CHƯƠNG VIII. BÀI 13:
MỘT SỐ XÉT NGHIỆM HUYẾT HỌC VÀ ỨNG DỤNG LÂM SÀNG
MỤC TIÊU
|
MỞ ĐẦU
Xét nghiệm cận lâm sàng càng ngày càng được phát triển do có nhiều ứng dụng kỹ thuật trong y học. Các xét nghiệm huyết học cũng được bổ sung nhiều và có nhiều xét nghiệm mới, nguyên lý mới, cách tính hay kết quả và thậm chí một số chỉ số cũng thay đổi. Các xét nghiệm huyết học chủ yếu là:
- Xét nghiệm tế bào máu và tủy: phân tích số lượng, thành phần, hình thái, tế bào máu và cơ quan sinh máu.
- Xét nghiệm đông cầm máu: thăm dò đông cầm máu và phát hiện các rối loạn đông cầm máu.
- Xét nghiệm miễn dịch huyết học: thăm dò đặc điểm miễn dịch tế bào máu và tủy, phát hiện một số rối loạn miễn dịch.
- Xét nghiệm sinh hóa huyết học: nghiên cứu đặc điểm sinh hóa tế bào máu, chủ yếu là hồng cầu. Một số xét nghiệm liên quan đến thành phần protein huyết tương như máu lắng, độ quánh máu.
- Xét nghiệm di truyền: phát hiện các bất thường NST (nhiễm sắc thể) và bất thường gen là nguyên nhân của một số bệnh máu. Sau đây là một số xét nghiệm cụ thể và ứng dụng.
1. XÉT NGHIỆM TẾ BÀO MÁU
– Tổng phân tích tế bào máu:
- Ý nghĩa chung: phản ánh số lượng hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu, tỷ lệ khối hồng cầu (hematocrit), kích thước trung bình và độ phân giải của mỗi loại tế bào, thành phần bạch cầu, nồng độ HST (huyết sắc tố), số lượng và nồng độ HST trong hồng cầu.
- Số lượng các tế bào phản ánh tình trạng sinh máu của tủy xương, mức độ phá hủy ở máu ngoại vi hay tình trạng mất máu. Số lượng cả ba dòng (hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu) giảm trong suy hoặc giảm sinh tủy. Giảm ba dòng cũng gặp trong các hội chứng tăng phá hủy tế bào máu (cường lách hay tự miễn). Số lượng hồng cầu giảm đơn thuần đặc biệt là nồng độ HST giảm còn có thể gặp trong thiếu máu do không sinh được máu (thiếu yếu tố tạo máu), do chảy máu hoặc tan máu mà để biết nguyên nhân cần dựa vào các thông số khác.
Giảm bạch cầu đơn thuần thường gặp trong một số tình trạng giảm miễn dịch sau dùng các thuốc kháng chuyển hóa (thuốc chữa ung thư, kháng giáp trạng), thuốc kháng sinh hay nhiễm một số virus. Giảm tiểu cầu đơn thuần thường gặp trong bệnh xuất huyết giảm tiểu cầu miễn dịch.
Một số tình trạng nhiễm virus có hiện tượng giảm bạch cầu và tiểu cầu, kèm theo thay đổi tỷ lệ (tăng tỷ lệ tế bào một nhân là lympho và bạch cầu mono), đặc biệt bệnh nhân bị sốt xuất huyết Dengue có bạch cầu, tiểu cầu giảm nặng, số lượng tiểu cầu có khi dưới 10 × 10⁹/l, số lượng bạch cầu dưới 2 × 10⁹/l, thậm chí dưới 1 × 10⁹/l.
Số lượng cả ba dòng tăng trong hội chứng tăng sinh tủy mạn tính (tăng chủ yếu là hồng cầu trong bệnh đa hồng cầu, tăng bạch cầu trong bệnh lơ xê mi kinh hay xơ tủy và tăng tiểu cầu trong bệnh tăng tiểu cầu tiên phát). Ngoài ra số lượng hồng cầu tăng đơn thuần có thể gặp ở bệnh nhân suy tim, tiểu cầu tăng cao ở bệnh nhân sau cắt lách, số lượng bạch cầu tăng sau điều trị corticoid, nhất là dùng liều cao.
