CHƯƠNG VIII. BÀI 14:
AN TOÀN TRUYỀN MÁU
MỤC TIÊU
|
1. CÁC THÀNH PHẦN MÁU VÀ VAI TRÒ
Máu gồm các thành phần hữu hình (hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu) và huyết tương (chứa các chất dinh dưỡng, chất vận chuyển, các yếu tố đông máu…).
1.1. Thành phần hữu hình
– Hồng cầu: là thành phần hữu hình chủ yếu, chứa huyết sắc tố có chức năng vận chuyển oxy từ phổi đến tổ chức và mang carbonic từ tổ chức để thải ra ngoài phổi; hồng cầu có đời sống khoảng 120 ngày. Khi già, hồng cầu bị phân huỷ ở tổ chức liên võng, chủ yếu là lách.
– Bạch cầu: có nhiều loại bạch cầu với nhiều chức năng khác nhau để chống lại tác nhân bên ngoài. Bạch cầu lympho có đời sống dài (có thể tới hàng chục năm) làm nhiệm vụ sinh kháng thể đặc hiệu và phản ứng độc tế bào. Bạch cầu hạt và mono có nhiệm vụ thực bào, đặc biệt tiêu diệt vi khuẩn. Loại bạch cầu này có đời sống ngắn, vài giờ tới vài ngày.
– Tiểu cầu: có chức năng cầm máu và tham gia trong đông máu, đời sống ngắn, khoảng 6 – 11 ngày.
Cũng như hồng cầu khi về già, tiểu cầu và bạch cầu bị tiêu huỷ ở hệ liên võng, chủ yếu là lách.
1.2. Các thành phần huyết tương
Huyết tương chứa các chất vận chuyển, các hormon, các vitamin, muối khoáng, các chất dinh dưỡng, các yếu tố điều hoà nội môi và đặc biệt là các yếu tố đông máu.
– Protein: albumin chiếm quá nửa, là thành phần quan trọng trong truyền huyết tương nhất là những người giảm protein, giảm albumin máu, giảm áp lực keo của máu.
– Globulin, đặc biệt là globulin miễn dịch, hiện nay đã được một số trung tâm chiết tách riêng.
– Các yếu tố đông máu: tuỳ theo yếu tố, có đời sống khác nhau, nhìn chung ở điều kiện bảo quản máu thông thường các yếu tố đông máu nhanh chóng bị phân huỷ.
2. MỘT SỐ HỆ THỐNG NHÓM HỒNG CẦU
2.1. Nhóm máu hệ ABO
– Kháng nguyên: hệ nhóm máu ABO được đặc trưng là kháng nguyên A và kháng nguyên B. Tên của nhóm máu là tên của kháng nguyên có mặt trên hồng cầu.
– Kháng thể: đặc điểm của hệ nhóm máu ABO là có kháng thể tự nhiên, đó là kháng thể tự nhiên có mà không qua miễn dịch, tồn tại một cách liên tục trong huyết thanh của người không có kháng nguyên tương ứng. Ví dụ người nhóm máu B (không có kháng nguyên A) sẽ có kháng thể chống A.
– Dựa trên sự có mặt của kháng nguyên trên hồng cầu và kháng thể trong huyết thanh có thể tóm tắt 4 nhóm máu hệ ABO như sau:
| Nhóm máu | Kháng nguyên trên hồng cầu | Kháng thể trong huyết thanh |
|---|---|---|
| Nhóm A | A | Chống B |
| Nhóm B | B | Chống A |
| Nhóm AB | A và B | Không có kháng thể |
| Nhóm O | Không có kháng nguyên | Chống A và chống B |
– Một số đặc điểm khác của nhóm ABO
- Nhóm A1, A2. Ngoài kháng nguyên A bình thường (còn gọi A1) còn có kháng nguyên A2. Người mang nhóm A2 nếu được truyền máu A1 có thể sinh kháng thể chống A1 (đó là kháng thể miễn dịch), ngoài ra còn nhóm A3, Am.
- Nhóm B biến tướng. Ngoài nhóm B bình thường, một số người có nhóm B “biến tướng”, hồng cầu mang kháng nguyên B3, Bend.
