BỆNH TO CÁC VIỄN CỰC – NỘI KHOA Y HÀ NỘI

CHƯƠNG VII. BÀI 3:

BỆNH TO CÁC VIỄN CỰC

MỤC TIÊU

  1. Trình bày được triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng bệnh to các viễn cực.
  2. Trình bày được chẩn đoán xác định bệnh to các viễn cực.
  3. Trình bày được điều trị bệnh to các viễn cực.

1. ĐẠI CƯƠNG

Bệnh to các viễn cực (Acromegalie) do tăng tiết quá mức hormon tăng trưởng GH ở người trưởng thành gây ra các rối loạn chuyển hóa mạn tính. Nếu tăng tiết quá mức hormon tăng trưởng xảy ra trước tuổi trưởng thành, khi các sụn liên hợp chưa cốt hóa, thì gây ra bệnh khổng lồ.

Bệnh to các viễn cực xảy ra sau tuổi dậy thì thường diễn biến âm thầm, với thời gian muộn trung bình khoảng 10 năm từ khi khởi phát bệnh đến khi được chẩn đoán. Tỷ lệ mắc thấp trong cộng đồng 3 người/triệu dân/năm. Gần đây do tình trạng lạm dụng hormon tăng trưởng (GH) của các vận động viên và bệnh nhân tìm thuốc “trẻ mãi không già” dẫn đến tình trạng gia tăng bệnh to viễn cực vì dùng thuốc. Bệnh thường gặp ở lứa tuổi 20-50 và gặp ở cả hai giới.

Khoảng hơn 95% nguyên nhân thường gặp của bệnh to các viễn cực là do adenoma của tuyến yên (chiếm khoảng 25-30% các trường hợp khối u tuyến yên, hiếm gặp do bệnh lý vùng dưới đồi yên hoặc rất hiếm gặp ở các u ác tính ở tụy, phổi).

2. CƠ CHẾ BỆNH SINH

To viễn cực thường là hậu quả của một u tế bào tuyến đơn dòng lành tính có nguồn gốc từ các tế bào ưa acid (somatotropin) ở thùy trước tuyến yên (adenoma tuyến yên tiết GH). Các tế bào này bình thường tiết hormon tăng trưởng (GH). Quá trình tiết GH được kích thích bởi GHRH hay hormon giải phóng GH (GH Releasing Hormone) có nguồn gốc từ vùng dưới đồi và bị ức chế bởi somatostatin (có nguồn gốc từ vùng dưới đồi) và IGF-1 hay yếu tố gây tăng trưởng giống insulin 1 (insulin-like growth factor 1) có nguồn gốc từ các mô ngoại biên. Về mô học: theo WHO 2017 chia adenoma tuyến yên tiết GH thành các phân nhóm khác nhau về lâm sàng, hình thái và xét nghiệm. Adenoma sản xuất GH hạt dày đặc hoạt động, khoảng 15% là adenoma sản xuất hỗn hợp GH/Prolactin. Một phần lớn các tác động của hormon tăng trưởng được trung gian qua IGF-1, yếu tố gây tăng trưởng và biệt hóa tế bào được sản xuất trong gan. GH và IGF-1 gây tăng trưởng xương và sụn, gây giảm dung nạp glucose và các thay đổi trong chuyển hóa protein và lipid. Sản xuất quá nhiều GH và tăng tổng hợp IGF-1 hậu quả sẽ gây ra các dấu hiệu lâm sàng như được đề cập trong chương này.

Hormon GH hay còn gọi là hormon hướng thân, là loại polypeptid gồm 191 acid amin. Sau khi được bài tiết, GH sẽ kết hợp với thụ thể đặc hiệu ở màng tế bào cơ quan đích. Các thụ thể đặc hiệu của GH có ở nhiều nơi: gan, tổ chức mỡ, thận, các tế bào miễn dịch, tế bào sụn, các huyết cầu đỏ. Đặc biệt các thụ thể với GH của người chỉ nhận biết được GH đúng của người và vì dùng GH động vật để điều trị sẽ không có tác dụng đối với các trường hợp lùn do thiếu GH.

Tăng tiết GH sẽ tác động lên các cơ quan và tổ chức trong cơ thể:

– Kích thích sự tăng sinh tổ chức sụn và xương, tăng hiện tượng cốt hóa màng xương. Tác dụng của GH trên xương và sụn này rõ ở những nơi có nhạy cảm đặc biệt: xương hàm dưới, cung xương gò má, xương sườn, xương đòn. Do tăng nhu cầu đối với calci, cơ thể cũng huy động calci từ mô liên kết cơ bản của xương, vì vậy cùng một lúc có hiện tượng dày màng xương lại có cả hiện tượng thưa xương trên cùng một xương. Những tác dụng của GH lên quá trình tạo xương và sụn được cho là thông qua kích thích trực tiếp sinh IGF-1 ở gan theo nội tiết tại mô.

