Bài 27
THIẾU MÁU THIẾU SẮT
1. DỊCH TỄ HỌC
Thiếu máu thiếu sắt là nguyên nhân gây thiếu máu phổ biến nhất. Tuy nhiên, tỷ lệ thiếu máu thiếu sắt còn tùy thuộc vào từng vùng địa lý, tuổi và giới. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), tỷ lệ thiếu máu thiếu sắt của phụ nữ có thai là 50%. Tỷ lệ thiếu máu thiếu sắt của trẻ em 6 – 59 tháng nói chung trên thế giới chiếm 42%, ở một số vùng thành viên của WHO (WHO Member States grouped by WHO region) thuộc châu Phi 32%, châu Mỹ 56%, Đông Nam Á 41%, châu Âu 54%, Đông Địa Trung Hải 38%, Tây Thái Bình Dương 64%.
2. NHẮC LẠI CHUYỂN HÓA SẮT
Mặc dù số lượng ít nhưng sắt là thành phần rất quan trọng, cần thiết cho sự sống. Sắt có mặt ở tất cả các tế bào với nhiều chức năng, như là tham gia vào thành phần của hemoglobin để đảm nhiệm chức năng vận chuyển oxy tới các tổ chức, sắt dưới dạng myoglobin giúp tăng cường sử dụng oxy ở tổ chức cơ bắp, sắt đóng vai trò trung gian vận chuyển các điện tử trong tế bào dưới dạng cytochrom rất quan trọng cho hô hấp tế bào, và còn là thành phần không thể thiếu trong các phản ứng enzym ở các tổ chức.
Lượng sắt dự trữ trong cơ thể rất ít (bằng 0,005% trọng lượng cơ thể). Ở trẻ sơ sinh có 250mg sắt, ở trẻ 1 tuổi khoảng 420mg, và ở người lớn trưởng thành có khoảng 3,5 – 4,0g.
Sắt phân bố trong cơ thể dưới hai dạng là sắt hem và sắt không hem. Sắt hem gồm sắt chứa trong hemoglobin (65-75%), myoglobin (4%), và một số enzym (0,3%). Sắt không hem gồm sắt vận chuyển hay sắt huyết thanh chiếm khoảng 0,1% và sắt dự trữ ở gan, lách, tủy xương (hemosiderin và ferritin) chiếm 25-30%. Sắt vận chuyển gắn với một protein là transferin sản xuất từ gan. Transferin vận chuyển sắt tới các cơ quan sử dụng, nhất là tủy xương để tạo hồng cầu và thu hồi sắt từ hồng cầu bị phá hủy. Tuy nhiên bình thường chỉ có một phần transferin gắn sắt, chỉ số bão hòa transferin khoảng 30%. Transferin tham gia điều hòa hấp thu sắt; sắt hấp thu dễ hơn khi bão hòa transferin thấp và ngược lại.
Thức ăn là nguồn cung cấp sắt chủ yếu cho cơ thể. Sắt được hấp thu trên toàn bộ đường dạ dày ruột, nhất là ở tá tràng và đoạn đầu của ruột non. Sắt trong thức ăn dưới dạng Fe3+, sắt chỉ hấp thu được ở dạng Fe2+. Pepsin dạ dày giải phóng sắt trong các hợp chất hữu cơ, acid clohydric khử Fe3+ thành Fe2+ để hấp thu. Sắt hấp thu qua tế bào ruột non một protein vận chuyển trong tế bào.
Nhu cầu hấp thu sắt thay đổi theo sự phát triển của cơ thể và tùy thuộc vào lượng sắt mất đi, cũng như tình trạng dự trữ sắt trong cơ thể. Ví dụ: trẻ 3-12 tháng nhu cầu hấp thu là 0,7mg sắt/ngày, trẻ 1-2 tuổi nhu cầu hấp thu 1mg sắt/ngày, ở trẻ lớn hơn và dậy thì nhu cầu hấp thu là 1,8 – 2,4mg sắt/ngày. Sự hấp thu sắt sẽ tăng lên khi dự trữ sắt giảm, khi thiếu máu, khi có thai và cho con bú. Ngược lại, sự hấp thu giảm khi thừa sắt, sau truyền máu nhiều lần hoặc uống chế phẩm sắt.
Nhiều yếu tố làm tăng hấp thu sắt: thịt, trứng, cá làm tăng hấp thu sắt nguồn gốc thực vật; acid ascorbic, acid clohydric khử Fe3+ thành Fe2+ và ion hóa sắt không hem, làm tăng hấp thu sắt. Những yếu tố giảm hấp thu sắt như sữa, lòng đỏ trứng, pho-mat, trà xanh tạo thành tannat sắt không tan, các phosphat, phytat, carbonat và oxalat tạo thành các phức hợp sắt lớn không tan nên khó hấp thu.