- Người nhóm máu O tuy không có kháng nguyên A, kháng nguyên B nhưng thực tế lại có kháng nguyên H. Kháng nguyên H có mặt ở những người nhóm A, B, AB và nhiều nhất là ở người nhóm O. Có người không có kháng nguyên H đã được phát hiện lần đầu tiên tại Bombay nên gọi là nhóm Bombay. Người nhóm Bombay có kháng thể chống H tự nhiên chống lại hồng cầu người nhóm O và nhóm A, B, AB.
- Kháng nguyên hệ ABO có mặt trên hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu và các tế bào khác của cơ thể. Ngoài ra còn có chất kháng nguyên A, B hoà tan ở trong dịch tiết (ở người tiết).
- Ngoài kháng thể tự nhiên nêu trên còn có kháng thể miễn dịch chống A và chống B ở người đã tiếp xúc với kháng nguyên mình không có (chửa đẻ nhiều lần, truyền nhầm nhóm máu).
– Quy định về truyền máu dựa trên hệ nhóm ABO.
- Truyền máu toàn phần: truyền cùng nhóm.
- Hiện nay, nhờ tách được các thành phần máu, nên ngoài việc truyền cùng nhóm máu ABO thì có thể truyền khối hồng cầu nhóm O cho các nhóm khác; khối hồng cầu nhóm A hay B cho nhóm AB; có thể truyền chế phẩm huyết tương nhóm AB cho các nhóm máu khác, người nhóm O có thể nhận chế phẩm huyết tương các nhóm khác.
2.2. Hệ nhóm máu Rh và các hệ nhóm máu khác
– Hệ Rh do 3 cặp alen quy định là Dd, Cc, Ee. Trừ gen d đến nay chưa phát hiện kháng nguyên, còn lại các gen khác đã có kháng nguyên tương ứng. Các gen này cũng trội do vậy có thể đồng hợp tử CC thì có kháng nguyên C, còn dị hợp tử Cc thì có cả kháng nguyên C và c. Đối với cặp gen Ee cũng tương tự như trên. Kháng nguyên D (còn gọi là Rh (+)) có một ở người mang kiểu gen Dd và DD.
– Kháng thể Rh là kháng thể miễn dịch, có thể xuất hiện sau truyền máu hay ở người chửa đẻ nhiều lần: người mẹ Rh (-) mang thai Rh (+) khi chuyển dạ có một ít máu thai vào tuần hoàn mẹ gây miễn dịch, sinh kháng thể kháng D.
– Quy định truyền máu dựa trên Rh (D): nếu cần truyền máu, người Rh (+) có thể nhận máu Rh (+) và Rh (-); người Rh (-) chỉ nhận máu Rh (-), trừ trường hợp không có máu Rh (-) mà thiếu máu đe doạ đến tính mạng thì phải có quy định riêng.
– Các hệ nhóm máu khác: hiện nay có rất nhiều hệ nhóm máu được phát hiện: hệ nhóm máu MN gồm kháng nguyên M và N do cặp gen trội (MN) qui định, hệ Kidd (Jka, Jkb), hệ Lewis, hệ Kell (K và k). Các hệ này thường do cặp gen cùng trội qui định, kháng thể miễn dịch xuất hiện ở người tiếp xúc với kháng nguyên mà mình vắng mặt (sau truyền máu, chửa đẻ…).
2.3. Nhóm hồng cầu và an toàn truyền máu
Phản ứng truyền máu sẽ xảy ra nếu kháng nguyên hồng cầu gặp kháng thể tương ứng ở trong cơ thể người nhận. Ngoài hệ ABO có kháng thể (KT) tự nhiên thì các KT của các KN khác thường xuất hiện thông qua miễn dịch (KT miễn dịch) gọi là KT bất thường (KTBT). Điều kiện xuất hiện KTBT thường là thông qua chửa đẻ, có bất đồng nhóm máu giữa mẹ và thai nhi hay do truyền máu.
Nguyên nhân dẫn đến truyền máu sai nhóm hệ ABO thường do sai sót hành chính, nhầm lẫn bệnh phẩm, bệnh nhân hay chưa thực hiện đúng yêu cầu kỹ thuật.
