam.
- Các xoang mũi trẻ em xuất hiện từ từ cùng với sự phát triển cơ thể. Xoang sàng có từ lúc mới sinh nhưng chưa biệt hóa đầy đủ. Các xoang hàm đến 2 tuổi mới phát triển. Do đó trẻ nhỏ ít bị viêm xoang.
Hình 4.1. Hệ thống xoang mũi hoàn chỉnh
1.2. Họng – hầu
– Họng, hầu trẻ em tương đối hẹp và ngắn, có hướng thẳng đứng, hình phễu hẹp, sụn mềm và nhẵn. Họng phát triển mạnh nhất trong năm đầu và tuổi dậy thì.
– Dưới 3 tuổi, họng trẻ em trai và gái dài như nhau. Từ 3 tuổi trở đi họng trẻ trai dài hơn trẻ gái.
– Niêm mạc họng được phủ một lớp biểu mô trụ rung hình trụ.
– Phía dưới niêm mạc hầu rải rác có rất nhiều tổ chức bạch huyết, tại một số nơi tổ chức này tập trung thành từng đám lớn gọi là tuyến hạnh nhân (amidan). Các amidan nằm vây quanh cửa hầu và xếp thành một vòng kín gọi là vòng bạch huyết quanh hầu (vòng Waldayer). Vòng này gồm 6 khối amidan:
- Amidan vòm (VA): chỉ có một khối nằm ở vòm họng và có thể phát triển theo thành sau họng mũi.
- Amidan vòi: gồm 2 amidan, nằm ở hai bên phải và trái, quanh lỗ vòi tai.
- Amidan khẩu cái (amidan): gồm 2 amidan, nằm ở hai bên phải và trái, trong hố amidan của thành bên họng.
- Amidan lưỡi: chỉ có 1 khối, nằm ở đáy lưỡi.
Hình 4.2. Vòng bạch huyết Waldayer
– Vòng bạch huyết Waldayer phát triển mạnh từ 4 – 6 tuổi cho đến tuổi dậy thì. Ở trẻ < 1 tuổi chỉ có VA phát triển. Từ 2 tuổi trở lên, amidan khẩu cái mới phát triển. Khi các tổ chức này bị viêm nhiễm sẽ ảnh hưởng đến chức năng hô hấp, trẻ phải thở bằng miệng.
1.3. Đường dẫn khí (Thanh, khí, phế quản)
– Thanh quản: Có hình phễu mà rộng ở phía trên. Ở trẻ bú mẹ, thanh quản nằm ở vị trí cao hơn 2 đốt sống so với người lớn. Thanh quản phát triển từ từ nhưng tới tuổi dậy thì thì phát triển mạnh. Dưới 6-7 tuổi, thanh môn hẹp, dây thanh âm ngắn, vì vậy giọng nói của trẻ em cao hơn người lớn. Từ 12 tuổi, dây thanh âm con trai dài hơn con gái, do đó giọng con trai trầm hơn.
– Cây phế quản: Từ khí quản đến phế nang có 23 lần phân nhánh (23 thế hệ, khí quản là thế hệ 0, hai phế quản gốc là thế hệ 1). Phế quản chia thành phế quản chính phải và phế quản chính trái ở ngang đốt sống ngực 4. Phế quản chính phải thường to hơn, ngắn hơn, dốc hơn nên dị vật thường lọt vào phổi phải. Sự phân chia cây phế quản là cơ sở cho sự phân thùy phổi.
– Phế quản chính phải gồm 10 phế quản phân thùy, chia 3 nhánh lớn là phế quản thùy trên, phế quản thùy giữa và phế quản thùy dưới; tương ứng với phổi phải có 3 thùy là thùy trên, thùy giữa, thùy dưới.
- Phế quản thùy trên lại tách thành 3 phế quản phân thùy: đỉnh (1), sau (2), và trước (3); ứng với 3 phân thùy cùng tên của thùy trên phổi phải.
- Phế quản thùy giữa chia 2 phế quản phân thùy: ngoài (4) và trong (5); ứng với phân thùy ngoài và phân thùy trong của thùy giữa phổi phải.