Bình thường chu kỳ sắt trong cơ thể được coi như một chu kỳ kín (Hình 5.4).
Hình 5.4. Hấp thu và chuyển hóa sắt
(T: transferin, T – FE: transferin gắn sắt, FE: sắt)
Sau khi được hấp thu từ tá tràng, sắt gắn với transferin để vận chuyển vào tuần hoàn, 80% sắt được vận chuyển đến tủy xương để tạo Hb của hồng cầu. Sau khoảng 120 ngày hồng cầu già bị vỡ ở tế bào liên võng, sắt được giải phóng ra từ Hb và lại được gắn vào transferin để sử dụng lại. Ở trẻ nhỏ, 70% nhu cầu sắt để sử dụng tạo hồng cầu lấy từ phá hủy hồng cầu già và 30% nhu cầu sắt lấy từ nguồn gốc thức ăn.
Sắt thải trừ ít qua phân, nước tiểu, mồ hôi, bong tế bào ở da – niêm mạc, móng, hành kinh.
3. NGUYÊN NHÂN THIẾU MÁU THIẾU SẮT
Nguyên nhân thiếu sắt thường liên quan đến chuyển hóa sắt. Có thể phân thành 4 loại nguyên nhân chính.
- Cung cấp sắt thiếu: chế độ ăn thiếu sắt như thiếu sữa mẹ, ăn bột nhiều và quá sớm, thiếu thức ăn nguồn gốc động vật. Đẻ non, thiếu cân, sinh đôi, chảy máu trước đẻ cũng làm cho lượng sắt được cung cấp qua tuần hoàn rau thai ít.
- Do hấp thu kém như giảm độ toan dạ dày, tiêu chảy kéo dài, hội chứng kém hấp thu, dị dạng dạ dày ruột.
- Mất sắt quá nhiều do chảy máu từ từ qua đường tiêu hóa như loét dạ dày – tá tràng, giun móc, polyp ruột, viêm túi thừa Meckel, chảy máu đường sinh dục hay chảy máu mũi mạn tính.
- Nhu cầu sắt cao ở các giai đoạn trẻ lớn nhanh như dậy thì, đẻ non, tuổi hành kinh mà cung cấp không tăng.
4. TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG
- Tuổi thường từ 6 tháng. Nếu trẻ đẻ non có thể xảy ra sớm hơn từ 2-3 tháng.
- Da xanh, niêm mạc nhợt từ từ.
- Kèm theo thiếu máu trẻ mệt mỏi, chán ăn, ít hoạt động, ngừng tăng cân, hay rối loạn tiêu hóa, dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn. Ở lứa tuổi đi học trẻ thường học kém do kém tập trung.
- Các triệu chứng hay gặp ở người lớn như teo niêm mạc, mất gai lưỡi và móng bẹt dễ gãy ít gặp ở trẻ em.
5. TRIỆU CHỨNG SINH HỌC
– Đặc trưng của thiếu máu thiếu sắt là thiếu máu nhược sắc, hồng cầu nhỏ, hồng cầu to nhỏ không đều:
- Hemoglobin, thể tích huyết cầu giảm nhiều hơn số lượng hồng cầu.
- MCV < 80 fl
- MCH < 28 pg hoặc MCHC < 300g/l
- RDW > 15%
– Các xét nghiệm chứng tỏ thiếu sắt:
- Fe huyết thanh < 10µmol/l
- Bão hòa transferin < 15%
- Protoporphyrin tự do hồng cầu > 70µg/l
- Ferritin huyết thanh < 12µg/l (trẻ < 5 tuổi), hoặc < 15µg/l (trẻ ≥ 5 tuổi)
Ferritin huyết thanh phản ánh chính xác sự dự trữ sắt ở tổ chức cơ thể, nhưng thường tăng khi cơ thể nhiễm trùng. Do đó khi trẻ có nhiễm trùng kèm theo, lấy ngưỡng thiếu sắt khi ferritin huyết thanh < 30µg/l.
6. CHẨN ĐOÁN
6.1. Chẩn đoán xác định
- Lâm sàng: dựa vào thiếu máu xảy ra ở một trẻ trên 6 tháng, có tiền sử nuôi dưỡng không đúng phương pháp, đẻ non, thiếu tháng, đẻ thấp cân hay có tiền sử mẹ bị rong kinh trước đẻ, hay trẻ có tiền sử tiêu chảy kéo dài, hội chứng kém hấp thu.
- Xét nghiệm huyết học thấy đây là một trường hợp thiếu máu nhược sắc hồng cầu nhỏ: Hb <110 g/l, MCV < 80 fl, MCH < 28 pg.