Nguyên nhân dẫn đến phản ứng truyền máu do KT-KN ngoài hệ ABO thường do cơ sở truyền máu và bệnh viện chưa thực hiện đầy đủ các xét nghiệm phát hiện KTBT (đơn vị máu và người bệnh).
3. NHÓM BẠCH TIỂU CẦU
Hệ nhóm bạch tiểu cầu (HLA – Human Leucocyte Antigen) đã được mô tả với hàng trăm kháng nguyên thuộc các lớp khác nhau. Đây là hệ có ý nghĩa trong truyền bạch – tiểu cầu và ghép cơ quan.
4. MỘT SỐ TÁC NHÂN TRUYỀN BỆNH VÀ PHÒNG LÂY BỆNH QUA TRUYỀN MÁU
4.1. Một số tác nhân
Truyền máu để cứu bệnh nhân nhưng cũng có thể truyền bệnh cho người nhận máu. Những tác nhân chính truyền qua truyền máu là:
– Virus viêm gan B (Hepatitis B virus = HBV)
HBV gây bệnh viêm gan cấp và có thể tiến triển mạn tính gây xơ gan; người bị viêm gan do virus khi khỏi bệnh có thể còn mang virus trong máu và truyền bệnh cho người khác. Ngoài ra còn có những người lành mang virus, nhưng người này không có biểu hiện lâm sàng song nếu cho máu có thể truyền cho người nhận. Hiện nay dấu hiệu để xét nghiệm sàng lọc là xét nghiệm phát hiện HBsAg. Tuy nhiên người nhiễm HBV sau 6-8 tuần mới có thể phát hiện được HBsAg. Như vậy giai đoạn “im lặng” gọi là thời gian cửa sổ có thể tới gần hai tháng.
– Virus viêm gan C (Hepatitis C virus = HCV)
Bệnh nhân nhận máu người nhiễm HCV sẽ bị nhiễm HCV. Hiện xét nghiệm kháng thể kháng HCV được dùng để sàng lọc đơn vị máu, tuy nhiên sau khi bị nhiễm phải 80 – 90 ngày mới có thể phát hiện được, như vậy giai đoạn cửa sổ gần 3 tháng.
– Virus viêm gan khác: hiện nay người ta đã phát hiện các virus viêm gan A, viêm gan G, viêm gan E có thể lây qua truyền máu.
– Virus HIV: virus gây bệnh suy giảm miễn dịch có thể lây qua truyền máu.
Quy định xét nghiệm sàng lọc HIV là phát hiện kháng thể kháng HIV. Kỹ thuật phổ biến hiện nay là xét nghiệm kháng thể kháng HIV bằng phương pháp Elisa, có thể phát hiện sau nhiễm khoảng 20 ngày (thời gian cửa sổ ≈ 20 ngày). Tuy nhiên nếu xét nghiệm ARN virus thì có thể phát hiện sớm hơn.
– Xoắn khuẩn giang mai: truyền máu của người nhiễm xoắn khuẩn có thể làm lây bệnh cho người nhận.
Quy định xét nghiệm sàng lọc là phát hiện kháng thể kháng giang mai theo kỹ thuật PR.Q.
– Nhiễm ký sinh trùng sốt rét: phát hiện bằng nhuộm tiêu bản máu và quan sát dưới kính hiển vi.
– Một số virus khác như Epstain Barr virus, CMV cũng có thể lây cho người nhận máu.
4.2. Phòng lây nhiễm bệnh
– Lựa chọn người cho máu an toàn:
Phát hiện nhóm người khoẻ mạnh có tỷ lệ thấp mang các tác nhân truyền bệnh, tránh lấy máu ở nhóm người có hành vi nguy cơ cao mang các tác nhân truyền bệnh. Nhóm người có hành vi nguy cơ cao mang virus HIV và HCV là người nghiện chích ma tuý, người Hemophilia được truyền máu nhiều lần, người quan hệ tình dục đồng giới, mại dâm, quan hệ tình dục với nhiều người chăm sóc bệnh nhân HIV, HCV. Như vậy cần phát hiện và không lấy máu ở những người này.