– Tăng khối lượng cơ, giảm khối lượng mỡ trong cơ thể, tất cả các phần mềm của cơ thể đều phát triển.

– Tăng mức lọc cầu thận, tăng co bóp cơ tim.

– Tăng glucose huyết do kháng insulin, tăng acid béo tự do.

3. TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG

3.1. Triệu chứng lâm sàng

Bệnh được chẩn đoán thường do các triệu chứng lâm sàng gợi ý với sự thay đổi hình thể bên ngoài. Triệu chứng thường diễn biến âm thầm, từ từ, xảy ra trước khi chẩn đoán nhiều năm, trung bình khoảng 10 năm.

3.1.1. Triệu chứng do quá tiết GH và IGF-1

Những thay đổi về hình thể:

– Cơ thể to, thô do các mô mềm dày và to ra, ngọn chi to: tay chân to, dày rộng làm người bệnh phải tăng cỡ nhẫn, găng tay, giày, dép hằng năm. Lồng ngực bệnh nhân hình thùng, xương ức nhô ra.

– Thay đổi khuôn mặt điển hình: mặt thô, cung mày, gò má nhô, mũi to, răng cửa thưa, lưỡi to và dày, hàm dưới vẩu, giọng nói khàn.

– Tăng tiết mồ hôi, gai đen, viêm dạ dày do tăng tiết acid.

– Các triệu chứng ở các cơ quan: phì đại các cơ quan như tuyến giáp, tim, gan, phổi, thận.

  • Triệu chứng cơ xương khớp: đau nhức xương khớp, thoái hóa khớp, loãng xương, hội chứng đường hầm cổ tay, phì đại các khớp (bàn, ngón, cột sống…).
  • Triệu chứng tim mạch: tăng huyết áp, bệnh lý cơ tim (đặc trưng bởi rối loạn chức năng tâm trương và rối loạn nhịp tim), suy tim, phì đại thất trái, có thể có các bệnh lý van tim.
  • Triệu chứng hô hấp: có thể có cơn ngừng thở khi ngủ gặp ở 40 – 50% bệnh nhân, do phì đại mô mềm vùng hầu họng, phì đại thanh quản.
  • Triệu chứng tiêu hóa: táo bón, to đại tràng, gan to, lách to, polyp đường tiêu hóa.
  • Thận: có thể có sỏi thận, tăng calci niệu.
  • Triệu chứng nội tiết: mất kinh, có thể tiết sữa do khối u chèn ép vùng cuống tuyến yên hoặc u tiết GH phối hợp tiết prolactin, có thể suy sinh dục, liệt dương, phì đại tiền liệt tuyến. Tuyến giáp to, có thể có rối loạn chức năng tuyến giáp, bướu đơn nhân tuyến giáp, hiếm gặp u thư tuyến giáp. Bệnh nhân cũng có thể có triệu chứng cường tuyến cận giáp. Có thể gặp suy các hormone tuyến yên với các mức độ khác nhau.

– Rối loạn chuyển hóa glucose: bệnh nhân thường có rối loạn dung nạp glucose hoặc đái tháo đường thực sự. Đái tháo đường thường có tình trạng kháng insulin điển hình, khó kiểm soát glucose huyết.

  • Tỷ lệ ung thư tăng, nhất là ung thư đại tràng, vì vậy bệnh nhân to viễn cực được tầm soát nội soi đại tràng khi được chẩn đoán và 3 – 4 năm/lần đối với bệnh nhân trên 50 tuổi.

3.1.2. Triệu chứng do khối u chèn ép

– Đau đầu do khối u to choán chỗ trong hộp sọ.

– Nhìn mờ, giảm thị trường, hay gặp bán manh thái dương do khối u chèn vào chéo giao thoa thị giác. Có thể gặp liệt các dây thần kinh sọ.

– Chèn ép cuống tuyến yên làm tăng prolactin máu kèm theo do mất ức chế điều hòa tiết prolactin của vùng dưới đồi.

– Chèn ép mô tuyến yên bình thường gây suy chức năng tuyến yên dẫn đến suy chức năng các tuyến sinh dục, thượng thận, tuyến giáp.