- Phế quản thùy dưới tách thành 5 phế quản phân thùy: đỉnh của thùy dưới (6), trong (7), trước (8), ngoài (9), sau (10); tương ứng với 5 phân thùy: trên, đáy trong, đáy trước, đáy ngoài, đáy sau của thùy dưới phổi phải.
– Phế quản chính trái cũng gồm 10 phế quản phân thùy, chia 2 nhánh lớn là phế quản thùy trên và phế quản thùy dưới; ứng với phổi trái có 2 thùy: thùy trên và thùy dưới.
- Phế quản thùy trên được tách thành 2 ngành là ngành trên (dẫn khí cho vùng đỉnh) và ngành dưới (dẫn khí cho vùng lưỡi). Ngành trên lại chia thành phế quản phân thùy đỉnh sau (1&2) và trước (3); còn ngành dưới chia thành phế quản phân thùy lưỡi trên (4) và lưỡi dưới (5). Các phế quản phân thùy này ứng với các phân thùy phổi cùng tên.
- Phế quản thùy dưới tách thành 5 phế quản phân thùy, cách chia và tên gọi giống với bên phải.
– Cây phế quản khi chia đến phế quản phân thùy thì tiếp tục chia thành các phế quản hạ phân thùy lớn, các phế quản hạ phân thùy nhỏ, rồi tới các tiểu phế quản (khoảng thế hệ thứ 10). Thế hệ thứ 16 là tiểu phế quản tận cùng. Các thế hệ 17 đến 19 là các tiểu phế quản hô hấp (từ thế hệ 17 trở đi mới có chức năng trao đổi khí). Thế hệ 20 đến 22 là ống phế nang.
Hình 4.3. Phân chia của cây phế quản
– Đặc điểm chung của thanh khí phế quản trẻ em là lòng tương đối hẹp, tổ chức đàn hồi kém phát triển, vòng sụn mềm, dễ biến dạng, niêm mạc nhiều mạch máu. Do đó, khi trẻ bị viêm nhiễm đường hô hấp, niêm mạc thanh, khí, phế quản dễ bị phù nề, xuất tiết, biến dạng.
1.4. Phổi
- Phổi trẻ em lớn dần theo tuổi: trẻ sơ sinh trọng lượng phổi là 50 – 60 gr, 6 tháng tuổi trọng lượng phổi tăng gấp 3 lần, 12 tuổi tăng gấp 10 lần và người lớn gấp 20 lần.
- Thể tích phổi của trẻ sơ sinh là 65 – 67ml. Đến 12 tuổi tăng gấp 10 lần.
- Tổng số phế nang ở trẻ sơ sinh là 30.000.000, đến 8 tuổi tăng gấp 10 lần, ở người lớn là 600 – 700 triệu.
- Phổi trẻ em, nhất là trẻ nhỏ, có nhiều mạch máu, mạch bạch huyết và sợi cơ. Vì vậy phổi trẻ em có khả năng co bóp lớn và tái hấp thu các chất dịch trong phế nang nhanh chóng.
- Tuy nhiên phổi trẻ nhỏ ít tổ chức đàn hồi, nhất là xung quanh các phế nang và thành mao mạch, các cơ quan ở lồng ngực cũng chưa phát triển đầy đủ nên lồng ngực di động kém, trẻ dễ bị xẹp phổi, khí phế thũng, giãn phế nang…
- Rốn phổi gồm phế quản gốc, thần kinh, mạch máu và nhiều hạch bạch huyết. Các hạch bạch huyết ở rốn phổi được chia làm 4 nhóm: nhóm hạch khí quản, nhóm hạch khí-phế quản, nhóm hạch phế quản-phổi, nhóm hạch vùng khí quản phân đôi. Các hạch bạch huyết ở rốn phổi có liên quan với các hạch bạch huyết ở trung thất, thượng đòn và cổ. Các hạch có xoang rộng, nhiều mạch máu nên dễ bị viêm nhiễm.
1.5. Màng phổi
- Màng phổi ở trẻ em, nhất là trẻ sơ sinh, rất mỏng, dễ bị giãn khi hít vào sâu hoặc khi tràn dịch, tràn khí màng phổi.