- Xét nghiệm thăm dò chuyển hóa sắt cho thấy thiếu sắt: Sắt huyết thanh < 10µmol/l; Ferritin huyết thanh < 12µg/l (trẻ < 5 tuổi), hoặc < 15µg/l (trẻ ≥ 5 tuổi), hoặc < 30µg/l khi đang có nhiễm trùng kèm theo; Bão hòa transferin < 15%; protoporphyrin hồng cầu > 70µg/l.
6.2. Chẩn đoán phân biệt
Cần phân biệt thiếu máu thiếu sắt với:
- Bệnh hemoglobin (Thalassemia dị hợp tử, HbE): đây cũng là thiếu máu nhược sắc hồng cầu nhỏ, nhưng sắt huyết thanh, ferritin và bão hòa transferin không giảm. Phân biệt dựa vào điện di huyết sắc tố có HbA2 tăng trong beta – thalassemia dị hợp tử, có HbE trong bệnh HbE. Tuy nhiên trong trường hợp alpha – thalassemia dị hợp tử, điện di huyết sắc tố HbA2 giảm hoặc không có thay đổi.
- Thiếu máu nhược sắc do không sử dụng được sắt như ngộ độc chì, viêm mạn tính kéo dài, cũng là thiếu máu nhược sắc hồng cầu nhỏ nhưng sắt huyết thanh tăng.
7. ĐIỀU TRỊ THIẾU MÁU THIẾU SẮT
7.1. Bổ sung sắt
Uống chế phẩm sắt với liều 4-6mg Fe nguyên tố/kg/24 giờ chia làm 2-3 lần. Uống giữa hai bữa ăn. Nếu đúng là thiếu máu thiếu sắt sau 5-10 ngày tỷ lệ hồng cầu lưới sẽ tăng, lượng hemoglobin tăng 2,5 – 4,0g/l/ngày và sau 10 ngày hemoglobin tăng 1,0 – 1,5g/l/ngày.
– Trong trường hợp không uống được hay không hấp thu được sắt thì dùng đường tiêm. Lượng sắt tiêm tính theo công thức:
Lượng Fe (mg) tiêm = [(Hb (bt) – Hb (bn)]/100 x V (ml) x 3,4 x 1,5
Hb (bt): hemoglobin bình thường (12g/dl)
Hb (bn): hemoglobin bệnh nhân
V (ml): 80ml/kg
3,4: 1g Hb cần 3,4mg Fe
1,5: thêm 50% cho sắt dự trữ
– Thêm vitamin C 50-100mg/ngày để tăng hấp thu sắt.
7.2. Truyền máu
Chỉ định khi: Hb < 5,0 g/dl
Cần nâng nhanh lượng hemoglobin lên
Suy tim do thiếu máu nặng
7.3. Điều trị các bệnh gây thiếu sắt
- Điều chỉnh chế độ dinh dưỡng hợp lý.
- Điều trị các bệnh mạn tính đường ruột gây kém hấp thu sắt.
- Điều trị các nguyên nhân gây mất máu mạn tính.
8. TƯ VẤN DINH DƯỠNG, DỰ PHÒNG THIẾU MÁU THIẾU SẮT
Cần đề phòng thiếu máu thiếu sắt sớm ngay từ thời kỳ bào thai. Thời gian có thai nhu cầu sắt cần cho thai nghén từ 500 – 600mg. Nhu cầu sắt khi có thai từ tháng thứ hai là 3mg/ngày, do vậy bà mẹ cần được ăn thức ăn giàu sắt. Các bà mẹ thiếu máu thiếu sắt cần được điều trị bằng các chế phẩm sắt.
Giáo dục cho bà mẹ nuôi con là đảm bảo cho trẻ được bú mẹ hoàn toàn 6 tháng đầu sau sinh. Trong trường hợp trẻ không có sữa mẹ cần cho trẻ ăn sữa có bổ sung sắt.
Thức ăn bổ sung cho trẻ phải là loại có nhiều sắt và vitamin C.
Cần bổ sung sắt cho trẻ thấp cân. Lượng sắt bổ sung được Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo theo cân nặng lúc đẻ như:
Cân nặng lúc đẻ:
2,0-2,5 kg: 1mg/kg/24 giờ
1,5-2,0 kg: 2mg/kg/24 giờ
1,0-1,5 kg: 3mg/kg/24 giờ
< 1,0 kg: 4mg/kg/24 giờ
Cập nhật thông tin mới nhất về kiến thức y học và test y học tại facebook TEST Y HỌC
Tham gia nhóm zalo: Tài Liệu Y Học Tổng Hợp
Ôn thi nội trú, sau đại học TẠI ĐÂY