Tỷ lệ khối hồng cầu phản ánh mức thiếu máu, hay cô đặc máu dùng để chẩn đoán, theo dõi điều trị đa hồng cầu, theo dõi tình trạng mất nước, mất huyết tương của bệnh nhân (ỉa chảy mất nước, sốt xuất huyết hay bỏng nặng).
Các thông số hồng cầu (MCV, MCH, MCHC) nói lên đặc điểm hồng cầu trong thiếu máu qua đó định hướng tìm nguyên nhân thiếu máu. Trong thiếu máu nếu MCV nhỏ hơn 80 fl (femtolit), MCHC dưới 320 g/l là thiếu máu nhược sắc hồng cầu nhỏ, gặp trong thiếu máu thiếu sắt hoặc bệnh huyết sắc tố. Nếu MCV trên 100 fl là thiếu máu hồng cầu to gặp trong thiếu máu do thiếu vitamin B12, hay rối loạn sinh tủy. Ở bệnh tan máu tự miễn do hồng cầu to trung kết, một số hồng cầu tương to nên nhiều khi kết quả xét nghiệm công thức thấy tăng cao MCV.
MCV bình thường từ 80-100 fl (femtolit = 10⁻¹⁵ l). Người ta thấy ở người lớn thiếu máu tủy giảm sinh (hồng cầu lưới dưới 2%) thì nếu MCV nhỏ hơn 70 fl thường là do thiếu sắt hay thalassemia, MCV từ 70-80 fl thường là do bệnh mạn tính có nguyên nhân nội tiết như cường giáp trạng. Hồng cầu to với MCV trên 120 fl thì ít gặp và thường do thiếu vitamin B12 hay acid folic, MCV từ 100-120 fl thường do nghiện rượu hay bệnh lý gan, suy tủy xương.
Thông số RDW (độ phân bố của kích thước hồng cầu): nói lên mức độ phân bố các hồng cầu có kích thước khác nhau. Phân bố rộng tức là tăng cao RDW trong một số thiếu máu tan máu đặc biệt thiếu máu do bệnh huyết sắc tố và thiếu máu thiếu sắt.
Mối liên quan giữa MCV và RDW cũng có vai trò trong định hướng nguyên nhân thiếu máu: nếu bệnh nhân có hồng cầu lưới < 2%, MCV thấp thì RDW cao gợi ý thiếu máu do thiếu sắt nhưng RDW bình thường hay gặp trong thiếu máu do bệnh mạn tính.
Thành phần bạch cầu (tỷ lệ và số lượng các loại bạch cầu) có giá trị phản ánh mức sinh máu ở tủy và phản ứng của cơ thể với tình trạng nhiễm vi khuẩn, virus. Tỷ lệ lympho tăng kèm theo giảm số lượng bạch cầu gặp trong suy tủy hay giảm sinh tủy, hoặc nhiễm một số virus. Tỷ lệ bạch cầu đoạn trung tính tăng trong nhiễm khuẩn, tỷ lệ bạch cầu đoạn ưa acid tăng trong nhiễm ký sinh trùng, tỷ lệ tế bào mono tăng trong một số bệnh nhiễm virus.
Thông số MPV (thể tích trung bình tiểu cầu), PDW (phân bố tiểu cầu) nói lên kích thước trung bình và phân bố của tiểu cầu. Hai thông số này tăng trong thiếu tiểu cầu do rối loạn sinh tiểu (rối loạn sinh tủy). MPV tăng cao trong bệnh rối loạn chức năng tiểu cầu – bệnh Bernard Soulier.
- Huyết đồ
Thực chất là xét nghiệm phân tích tế bào máu như trên kết hợp tỷ lệ hồng cầu lưới và có ý kiến nhận xét của bác sỹ chuyên khoa.