Tuyên truyền, tư vấn cho người cho máu tự sàng lọc, để nếu họ thấy mình có nguy cơ cao lây bệnh thì chưa cho máu.
– Tổ chức và thực hiện xét nghiệm sàng lọc đơn vị máu:
Thực hiện xét nghiệm máu lấy cùng lúc lấy đơn vị máu để tránh nhầm lẫn, bỏ sót, ứng dụng các kỹ thuật xét nghiệm có độ nhạy cao ví dụ kỹ thuật Elisa để phát hiện HBsAg, kháng thể kháng HIV, kháng HCV. Ứng dụng các phương pháp xét nghiệm với các marker xuất hiện sớm ví dụ phát hiện ADN virus HBV, ARN của HCV và HCV.
5. CÁC CHẾ PHẨM MÁU, BẢO QUẢN VÀ CHỈ ĐỊNH
5.1. Máu toàn phần
– Lấy từ mạch máu người hiến máu, để trong dung dịch có chất chống đông và bảo quản máu (Citrate, Dextrose).
– Bảo quản: ở 4°C (2 – 6°C). Thời gian 35 hoặc 42 ngày.
– Thành phần: hồng cầu (huyết sắc tố), 30-35g Hst (250ml), 40-50g (350ml).
– Chỉ định: mất máu khối lượng lớn ≥ 30% (≈1,5 lít).
5.2. Khối hồng cầu (Hồng cầu khối): máu đã tách huyết tương
– Bảo quản: tuỳ loại dung dịch bảo quản, cách sản xuất.
– Thành phần: hồng cầu đậm đặc.
– Chỉ định: thiếu máu mạn, không giảm thể tích tuần hoàn.
– Chỉ định: thiếu máu do các nguyên nhân, (bắt buộc) nếu bệnh nhân cần truyền máu có suy tim, suy thận.
5.3. Hồng cầu rửa
– Khối hồng cầu loại sạch huyết tương.
– Bảo quản: 24 giờ, 2 – 6°C.
– Thành phần: hồng cầu và dung dịch bảo quản hay dung dịch muối, đã loại bỏ thành phần huyết tương.
– Chỉ định:
- Tan máu miễn dịch có hoạt hoá hệ bổ thể.
- Bệnh nhân cần truyền máu nhưng có phản ứng với protein huyết tương.
5.4. Huyết tương giàu tiểu cầu
Tách đơn giản từ máu toàn phần mới lấy.
– Thành phần: Tiểu cầu (còn bạch cầu, các yếu tố huyết tương).
– Bảo quản: 22°C; 24 giờ, lắc liên tục.
– Chỉ định: thiếu tiểu cầu, thiếu huyết tương (sốt xuất huyết).
5.5. Khối tiểu cầu (KTC): tiểu cầu với độ đậm đặc cao gồm các loại sau:
– KTC từ một đơn vị máu: ít tiểu cầu, ít huyết tương ≈ 40 × 10⁹ TC.
– KTC từ nhiều đơn vị máu (pool tiểu cầu): ≈ 150 × 10⁹ TC.
– KTC từ máy tách tiểu cầu: nhiều tiểu cầu (≈3 × 10¹¹ TC).
– Chỉ định: giảm tiểu cầu (SL, chức năng), nguy cơ xuất huyết.
– Chống chỉ định: XHGTC miễn dịch chưa có nguy cơ xuất huyết.
5.6. Huyết tương tươi đông lạnh
– Máu đã bỏ thành phần hữu hình.
– Bảo quản: 2 năm ở -25°C.
– Chỉ định:
- Rối loạn đông máu, hemophilia chưa rõ A hay B.
- Bù protein.
- Phối hợp với khối hồng cầu cho bệnh nhân mất nhiều máu.
5.7. Tủa yếu tố VIII
Phần tủa chứa nồng độ cao yếu tố VIII và fibrinogen.
– Thành phần: yếu tố VIII, fibrinogen.
– Bảo quản: 2 năm ở -25°C.
– Chỉ định:
- Hemophilia A.
- Mất fibrinogen.
5.8. Huyết tương tươi đông lạnh bỏ tủa
Huyết tương còn lại sau lấy tủa VIII, fibrinogen.