3.2. Triệu chứng cận lâm sàng

3.2.1. Xét nghiệm hormon

– GH: nồng độ GH trong huyết thanh dao động lớn từ 1 đến 5 ng/ml do thời gian bán thải ngắn và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như ăn uống, stress, ngủ, luyện tập… do đó định lượng GH bất kỳ không có nhiều giá trị trong chẩn đoán. Nghi ngờ bệnh to viễn cực chỉ khi GH > 2 µg/L không ức chế được bằng nghiệm pháp dung nạp glucose.

– IGF-1 (Somatomedin C) tăng (bình thường 10 – 1000 ng/ml): xét nghiệm này có giá trị trong chẩn đoán và theo dõi điều trị. (IGF-1 không bị ảnh hưởng bởi nhịp ngày đêm và thức ăn nhưng có thể bị hạ thấp hơn trong trường hợp suy giáp, suy dinh dưỡng, ĐTĐ type 1 kiểm soát kém, suy gan, suy thận và sử dụng estrogen và thay đổi theo tuổi), đặc biệt để chẩn đoán trong những trường hợp lâm sàng không rõ nhưng có những triệu chứng phối hợp nghi ngờ: ngừng thở khi ngủ, đái tháo đường type 2, viêm khớp…

– Tăng insulin huyết thanh xuất hiện ở 70% trường hợp.

3.2.2. Xét nghiệm khác

– Rối loạn chuyển hóa glucose: ĐTĐ hoặc giảm dung nạp glucose.

– Tăng phosphate huyết thanh (do tăng tái hấp thu ở ống thận) và tăng calci niệu do ảnh hưởng trực tiếp của IGF-1 và GH.

– Prolactin huyết thanh tăng khi u phối hợp tiết prolactin hoặc u to gây chèn ép cuống tuyến yên.

– Có thể có suy các tuyến nội tiết khác do khối u chèn ép các vùng bình thường của tuyến yên: FT4 giảm, TSH giảm do suy tuyến giáp; cortisol giảm, ACTH giảm do suy thượng thận; FSH giảm, LH giảm, estradiol giảm, testosteron giảm do suy sinh dục.

– Soi đáy mắt và đo thị trường: có thể thu hẹp thị trường do khối u chèn ép giao thoa thị giác hoặc đầu hiệu tăng áp lực nội sọ.

– Siêu âm tim: tim to, phì đại cơ tim, hở van tim đặc biệt là van động mạch chủ và van hai lá. Điện tâm đồ: rối loạn nhịp tim, rối loạn dẫn truyền…

– Siêu âm ổ bụng: gan, lách có thể to.

– Siêu âm tuyến giáp: nhân giáp hoặc tuyến giáp to lan tỏa.

– Nội soi dạ dày – đại tràng: có thể gặp polyp đường tiêu hóa.

3.3. Chẩn đoán hình ảnh

– Chụp X-quang hố yên có thể thấy hố yên rộng, phá hủy mỏm yên, tuy nhiên hiện ít áp dụng do giá trị chẩn đoán không cao.

– X-quang xương thấy hình ảnh quá phát xương: vòm sọ dày, tăng đường kính trước sau, xoang trán và xoang hàm rộng ra, tăng kích thước xương hàm, các đường liên đốt ngón tay, ngón chân rộng, tăng bóng mờ của phần mềm trên phim X-quang bàn tay, tăng độ rộng của sụn khớp, hình ảnh “dấu mũi tên” của các xương ngón xa biến đổi dạng nang của xương bàn tay, hình ảnh tương tự có thể quan sát được trên phim X-quang bàn chân, củ gót sống, loãng xương, gai cột sống, thoái hóa.

– Chụp cộng hưởng từ (MRI) vùng dưới đồi – yên phát hiện các khối u tốt hơn chụp cắt lớp vi tính và là lựa chọn đầu tay để phát hiện các khối u vùng dưới đồi – tuyến yên. Các khối u vùng dưới đồi yên giảm tín hiệu hơn so với mô tuyến trên T1, tăng tín hiệu trên T2. Những u có kích thước > 1 cm được gọi là u to (macroadenoma), u có kích thước < 1 cm gọi là u nhỏ (microadenoma). Các u tiết GH thường được phát hiện muộn với kích thước > 1 cm, u to có thể xâm lấn chèn ép các cấu trúc xung quanh như chéo giao thoa thị giác, xoang hang, xương bướm.

– Cần chụp cắt lớp phổi hoặc ổ bụng trong trường hợp nghi ngờ u tiết GH lạc chỗ.

Hình ảnh chụp cộng hưởng từ khối u tuyến yên.

4. CHẨN ĐOÁN

4.1. Chẩn đoán xác định

– Dựa vào các triệu chứng lâm sàng có thay đổi hình thể rất gợi ý bệnh to các viễn cực.