- Hồng cầu lưới: là hồng cầu mới trưởng thành, phản ánh tình trạng sinh máu của tủy xương. Khi xét nghiệm huyết đồ phải nhận xét hồng cầu lưới, tuy nhiên hiện nay nhiều máy đếm tế bào có khả năng phân tích hồng cầu lưới do vậy có thể xem kết quả ở xét nghiệm tế bào máu (nếu bác sỹ lâm sàng yêu cầu). Hồng cầu lưới tăng trong thiếu máu có phục hồi như tan máu, thiếu máu thiếu sắt hay thiếu B12 đang được điều trị. Hồng cầu lưới giảm (ở tủy xương) trong suy tủy, giảm sinh tủy. Hiện nay người ta đánh giá hồng cầu lưới dựa vào tỷ lệ phần trăm (so với toàn bộ hồng cầu), hay dựa vào số tuyệt đối. Khi thiếu máu có hồng cầu lưới từ 2% trở lên hoặc số lượng từ 100.000/mm³ trở lên là thiếu máu có phản ứng tăng sinh, nếu hồng cầu lưới nhỏ hơn 2% là thiếu máu không có phản ứng tăng sinh. Thông số này có ý nghĩa trong định hướng nguyên nhân thiếu máu.
- Máu lắng
Tốc độ máu lắng là khoảng cách hồng cầu lắng tự nhiên sau một và hai giờ. Bình thường khoảng cách lắng 1/2 giờ thứ nhất và 1/4 giờ thứ 2 nhỏ hơn 10 mm. Máu lắng tăng khi có thay đổi độ nhớt máu, thay đổi thành phần globulin do viêm nhiễm.
- Xét nghiệm tập trung bạch cầu
Khi số lượng bạch cầu bệnh nhân quá thấp cần tập trung các bạch cầu để phân loại thành phần bạch cầu, ý nghĩa tương tự như phân bạch cầu trong tổng phân tích tế bào máu.
- Tủy đồ (tế bào tủy sinh máu)
Phản ánh tình trạng số lượng và thành phần tế bào sinh máu.
- Số lượng bình thường từ 30-100 × 10⁹/l. Số lượng tăng cao trong tăng sinh tủy cấp (lơ xê mi) hay mạn (đa hồng cầu, tăng tiểu cầu tiên phát, đặc biệt trong bệnh lơ xê mi kinh), số lượng tăng vừa khi tủy đáp ứng nhu cầu phục hồi tế bào ngoại vi (tăng…).
sinh lành tính) như thiếu máu, nhiễm trùng. Một số trường hợp rối loạn sinh tủy, lơ xê mi cấp cũng có thể tăng sinh mức độ vừa phải do đó cần dựa vào thành phần các tế bào trong tủy.
- Thành phần tế bào:
Tỷ lệ giữa các dòng: bình thường nguyên hồng cầu chiếm khoảng 20-25% tế bào có nhân trong tủy. Tỷ lệ này tăng phản ánh tình trạng tăng sinh hồng cầu gặp trong thiếu máu có phục hồi hay đa hồng cầu. Tỷ lệ tăng và kèm rối loạn hình thái, có tế bào ác tính trong bệnh lơ xê mi cấp dòng hồng cầu (M6 theo FAB).
Tỷ lệ các lứa tuổi trong một dòng: bình thường trong một dòng các tế bào càng non thì số lượng càng ít. Giảm các tế bào đầu dòng gặp trong suy tủy, xơ tủy. Tăng các tế bào đầu dòng trong bệnh ác tính (lơ xê mi).
- Mẫu tiểu cầu: có thể gặp nhiều hay ít mẫu tiểu cầu: nhiều mẫu tiểu cầu trong bệnh tăng tiểu cầu tiên phát, nhiều mẫu tiểu cầu ở tuổi chưa sinh tiểu cầu trong bệnh xuất huyết giảm tiểu cầu, ít hoặc không gặp mẫu tiểu cầu gặp trong suy tủy xương.
- Hình thái tế bào trong tủy: hình thái bình thường hoặc có thay đổi nhẹ trong tủy bình thường và tăng sinh lành tính. Hình thái rối loạn trong rối loạn sinh tủy, hình thái bất thường, ác tính trong bệnh lơ xê mi cấp.
- Tế bào ung thư di căn: Thỉnh thoảng có thể gặp tế bào ung thư của tổ chức khác di căn vào tủy, lúc này cần xét nghiệm mô bệnh học tủy và thăm dò các cơ quan nghi ngờ để tìm ung thư nguyên phát.
