CHƯƠNG VIII. BÀI 12:
U LYMPHO ÁC TÍNH
MỤC TIÊU
|
1. ĐỊNH NGHĨA VÀ PHÂN LOẠI U LYMPHO ÁC TÍNH
U lympho ác tính (ULPAT) là bệnh lý ác tính của các cơ quan lympho gây nên do sự phát triển ác tính của tế bào lympho. ULPAT được chia thành hai nhóm chính: ULPAT không Hodgkin và Hodgkin.
2. DỊCH TỄ HỌC
ULPAT là 1 trong 10 bệnh ung thư hay gặp nhất trên thế giới, và chiếm khoảng 3% – 4% tất cả các loại ung thư. Trong nhóm ULPAT, ULPAT không Hodgkin chiếm khoảng 60% – 70% còn lại là u lympho Hodgkin. Bệnh gặp ở nam nhiều hơn nữ.
3. BỆNH NGUYÊN
Cho đến nay, nguyên nhân sinh bệnh của ULPAT vẫn chưa được biết một cách chắc chắn. Tuy vậy, các nghiên cứu về dịch tễ học đã đưa ra các bằng chứng minh mối liên hệ quan trọng giữa ULPAT và các yếu tố môi trường, chế độ ăn, virus…
Việc sử dụng các thuốc trừ sâu hoặc một số loại thuốc diệt cỏ chứa chất dioxin làm tăng nguy cơ mắc ULPAT. Một số hóa chất như acid phenoxyacetic, chlorophenol, benzen, các hóa chất điều trị ung thư cũng làm tăng tỷ lệ mắc bệnh.
Tình trạng suy giảm miễn dịch làm tăng nguy cơ mắc bệnh ULPAT. Tỷ lệ ULPAT tăng cao ở những bệnh nhân AIDS (cao gấp 100 lần so với người bình thường). Một số các bệnh tự miễn khác như viêm khớp dạng thấp, Sjogren và ghép tạng cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh.
Yếu tố di truyền cũng đã được đề cập đến như một yếu tố nguy cơ tuy nhiên vẫn chưa có những bằng chứng rõ ràng về mối liên hệ giữa di truyền và bệnh ULPAT.
Một số tác nhân gây nhiễm trùng, đặc biệt là virus, cũng liên hệ khá chặt chẽ với tỷ lệ mắc bệnh ULPAT. Virus Epstein-Barr (EBV) là một loại virus được đề cập đến nhiều nhất như là một nguyên nhân gây ULPAT cả Hodgkin lẫn không Hodgkin. Nhiễm HTLV1 có thể gây ra một dạng đặc biệt của ULPAT là u lympho ác tính/lơ-xê-mi tế bào T.
4. TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG
Triệu chứng lâm sàng điển hình của ULPAT là sự xuất hiện của các khối u. ULPAT là bệnh của hệ thống lympho nên u có khởi đầu hay gặp nhất là hạch to. Hạch to không kèm theo biểu hiện viêm, mật độ thường chắc. Hạch to một vị trí hoặc nhiều vị trí cùng một lúc. Có thể gặp hạch to ở vùng cổ, thượng đòn, nách hoặc trung thất, hạch ở bụng v.v…
Trong ULPAT, có thể gặp các khối u ngoài hạch như u thần kinh, u da, u dạ dày, u gan, u lách… Các tổn thương ngoài hạch thường hay gặp trong ULPAT không Hodgkin hơn Hodgkin. Trong bệnh Hodgkin, thường gặp hạch to ở vùng trên cơ hoành, đặc biệt hay gặp ở trung thất. Trong ULPAT không Hodgkin, tỷ lệ bệnh nhân có hạch to cả trên và dưới cơ hoành không có sự khác biệt, đồng thời tỷ lệ bệnh nhân có u trong ổ bụng cũng hơn nhiều so với u lympho Hodgkin.
Sự xuất hiện của các khối u có thể tích lớn có thể gây ra các biểu hiện chèn ép như ho, khó thở, nuốt nghẹn, đau bụng hoặc hội chứng trung thất, hội chứng tăng áp lực nội sọ…
Ba triệu chứng toàn thân được đề cập đến nhiều nhất là: sốt kéo dài, gầy sút, (giảm trên 10% trọng lượng cơ thể trong vòng 6 tháng), không rõ nguyên nhân và ra mồ hôi trộm về đêm. Các triệu chứng này được gọi là triệu chứng B và thường phản ánh mức độ phát triển của ung thư. Đối với u lympho Hodgkin, có thể gặp triệu chứng ngứa là một biểu hiện thường không có trong ULPAT không Hodgkin.