– Thành phần: yếu tố IX, protein, khoáng, một số yếu tố đông máu khác.
– Bảo quản: -25°C, 2 năm.
– Chỉ định:
- Hemophilia B, suy gan, bỏng.
- Bù protein và áp lực keo, phối hợp KHC khi mất máu nhiều.
5.9. Các chế phẩm khác
Albumin, γ globulin đã tinh chế: tùy loại, có thể dùng cho bệnh nhân giảm albumin, nhiễm trùng nặng hoặc bệnh tự miễn.
6. MỘT SỐ QUI ĐỊNH VỀ TRUYỀN MÁU LÂM SÀNG
Máu là một loại dịch truyền đặc biệt phải theo các qui định chặt chẽ về công tác truyền máu.
6.1. Qui định về cơ sở truyền máu
Cơ sở lâm sàng có truyền máu phải có điều kiện để định nhóm máu, lưu giữ huyết thanh máu, phải có điều kiện theo dõi và xử trí tai biến truyền máu.
6.2. Các qui định yêu cầu phải kiểm tra đối chiếu, phải định nhóm máu bệnh nhân và đơn vị máu truyền tại giường bệnh.
6.3. Quy định về nhóm máu
Không được truyền hồng cầu có kháng nguyên vào cơ thể người nhận có kháng thể tương ứng và ngược lại không đưa KT nhóm máu vào cơ thể có KN tương ứng.
– Với hệ ABO phải theo nguyên tắc hòa hợp: khối hồng cầu nhóm O, huyết tương nhóm AB có thể cho các nhóm khác.
– Với hệ Rh: người bệnh nhóm Rh (D) âm khi truyền máu cần nhận máu (hồng cầu) Rh (D) âm. Trường hợp không có máu Rh (D) âm mà nếu không truyền máu có thể nguy hiểm đến tính mạng, đã liên hệ cơ sở truyền máu gần nhất vẫn không có máu Rh (D) âm thì có thể truyền máu Rh (D) dương tuy nhiên phải đảm bảo hai điều kiện: (1) Xét nghiệm máu bệnh nhân không phát hiện có kháng thể kháng D; và (2) Có sự thống nhất giữa bác sỹ điều trị, bác sỹ truyền máu và bệnh nhân hay người nhà bệnh nhân sau khi được giải thích lợi, hại của truyền máu này.
– Với các KN nhóm máu khác: cần xét nghiệm sàng lọc KTBT ở người bệnh khi vào viện nếu người bệnh là phụ nữ đã sinh đẻ hay đã được truyền máu và nay có khả năng phải truyền máu; thực hiện xét nghiệm hòa hợp phát hiện KTBT khi cấp phát máu.
6.4. Các qui định về theo dõi
Cần theo dõi và ghi chép các diễn biến trong và ngay sau truyền máu, cấp cứu bệnh nhân và giải quyết thủ tục pháp lý; có các qui định về báo cáo kết quả truyền máu.
7. TAI BIẾN TRUYỀN MÁU, XỬ TRÍ VÀ ĐỀ PHÒNG TAI BIẾN
Nhiều nguyên nhân, có tai biến nhẹ có tai biến nặng, có tai biến cấp tính là các phản ứng xảy ra trong hay ngay sau truyền máu, có tai biến muộn xảy ra nhiều ngày, nhiều tháng sau truyền máu.
7.1. Phản ứng truyền máu cấp
Trong hay ngay sau truyền có thể có những phản ứng từ nhẹ đến nặng, do miễn dịch hay không miễn dịch do tan máu hay không tan máu. Trong phạm vi bài này trình bày theo mức độ các phản ứng:
– Phản ứng truyền máu mức độ nhẹ: biểu hiện là nổi mề đay, ngứa, có thể hơi rét run. Nguyên nhân là do các chất gây dị ứng với người bệnh hay do các chất trong giờ được bạch cầu hủy giải phóng ra trong quá trình lưu trữ. Trường hợp này cần tạm dừng truyền, kiểm tra, đối chiếu lại thông tin người bệnh và đơn vị máu, theo dõi sát và có thể dùng thuốc kháng histamin, nếu sau 15 đến 20 phút bệnh nhân hết triệu chứng có thể truyền tiếp.