- Hồng cầu lưới trong tủy: (xem phần trên)
Cần phối hợp các thông số tế bào trong tủy để chẩn đoán bệnh. Có thể tóm tắt sơ bộ như sau:
Tóm tắt một số thông số xét nghiệm tủy đồ và ý nghĩa chẩn đoán
| Thông số | Tình trạng | Biểu hiện kèm theo | Bệnh có thể gặp |
|---|---|---|---|
| Số lượng TB tủy | Giảm | Giảm 3 dòng, không có tế bào non | Tủy giảm sinh, Suy tủy |
| Có tế bào non bất thường trên 20% | Lơ xê mi cấp | ||
| Kèm rối loạn hình thái. Có thể có tế bào non dưới 20% | Rối loạn sinh tủy | ||
| Tăng | Biệt hóa và trưởng thành bình thường | Tăng sinh tủy, Phản ứng tăng sinh lành tính | |
| Không biệt hóa và trưởng thành | Lơ xê mi cấp | ||
| Tỷ lệ giữa nguyên HC/TB có nhân | Giảm | Kèm giảm tế bào dòng hạt, số lượng TB tủy giảm | Suy tủy, giảm sinh tủy |
| Kèm rối loạn hình thái | Rối loạn sinh tủy | ||
| Tăng | Trưởng thành được, có tăng số lượng, kèm tăng hồng cầu ngoại vi | Đa hồng cầu | |
| Có thể tăng số lượng các dòng khác, trưởng thành bình thường, kèm thiếu HC ngoại vi | Thiếu máu có phục hồi | ||
| Rối loạn trưởng thành, nhiều tế bào non, ức chế các dòng khác. Tỷ lệ nguyên HC/TB có nhân trong tủy trên 50% | Lơ xê mi dòng HC (M6) | ||
| MTC | Tăng | Tăng cao tiểu cầu ngoại vi | Bệnh tăng tiểu cầu |
| Kèm tăng dòng khác, tăng tiểu cầu ngoại vi vừa phải | Phản ứng, nhiễm trùng, Sau cắt lách | ||
| Tăng loại MTC chưa sinh TC, giảm TC ngoại vi | Xuất huyết giảm TC | ||
| Không trưởng thành được. Có tế bào ác tính | Lơ xê mi cấp MTC | ||
| Giảm | Kèm giảm các dòng khác, TB máu ngoại vi giảm | Suy tủy xương | |
| Giảm riêng MTC, TC ngoại vi giảm | Giai đoạn cuối của bệnh XHGTC | ||
| Kèm rối loạn hình thái | Rối loạn sinh tủy |
HC: hồng cầu, MTC: mẫu tiểu cầu, TB: tế bào, TC: tiểu cầu, XHGTC: xuất huyết giảm tiểu cầu.
Ngoài ra còn một số xét nghiệm khác như hoá tế bào, sinh thiết tủy xương, lách đồ… được thực hiện ở các cơ sở chuyên khoa tại bệnh viện lớn nhằm chẩn đoán, phân loại bệnh máu và cơ quan tạo máu.
2. XÉT NGHIỆM ĐÔNG MÁU
Đông máu là quá trình máu chuyển từ trạng thái lỏng sang trạng thái rắn nhằm bịt lỗ thủng thành mạch để máu không chảy ra ngoài. Đông máu là một phần ứng đáp chuyển liên tục qua nhiều giai đoạn có sự tham gia của nhiều yếu tố. Người ta chia ra 3 giai đoạn chính là: (1) Cầm máu còn gọi là giai đoạn thành mạch, (2) Đông máu huyết tương, (3) Tiêu sợi huyết.
– Cầm máu (giai đoạn thành mạch) là giai đoạn đầu tiên được bắt đầu ngay khi thành mạch bị tổn thương, tham gia giai đoạn này là các yếu tố: tiểu cầu, thành mạch, sợi huyết (fibrinogen).
– Đông máu huyết tương là quá trình hoạt hoá dây chuyền các yếu tố đông máu của huyết tương để chuyển máu thành thể rắn. Người ta chia ra hai con đường là đường đông máu nội sinh có sự tham gia của nhiều yếu tố từ các yếu tố tiếp xúc đến việc tạo thành thromboplastin nội sinh rồi tạo thành thrombin để thrombin chuyển fibrinogen thành fibrin và đường ngoại sinh với sự tham gia của các yếu tố II, V, VII, X cùng tạo ra thromboplastin gọi là thromboplastin ngoại sinh.