- Khoang màng phổi ở trẻ nhỏ dễ bị thay đổi do lá thành của màng phổi dính vào lồng ngực không chắc. Sự tích dịch, khí ở trong khoang màng phổi dễ gây hiện tượng chuyển dịch các cơ quan trong trung thất. Trung thất lại được bao bọc bởi các tổ chức xốp và lỏng lẻo nên dễ gây hiện tượng rối loạn tuần hoàn trầm trọng.
1.6. Lồng ngực
– Ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, lồng ngực có đặc điểm:
- Ngắn, hình trụ, đường kính trước sau gần bằng đường kính ngang.
- Xương sườn nằm ngang và thẳng góc với cột sống.
- Cơ hoành nằm cao và cơ liên sườn chưa phát triển đầy đủ.
Do đó khi trẻ thở, lồng ngực ít thay đổi.
– Khi trẻ lớn và biết đi:
- Các xương sườn chếch xuống.
- Đường kính ngang của lồng ngực tăng nhanh và gấp đôi đường kính trước sau.
Do đó khi trẻ thở, lồng ngực di động được nhiều hơn, trẻ thở được sâu hơn và xuất hiện thở ngực.
– Ở trẻ nhỏ, lồng ngực dễ bị biến dạng làm ảnh hưởng đến chức năng hô hấp.
2. ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ
2.1. Đường thở
- Không khí vào phổi chủ yếu qua đường mũi. Khi thở bằng mũi, các cơ hô hấp hoạt động mạnh, lồng ngực và phổi nở rộng hơn khi thở bằng miệng.
- Không khí qua mũi được sưởi ấm và lọc sạch nhờ các mạch máu và tuyến tiết nhầy ở niêm mạc mũi.
- Không khí từ mũi vào phổi còn phụ thuộc nhiều yếu tố như kích thước đường thở, áp lực giữa phổi và miệng, sự hỗ trợ của các cơ hô hấp.
Bảng 4.1. Các chỉ số chức năng hô hấp
| Các chỉ số hô hấp | Sơ sinh | 5 tuổi | 10 tuổi | 15 tuổi | Người lớn |
| Khoảng chết (ml) | 8 | 40 | 75 | 125 | 150 |
| Thể tích hô hấp (ml) | 18-20 | 100 | 225 | 375 | 450 |
| Tỷ lệ giữa khoảng chết và thể tích hô hấp | 0,45 | 0,4 | 0,33 | 0,33 | 0,33 |
| Áp lực thở vào tối đa (cm H₂O) | 100 | 100 | 125 | ||
| Áp lực thở ra tối đa (cm H₂O) | 150 | 200 | 250 | ||
| Lượng khí thở vào tối đa (L/phút) | 8 | 75 | 160 | 325 | 400 |
| Lượng khí thở ra tối đa (L/phút) | 10 | 110 | 210 | 400 | 500 |
2.2. Nhịp thở
- Ngay sau khi đẻ, vòng tuần hoàn rau thai ngừng hoạt động. Nhịp thở đầu tiên xuất hiện cùng tiếng khóc chào đời.
- Sau động tác thở đầu tiên, nhịp thở của trẻ tăng dần lên và dài hơn. Lượng khí thở vào tăng dần theo tuổi.
Lượng khí thở vào trong 1 lần thở tăng dần theo tuổi:
Sơ sinh: 25ml
1 tuổi: 70ml
4 tuổi: 120ml
8 tuổi: 170ml
14 tuổi: 300ml
Người lớn: 500ml
- Ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ vài tháng đầu, nhịp thở dễ bị rối loạn do trung tâm hô hấp chưa hoàn chỉnh và trưởng thành. Trẻ thở lúc nhanh, lúc chậm, lúc nông, lúc sâu.
- Tần số thở giảm dần theo tuổi:
Bảng 4.2. Tần số thở bình thường ở trẻ em
| Sơ sinh | 40 – 60 lần/phút |
| 3 tháng | 40 – 45 lần/phút |
| 6 tháng | 35 – 40 lần/phút |
| 1 tuổi | 30 – 35 lần/phút |
| 3 tuổi | 25 – 30 lần/phút |
| 6 tuổi | 20 – 25 lần/phút |
| 12 tuổi | 20 – 22 lần/phút |
| 15 tuổi | 18 – 20 lần/phút |
| Người lớn | 15 – 16 lần/phút |
2.3. Kiểu thở
Kiểu thở của trẻ em thay đổi theo tuổi và giới.