– Phản ứng truyền máu mức vừa: biểu hiện là rét run, có thể sốt nhẹ, mạch nhanh, huyết áp không thay đổi hay thay đổi nhẹ (thay đổi dưới 20% số tối đa); nguyên nhân có thể do chất trung gian bạch cầu giải phóng hay một số phản ứng kháng nguyên – kháng thể bạch cầu. Xử trí trường hợp này là ngừng truyền đơn vị máu, kiểm tra xem có nhầm lẫn, theo dõi thật sát, có thể dùng thuốc chống dị ứng. Nếu bệnh nhân giảm các triệu chứng và vẫn cần truyền máu thì dùng đơn vị máu khác, không dùng tiếp đơn vị máu đã có phản ứng. Nếu bệnh nhân không giảm mà các triệu chứng dần nặng lên thì xử trí như phản ứng nặng do truyền máu.
– Phản ứng mức độ nặng: là phản ứng có nguy cơ đe dọa tử vong. Ban đầu cũng có thể biểu hiện rét run nhưng bệnh nhân nhanh chóng diễn biến nặng, mạch nhanh nhỏ và có thể bắt được mạch, huyết áp giảm (giảm hơn 20% huyết áp trước truyền) dẫn đến không đo được huyết áp, đồng thời tùy nguyên nhân có thể có các biểu hiện là đau ngực, đau thắt lưng, nước tiểu đỏ trong phản ứng tan máu do bất đồng nhóm máu ABO, hay Rh (D); bệnh nhân có thể sốt cao, mê sảng, rét run, nôn máu trong trường hợp đơn vị máu bị nhiễm khuẩn; khó thở, phù bọt hồng trong truyền máu quá tải hay do phản ứng miễn dịch bạch cầu mức độ nặng (hội chứng TRALI = Transfusion Related Acute Lung Injury).
Xử trí phản ứng mức độ nặng:
(1) Khẩn trương xử trí cấp cứu người bệnh: ngừng ngay truyền máu, chế phẩm nhưng không rút dây truyền máu mà thay bằng dung dịch muối. Chữa các triệu chứng như hạ sốt, an thần, thở oxy; duy trì huyết áp bằng thuốc vận mạch (dopamin, adrenalin, hay noradrenalin), phối hợp thuốc lợi tiểu duy trì hoạt động của thận; mọi nhân viên truyền máu phối hợp tìm và điều trị nguyên nhân: nếu nghi ngờ máu bị nhiễm khuẩn thì dùng kháng sinh phổ rộng đường tĩnh mạch, kiểm tra, đối chiếu và định nhóm tại giường và nếu truyền sai nhóm máu thì dùng thuốc corticoid; nghi ngờ quá tải tim thì các biện pháp giảm khối lượng tuần hoàn, nếu nghi hội chứng TRALI thì tăng thông khí, thở oxy, dùng corticoid.
(2) Thực hiện một số yêu cầu pháp lý là mời lãnh đạo bệnh viện, thông báo và mời bác sỹ truyền máu, lấy máu của bệnh nhân và đơn vị máu (nếu còn) (để định lại nhóm, cấy tìm vi khuẩn, xét nghiệm tìm kháng thể bất thường); lấy mẫu bệnh nhân xét nghiệm phát hiện đông máu rải rác trong lòng mạch. Trường hợp diễn biến nặng cần lập biên bản ghi đầy đủ thông tin về đơn vị máu, về diễn biến phản ứng, lượng máu đã truyền.
7.2. Tai biến muộn
Tai biến muộn cũng có thể do miễn dịch hay không miễn dịch:
– Miễn dịch:
Do bất đồng miễn dịch ngoài hệ ABO: kháng thể bất thường ở người nhận phát sinh sau mang thai con có kháng nguyên mà mẹ không có, hay đã được truyền máu nhiều lần. Những trường hợp này là kháng thể IgG không gây ngưng kết hồng cầu mà kết hợp lên hồng cầu và các hồng cầu này sẽ bị hủy ở hệ thống liên võng, gây tan máu sau truyền máu, biểu hiện là bệnh nhân sốt dai dẳng một vài ngày sau truyền máu và thiếu máu, vàng da, truyền máu không hiệu quả. Xử trí là lựa chọn đơn vị máu hòa hợp, đặc biệt không mang kháng nguyên tương ứng với kháng thể ở người nhận.