– Giai đoạn tiêu sợi huyết là sự phá hủy cục đông nhờ plasmin. Liên quan tới giai đoạn này là các yếu tố kích thích và yếu tố ức chế quá trình chuyển plasminogen thành plasmin.
Như vậy có thể chia các xét nghiệm theo ba giai đoạn trên. Tuy nhiên thực tế quá trình đông máu, tiêu cục máu hết sức phức tạp có liên quan giữa các giai đoạn, quá trình và luôn xen kẽ với nhau.
2.1. Các xét nghiệm thăm dò giai đoạn cầm máu
– Dấu hiệu dây thắt: nguyên lý là tạo ra sự ứ đọng máu trong mao mạch để tăng áp lực máu lên mạch máu, kiểm tra sức chịu đựng của mao mạch. Dấu hiệu dây thắt dương tính khi sức bền thành mạch kém do bệnh thành mạch như thiếu vitamin C, viêm mao mạch, bệnh giảm chất lượng hay số lượng tiểu cầu.
– Thời gian máu chảy: bình thường dưới 5 phút. Thời gian máu chảy kéo dài trong bệnh về thành mạch hoặc giảm số lượng hay chất lượng tiểu cầu.
– Co cục máu: sau khi máu đông sợi huyết sẽ co lại kéo các thành phần hình thành tạo nên cục máu. Bình thường cục máu co hoàn toàn. Cục máu không co hay co không hoàn toàn trong bệnh về số lượng hay chất lượng tiểu cầu hoặc mất sợi huyết.
2.2. Xét nghiệm thăm dò đông máu huyết tương
– Thời gian máu đông: là xét nghiệm đơn giản và thiếu chính xác nhất là khi tiến hành theo phương pháp Milian (cho giọt máu lên phiến kính và theo dõi đến lúc đông). Bình thường thời gian máu đông từ 7 phút đến 10 phút. Thời gian máu đông kéo dài trong rối loạn đông máu nội sinh như giảm nặng yếu tố VIII, IX (hemophilia), hay đang điều trị bằng heparin. Do xét nghiệm này có độ chính xác không cao nên có thể kết quả xét nghiệm bình thường nhưng bệnh nhân vẫn có bệnh về đông máu – Hiện nay không nên sử dụng xét nghiệm này.
– Thời gian Howell: là xét nghiệm nhạy hơn, dùng để kiểm tra đông máu nội sinh, tuy nhiên vai trò của tiểu cầu cũng liên quan đến kết quả xét nghiệm. Thời gian Howell bình thường từ 1 phút 15 giây đến 2 phút 30 giây. Thời gian Howell kéo dài trong rối loạn đông máu nội sinh (hemophilia), có kháng đông lưu hành, điều trị bằng heparin hay giảm nặng số lượng, chất lượng tiểu cầu.
– Thời gian thromboplastin hoạt hoá từng phần (APTT: activated partial thromboplastin time). Xét nghiệm tương tự thời gian Howell nhưng không có sự tham gia của tiểu cầu. APTT bình thường từ 27 đến 35 giây tuỳ theo labo và kỹ thuật. Xét nghiệm APTT cần thực hiện kèm mẫu chứng và kết quả coi là kéo dài khi xét nghiệm của bệnh nhân kéo dài trên 8 giây so với chứng hay tỷ lệ APTT bệnh nhân/APTT chứng trên 1,2. APTT kéo dài trong rối loạn đông máu nội sinh do giảm hoạt tính một hay nhiều yếu tố (như hemophilia), có kháng đông lưu hành, điều trị bằng heparin.
– Thời gian prothrombin (PT – prothrombin time): là xét nghiệm kiểm tra đông máu ngoại sinh. Kết quả có thể phản ánh bằng thời gian, tỷ lệ % phức hợp prothrombin so với người bình thường hay chỉ số INR (International Normalized Ratio) là chỉ số giữa PT của bệnh nhân so với PT bình thường (có tính hệ số của từng loại sinh phẩm theo quy định quốc tế). Bình thường PT từ 11-13 giây, tỷ lệ prothrombin từ 70-140%, INR từ 0,9-1,1. PT kéo dài trong giảm một hay nhiều yếu tố thuộc phức hệ prothrombin (bệnh suy gan, đông máu rải rác, thiếu vitamin K, điều trị bằng thuốc kháng vitamin K…). Xét nghiệm này cũng được sử dụng để theo dõi điều trị thuốc kháng đông dẫn xuất coumarin.