Trẻ sơ sinh và bú mẹ: thở bụng là chủ yếu
Trẻ 2 tuổi: thở hỗn hợp ngực – bụng
Trẻ 10 tuổi: Trẻ trai: thở bụng. Trẻ gái: thở ngực
2.4. Quá trình trao đổi khí ở phổi
Quá trình trao đổi khí ở phổi của trẻ em mạnh hơn người lớn.
- Trẻ < 3 tuổi, lượng không khí hít vào trong 1 phút tính theo trọng lượng cơ thể gấp đôi người lớn, trẻ 10 tuổi gấp 1,5 lần.
- Số lượng oxy hấp thu là 10ml/kg/phút ở trẻ bú mẹ và trẻ lớn là 4ml/kg/phút.
- Thương số hô hấp ở trẻ sơ sinh là 0,7, ở người lớn là 0,89.
- Sự trao đổi oxy và CO₂ giữa phế nang và máu cũng được thực hiện mạnh hơn nhờ sự chênh lệch phân áp của O₂ và CO₂ lớn hơn ở người lớn:
Tỷ lệ O₂ trong khí phế nang ở trẻ em cao hơn ở người lớn, trong khi đó tỷ lệ CO₂ lại thấp hơn.
Tỷ lệ O₂: trẻ bú mẹ: 17%, trẻ 1 tuổi: 15%
Tỷ lệ CO₂: trẻ nhỏ: 2,9%, trẻ 15 tuổi: 4,85%
Áp lực riêng phần O₂ và CO₂ ở phế nang thay đổi theo tuổi.
Trẻ bú mẹ: 120 và 21mmHg
Trẻ 15 tuổi: 110 và 38mmHg
Sự cân bằng này không bền vững, dễ bị thay đổi theo môi trường (độ ẩm, nhiệt độ, đậm độ CO₂….), do đó trẻ em dễ bị rối loạn hô hấp.
2.5. Điều hòa hô hấp
- Cơ chế điều hòa hô hấp ở trẻ em cũng tuân theo những quy luật sinh lý như người lớn. Những cử động hô hấp đều do trung tâm hô hấp điều khiển có tính tự động và nhịp nhàng.
- Trung tâm hô hấp nằm ở hành tủy và luôn chịu sự điều khiển của vỏ não. Ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ trong mấy tháng đầu, vỏ não và trung tâm hô hấp chưa phát triển hoàn toàn nên trẻ dễ bị rối loạn nhịp thở.
3. KẾT LUẬN
- Điều kiện hô hấp của trẻ em tương đối khó khăn hơn người lớn, trong khi nhu cầu oxy đòi hỏi cao hơn nên trẻ em dễ bị thiếu oxy.
- Do tổ chức phổi chưa hoàn toàn biệt hóa, ít tổ chức đàn hồi, nhiều mạch máu và bạch huyết nên dễ gây xẹp phổi ở trẻ nhỏ, rối loạn tuần hoàn phổi cũng như quá trình trao đổi khí ở phổi.
- Do những đặc điểm giải phẫu, sinh lý như trên nên trẻ em, nhất là trẻ nhỏ, dễ mắc các bệnh đường hô hấp, đặc biệt là viêm phổi. Ngoài ra do đặc điểm phát triển hệ hô hấp trong bào thai và sau khi sinh nên những trẻ đẻ non và mắc một số bệnh lý trong thai kỳ bào thai và trong hoặc ngay sau sinh có thể gây ra thiểu sản phổi hoặc các dị tật khác ở phổi.
Cập nhật thông tin mới nhất về kiến thức y học và test y học tại facebook TEST Y HỌC
Tham gia nhóm zalo: Tài Liệu Y Học Tổng Hợp
Ôn thi nội trú, sau đại học TẠI ĐÂY