Gây đồng miễn dịch: truyền máu nhất là bạch cầu, tiểu cầu có thể làm người nhận sinh kháng thể kháng HLA và về lần sau truyền sẽ phản ứng không hiệu quả. Trường hợp hòa hợp này cũng tương tự với hồng cầu như trình bày trên.
Ghép chống chủ sau truyền máu: thường gặp ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch. Sau truyền các chế phẩm có bạch cầu khoảng 10 ngày bệnh nhân có các ban đỏ, bong vảy, rối loạn tiêu hóa. Để phòng bằng cách dùng các chế phẩm đã lọc hay tia xạ bạch cầu để truyền cho bệnh nhân giảm miễn dịch như ghép cơ quan.
– Lây bệnh do truyền máu:
Truyền máu cũng có thể làm lây truyền bệnh như viêm gan virus B, C, lây truyền HIV. Phòng bằng các tuyển chọn người cho an toàn, tổ chức xét nghiệm sàng lọc tốt, đồng thời chỉ truyền máu, chế phẩm khi thật sự cần.
– Nhiễm sắt do truyền máu nhiều: biểu hiện lâm sàng là xạm da, mệt mỏi sau nhiều năm tháng phải truyền máu liên tục, xét nghiệm có ferritin tăng cao. Xử trí bằng thải sắt.
7.3. Đề phòng tai biến truyền máu
Tổ chức hệ thống cung cấp và sử dụng máu: Xây dựng hệ thống cung cấp máu tập trung để tập trung nhân lực, trang bị, có điều kiện thực hiện các quy định về an toàn truyền máu.
Thu nhận máu từ người hiến máu tình nguyện, tiến tới tăng người hiến máu tình nguyện nhắc lại; tránh lấy máu ở nhóm người có hành vi nguy cơ lây bệnh qua đường truyền máu cao.
Thực hiện các quy định về tuyển chọn người hiến máu, về xét nghiệm sàng lọc bệnh lây truyền, về xét nghiệm nhóm máu, kháng thể bất thường và các quy định về truyền máu lâm sàng.
8. HIẾN MÁU TÌNH NGUYỆN
Hiện nay tại các nước phát triển, nguồn máu là từ người cho tình nguyện nhắc lại đều đặn, nên có sự phối hợp tốt giữa trung tâm truyền máu và người cho máu để tránh lây truyền có nguy cơ truyền bệnh. Ở Việt Nam hiện nay vẫn còn một tỷ lệ máu lấy từ người cho chuyên nghiệp.
8.1. Nguy cơ do lấy máu từ người cho chuyên nghiệp
– Người cho vì tiền nên dấu bệnh tật, dấu các nguy cơ nhiễm bệnh lây qua đường truyền máu.
– Một người cho nhiều nơi, nhiều lần nên chất lượng máu thấp, ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe người cho.
– Máu thiếu để truyền, thiếu để điều chế các chế phẩm máu.
8.2. Người cho máu tình nguyện
Người cho máu tình nguyện không lấy tiền, cho máu vì mục đích cứu người nên:
– Không dấu bệnh tật, không dấu nguy cơ mắc bệnh.
– Tự sàng lọc mình, sẽ không cho máu nếu thấy mình thuộc nhóm nguy cơ có thể làm lây bệnh cho người khác.
– Tự nguyện cho máu nên không dấu địa chỉ, dễ quản lý.
8.3. Để có người cho máu tình nguyện và cho máu tình nguyện nhắc lại
(đã được kiểm tra lần trước), phải vận động kết hợp với các hình thức giáo dục, khuyến khích dân dân cùng việc tăng cao đời sống văn hóa, kinh tế xã hội.
Cập nhật thông tin mới nhất về kiến thức y học và test y học tại facebook TEST Y HỌC
Tham gia nhóm zalo: Tài Liệu Y Học Tổng Hợp
Ôn thi nội trú, sau đại học TẠI ĐÂY