– Thời gian thrombin (TT: thrombin time): kiểm tra giai đoạn chuyển từ fibrinogen thành fibrin. Xét nghiệm này cũng cần tiến hành song song với mẫu chứng. TT kéo dài khi kết quả ở bệnh nhân dài hơn chứng trên 5 giây. TT kéo dài trong các bệnh giảm nặng fibrinogen, có chất ức chế thrombin (như heparin).
– Định lượng fibrinogen: bình thường nồng độ fibrinogen 2-5 g/l. Nồng độ tăng trong viêm, nhiễm trùng, giảm trong mất sợi huyết.
2.3. Xét nghiệm phát hiện chất kháng đông (chất ức chế đông máu)
Như trình bày trên, khi xét nghiệm có rối loạn thì hoặc là do thiếu yếu tố hoặc là do có chất ức chế đông máu.
Yếu tố đông máu chủ yếu là các protein do vậy có thể trở thành kháng nguyên và bị kháng thể kháng lại. Kháng thể có thể do chính cơ thể sinh ra (bệnh tự miễn). Khi có các xét nghiệm bị rối loạn. Xét nghiệm phát hiện kháng đông là phát hiện hiện tượng này.
Bình thường độ dao động hoạt tính yếu tố đông máu rất lớn ví dụ hoạt tính yếu tố VIII bình thường từ 30 – 200%. Như vậy dù một người có hoạt tính yếu tố VIII là 30% thì xét nghiệm APTT người này vẫn bình thường. Do đó nếu trộn huyết tương của người bình thường với huyết tương của một người bị giảm một yếu tố nào đó rồi thực hiện xét nghiệm thì kết quả xét nghiệm APTT hay PT vẫn bình thường (do huyết tương bình thường đã bù yếu tố thiếu hụt).
Để phát hiện chất ức chế đông máu người ta trộn huyết tương của bệnh nhân (có kết quả xét nghiệm PT hoặc APTT, hoặc TT kéo dài) với huyết tương người bình thường rồi sau đó xét nghiệm huyết tương trộn này. Nếu kết quả bình thường tức là bệnh nhân bị giảm yếu tố đông máu, cần điều trị nguyên nhân hoặc bù yếu tố. Nếu kết quả xét nghiệm kéo dài thì chứng tỏ trong huyết tương có chất ức chế đông máu, khi đó cần điều trị bằng phối hợp với ức chế miễn dịch. Bác sỹ điều trị phải nắm rõ điều này để chỉ định xét nghiệm tìm chất ức chế đông máu trước khi định xét nghiệm định lượng yếu tố mới khi gặp bệnh nhân có xét nghiệm sàng lọc về đông máu bị rối loạn.
2.4. Xét nghiệm thăm dò tiêu sợi huyết và phát hiện đông máu trong lòng mạch
– Thời gian tiêu euglobulin (còn gọi là nghiệm pháp Von – Kaulla): là thời gian tiêu cục máu đông sau khi loại trừ các yếu tố ức chế chuyển plasminogen thành plasmin. Bình thường thời gian này kéo dài hơn 1 giờ. Khi thời gian tiêu euglobulin ngắn hơn 1 giờ gọi là nghiệm pháp Von – Kaulla dương tính, gặp trong hội chứng tiêu sợi huyết. Tuỳ theo mức rút ngắn mà chia ra: tiêu sợi huyết tối cấp (thời gian tiêu euglobulin dưới 15 phút), tiêu sợi huyết cấp (thời gian tiêu euglobulin từ 15 đến dưới 30 phút), tiêu sợi huyết (thời gian tiêu euglobulin từ 30 đến dưới 45 phút), tiêu sợi huyết tiềm tàng (thời gian tiêu euglobulin từ 45 phút đến 1 giờ).
– Nghiệm pháp rượu: là xét nghiệm bán định lượng, đánh giá các chất trung gian của quá trình thoái hoá fibrinogen và fibrin. Nghiệm pháp rượu dương tính nói lên đang có đông máu trong lòng mạch (đông máu rải rác trong mạch máu). Người ta có thể căn cứ vào mức độ dương tính để trả lời kết quả là NP rượu: +; ++; +++; hay ++++.