5. XÉT NGHIỆM
Hạch đồ và sinh thiết hạch là các xét nghiệm quyết định chẩn đoán và giúp phân loại ULPAT về mặt mô bệnh học. Các xét nghiệm này phối hợp với phương pháp hóa mô miễn dịch được sử dụng để phân loại miễn dịch tế bào bị tổn thương.
Huyết đồ, tủy đồ và sinh thiết tủy cho biết có hay không tình trạng xâm lấn tủy xương của ULPAT, giúp cho phân chia giai đoạn được chính xác. Xét nghiệm máu lắng cũng có những giá trị nhất định trong tiên lượng bệnh đặc biệt là đối với bệnh Hodgkin.
Xét nghiệm sinh hóa cho thấy nồng độ acid uric, LDH thường tăng và tăng rất cao trong ULPAT không Hodgkin độ ác tính cao.
Các xét nghiệm virus như HIV, HTLV1, EBV.
Các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh: X-quang lồng ngực, siêu âm bụng, chụp cắt lớp, chụp cộng hưởng từ hạt nhân, chụp bạch mạch, chụp cắt lớp ghi hình phóng xạ positron emission tomography (PET), và PET-CT có giá trị phát hiện các tổn thương sâu và đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán giai đoạn của bệnh cũng như theo dõi kết quả điều trị.
Chụp cắt lớp ghi hình phóng xạ (PET) cho khả năng phát hiện các hạch, vị trí ngoài hạch (bao gồm cả tủy xương) với độ nhạy và độ đặc hiệu rất cao. Phương pháp này dựa trên nguyên lý các khối u có nhu cầu sử dụng glucose cao hơn tổ chức bình thường. Nếu gắn với 18-fluorodeoxyglucose (18F-FDG), các dược chất phóng xạ sẽ tập trung tại các khối u ác tính nhiều hơn tổ chức lành. Hiện nay, người ta kết hợp PET với CT Scan – phương pháp chụp PET-CT cho phép ghép chồng hình ảnh của CT và xạ hình (PET) lên nhau. Sự phối hợp hình ảnh cấu trúc giải phẫu của CT và hình ảnh chức năng chuyển hóa của PET làm tăng độ nhạy, độ đặc hiệu trong chẩn đoán khối u ác tính.
6. CHẨN ĐOÁN GIAI ĐOẠN VÀ PHÂN LOẠI THEO THỂ BỆNH
6.1. Chẩn đoán giai đoạn bệnh
Dựa trên thăm khám lâm sàng kết hợp với kết quả xét nghiệm, ULPAT được phân chia thành các giai đoạn lâm sàng theo phân loại Ann-Arbor như sau:
– Giai đoạn I: tổn thương một vùng hạch (I) hoặc một cơ quan ngoài hạch duy nhất;
– Giai đoạn II: tổn thương hai hay nhiều vùng hạch ở cùng một phía của cơ hoành; số lượng các vùng tổn thương được ghi chú bên cạnh số la mã chỉ giai đoạn – ví dụ II3.
– Giai đoạn III: tổn thương các vùng hạch hoặc cơ quan ở cả hai phía của cơ hoành.
– Giai đoạn IV: ngoài các tổn thương mô tả ở giai đoạn III còn có thêm tổn thương của một hay nhiều cơ quan ngoài hạch khác.
Ngoài ra mỗi giai đoạn còn được phân loại tùy theo việc có hay không có triệu chứng toàn thân:
– A: không có triệu chứng toàn thân.
– B: có triệu chứng toàn thân.
– E: tổn thương một cơ quan ngoài hạch.
6.2. Phân loại theo tổ chức học
6.2.1. U lympho Hodgkin
Theo xếp loại của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) năm 2016, u lympho Hodgkin được chia thành 05 thể, gồm 04 thể cổ điển (từ 1 đến 4) và thể thứ 5 mới được WHO bổ sung.
1. Thể ưu thế lympho bào: ít gặp, chiếm khoảng 5% các trường hợp Hodgkin. Thường gặp ở người trẻ, diễn biến lâm sàng âm thầm và có tiên lượng tốt. Về mặt tổ chức học chủ yếu là sự tăng sinh lan tỏa của các lympho bào trưởng thành là dòng B lympho, rất hiếm gặp tế bào Reed-Sternberg;