– Định lượng D dimer: là xét nghiệm định lượng các chất trung gian trên nên chính xác hơn NP rượu. D dimer là sản phẩm thoái hoá của fibrin, D dimer tăng cao trong trường hợp đang có đông máu trong lòng mạch.
2.5. Xét nghiệm đông máu chuyên sâu
– Định lượng yếu tố và đồng yếu tố đông máu, yếu tố kháng đông sinh lý, yếu tố kháng đông do điều trị được thực hiện tại các labo chuyên sâu giúp chẩn đoán một số bệnh rối loạn đông máu, tìm nguyên nhân chảy máu hay tắc mạch trong một số trường hợp.
– Định lượng Anti – Xa: là xét nghiệm theo dõi điều trị hoạt độ dự phòng huyết khối bằng heparin trọng lượng phân tử thấp (Lovenox…). Nồng độ anti-Xa rất phụ thuộc vào thời gian lấy bệnh phẩm sau tiêm heparin. Vì vậy phải lấy bệnh phẩm vào một thời điểm nhất định, thường là 3-4 giờ sau tiêm. Để điều trị huyết khối thì nồng độ anti-Xa cần đạt 0,5-1 UI anti-Xa/ml, dự phòng huyết khối nồng độ anti-Xa cần đạt 0,2-0,4 UI anti-Xa/ml.
– Xét nghiệm phát hiện kháng đông lupus: (Xét nghiệm phát hiện LA).
– Xét nghiệm đánh giá ngưng tập tiểu cầu: thực hiện xét nghiệm đo độ ngưng tập tiểu cầu với một số chất kích tập để phát hiện bệnh chức năng tiểu cầu như bệnh von Willebrand (thiếu một số GP nên giảm ngưng tập với ristocetin), bệnh suy nhược tiểu cầu Glanzmann (giảm ngưng tập tiểu cầu với nhiều chất kích tập).
Xét nghiệm đánh giá chức năng tiểu cầu (FPA) bằng máy chuyên biệt có thể phân tích để đánh giá chức năng tiểu cầu.
Xét nghiệm RoTEM: sử dụng phương pháp theo dõi đàn hồi cục máu trong 1 số điều kiện để đánh giá các rối loạn đông máu.
2.6. Ứng dụng lâm sàng
Như vậy để sàng lọc các rối loạn đông máu cần thực hiện xét nghiệm thăm dò cầm máu, đông máu huyết tương nội và ngoại sinh. Bộ xét nghiệm thông dụng hiện nay là (1) Thời gian máu chảy hoặc đếm số lượng tiểu cầu; (2) APTT; (3) PT; (4) Định lượng fibrinogen hoặc TT. Bộ ba xét nghiệm (2), (3), (4) có thể gọi là xét nghiệm đông máu cơ bản. Các nhà huyết học Việt Nam hiện nay đã thống nhất đề xuất sử dụng bộ xét nghiệm trên để làm bộ xét nghiệm sàng lọc bất thường đông máu trước phẫu thuật.
Khi bệnh nhân có chảy máu thì ngoài các xét nghiệm trên nên thực hiện xét nghiệm thăm dò tiêu sợi huyết và phát hiện đông máu trong lòng mạch.
Nếu bệnh nhân có rối loạn cầm máu kỳ đầu thì tiếp tục thực hiện các xét nghiệm chuyên sâu là thăm dò thành mạch, chức năng tiểu cầu.
Nếu bệnh nhân có rối loạn (kết quả xét nghiệm PT hay APTT kéo dài), thì phát hiện chất ức chế rồi thực hiện định lượng yếu tố (nếu xét nghiệm không phát hiện có chất ức chế). Bệnh nhân điều trị kháng đông là heparin thì xét nghiệm APTT hay thời gian Howell và duy trì thời gian kéo dài hơn bình thường khoảng 2-3 lần. Nếu điều trị heparin trọng lượng phân tử thấp thì xét nghiệm định lượng anti-Xa và duy trì nồng độ 0,3-1 UI/ml. Nếu điều trị kháng đông dicumarin thì xét nghiệm PT và duy trì INR khoảng 2,0-3,0 theo yêu cầu của điều trị.
3. MỘT SỐ XÉT NGHIỆM KHÁC
– Xét nghiệm sức bền hồng cầu: cho hồng cầu vào các dung dịch muối NaCl có nồng độ nhược trương khác nhau để đánh giá sức bền của màng hồng cầu. Kết quả xét nghiệm thể hiện ở hai thời điểm là bắt đầu tan (nồng độ dung dịch bắt đầu có hồng cầu tan) và tan hoàn toàn (nồng độ dung dịch làm tan toàn bộ hồng cầu). Bình thường bắt đầu tan ở 4,5-5‰, tan hoàn toàn ở 3-3,5‰. Sức bền hồng cầu giảm (tan ở nồng độ cao hơn) trong bệnh tan máu tự miễn, bệnh màng hồng cầu. Sức bền hồng cầu tăng (tan ở nồng độ thấp hơn, có khi ở nồng độ 1‰ hồng cầu vẫn chưa tan hết) trong bệnh huyết sắc tố, các bệnh có hồng cầu to do tắc mật. Có thể kết quả xét nghiệm được thể hiện là tỷ lệ hồng cầu tan ở các nồng độ khác nhau của dung dịch muối.
– Điện di huyết sắc tố: xét nghiệm phát hiện các thành phần huyết sắc tố giúp chẩn đoán các bệnh huyết sắc tố. Bình thường ở người trưởng thành HST A chiếm tới khoảng 96%, HST A2 chiếm dưới 3,5%, ngoài ra còn tỷ lệ rất thấp HST F. Trẻ em nhỏ tuổi có thể còn HST F. Trong bệnh thalassemia HST A giảm. Tuỳ theo loại bệnh và thể nặng nhẹ mà các thành phần HST bị thay đổi. HST F và A2 tăng cao trong bệnh β thalassemia, HST H trong bệnh α thalassemia. Điện di HST cũng có thể phát hiện được các HST bất thường như HST E (thường gặp ở Việt Nam), HST S…
– Xét nghiệm định lượng một số Ig, xét nghiệm điện di miễn dịch giúp tìm bất thường các globulin miễn dịch góp phần chẩn đoán và theo dõi điều trị bệnh đa u tủy xương.
– Xét nghiệm mô bệnh học tủy sinh máu: lấy mảnh tổ chức tủy sinh máu sinh thiết sau quan sát cấu trúc giúp chẩn đoán bệnh suy tủy xương, ung thư di căn và một số tình trạng bệnh lý khác.
– Xét nghiệm Coombs (nghiệm pháp Coombs): là xét nghiệm phát hiện kháng thể đã cố định trên hồng cầu hay còn lưu hành trong huyết thanh. Một số kháng thể cố định lên hồng cầu nhưng chưa gây ngưng kết hồng cầu được gọi là kháng thể thiếu, người ta dùng một chất kháng lại kháng thể để nối các kháng thể đã cố định trên hồng cầu và do đó gây được ngưng kết. Tuỳ mức độ ngưng kết mà có kết quả là dương tính +, hay ++, +++. Phản ứng Coombs trực tiếp dương tính nói lên trên hồng cầu đã có kháng thể, gặp trong tan máu tự miễn. Phản ứng Coombs gián tiếp là tìm kháng thể trong huyết thanh bằng cách ủ huyết thanh với hồng cầu nhóm máu O sau đó dùng kháng kháng thể để phát hiện. Phản ứng dương tính nói lên trong huyết thanh có kháng thể bất thường chống lại hồng cầu O, gặp ở người đã được truyền máu hay chửa đẻ nhiều lần hay trong tan máu tự miễn.
– Chuyển dạng lympho: xem tế bào chuyển dạng khi có kháng nguyên; nhằm đánh giá phản ứng miễn dịch.
– Các xét nghiệm chuyên sâu như xét nghiệm nhiễm sắc thể, xét nghiệm gen phát hiện bất thường NST hay bất thường gen trong một số bệnh máu hay bệnh di truyền. Xét nghiệm các dấu ấn bề mặt tế bào máu giúp phát hiện đặc trưng màng tế bào để biết tế bào bệnh thuộc về tế bào dòng nào và ở tuổi nào, xét nghiệm nhuộm hoá tế bào để phát hiện bản chất dòng tế bào được ứng dụng trong phân loại lơ xê mi cấp.