– Xét nghiệm khởi đầu được chỉ định làm ở bệnh nhân nghi ngờ bị to các viễn cực là định lượng nồng độ IGF-1, còn nồng độ GH bất kỳ có giá trị ít. Nếu nồng độ GH < 0,4 µg/L và nồng độ IGF-1 trong giới hạn bình thường. Sau khi đã hiệu chỉnh theo tuổi và giới thì loại trừ chẩn đoán to viễn cực. Nếu kết quả của 1 trong 2 xét nghiệm trên bất thường, cần tiến hành làm nghiệm pháp gây tăng glucose máu bằng đường uống trong 2 giờ như sau:

  • Lấy máu để định lượng nồng độ GH và glucose máu nền.
  • Cho bệnh nhân uống 75 gam đường glucose.
  • Lấy máu để định lượng nồng độ GH và glucose huyết mỗi 30 phút/lần trong vòng 2 giờ. Nếu nồng độ GH giảm xuống < 1 µg/L trong suốt thời gian làm nghiệm pháp gây tăng glucose máu bằng đường uống, bệnh to viễn cực được loại trừ. Khi GH > 2 µg/L có thể nghĩ tới bệnh to viễn cực (gặp trong 85% các trường hợp). Kết quả dương tính giả có thể xảy ra ở bệnh nhân bị đái tháo đường, viêm gan mạn, suy thận và chán ăn.

– Các thăm dò hình ảnh học ban đầu nên chụp cộng hưởng từ (MRI) sọ não, có hoặc không dùng thuốc cản quang gadolithium để đánh giá u tuyến yên.

4.2. Chẩn đoán phân biệt

4.2.1. Dậy thì mọc giò to các viễn cực

– Phát triển thể chất quá nhanh trong thời kỳ dậy thì.

– Tầm vóc cao lớn, chân tay to mang tính chất gia đình.

– Phù niêm: Môi lưỡi to, dày, giọng khàn…

4.2.2. GH tăng cần phân biệt trong một số điều kiện:

Stress, có thai, suy dinh dưỡng, đái tháo đường kiểm soát kém, suy gan, thận nặng hoặc dùng thuốc như levodopa, thuốc tránh thai, clonidin…

4.2.3. Hội chứng cận ung thư Pierre Marie (ung thư phổi…)

Ngón tay dùi trống, quá sản tổ chức phần mềm, đau khớp, dày màng xương dài trên phim X-quang.

4.3. Chẩn đoán nguyên nhân

– Đại đa số nguyên nhân to các viễn cực là do adenoma tế bào hướng thân của thùy trước tuyến yên (> 95%).

– Hiếm gặp u vùng dưới đồi tăng tiết GHRH (GH – Releasing Hormone), là hormon tăng tổng hợp và bài tiết GH.

– Một số trường hợp rất hiếm do u tiết GH hoặc GHRH lạc chỗ, thường là carcinoma ở tụy, thận hoặc phổi.

5. ĐIỀU TRỊ

Mục tiêu điều trị:

– Khôi phục giá trị GH và IGF-1 trở lại mức bình thường.

– Loại bỏ hoặc giảm bớt hoặc khống chế sự phát triển của khối u.

– Điều trị các triệu chứng và nguy cơ tử vong.

– Bảo tồn chức năng tuyến yên.

5.1. Phẫu thuật

– Là lựa chọn chính mặc dù tỉ lệ chữa khỏi hoàn toàn không cao. Phương pháp là cắt bỏ u tuyến yên chủ yếu là nội soi qua đường xương bướm hoặc mở sọ.

– Tỉ lệ khôi phục được vào kích thước khối u và mức độ xâm lấn của khối u, nồng độ GH trước phẫu thuật và kinh nghiệm của phẫu thuật viên. Tỉ lệ thành công của phẫu thuật khoảng 50 đến 60%. Nồng độ hormon càng cao thì tỉ lệ khỏi càng thấp. Các khối u macroadenoma và/hoặc xâm lấn vào các tổ chức não và xoang hang thì tỉ lệ thành công thấp.

– Phương pháp phẫu thuật nội soi qua xương bướm có tỷ lệ thành công từ 60 – 80% ở những bệnh nhân có khối u kích thước nhỏ hoặc trung bình (< 2 cm), trong khi những khối u lớn độ GH nền cao hơn 50 ng/ml (2325 pmol/l) – đặc biệt ở những bệnh nhân có khối u xâm lấn ra ngoài hố yên thì tỷ lệ thành công chỉ từ 30 – 60%. Phương pháp phẫu thuật nội soi qua xương bướm có tỷ lệ thành công cao, và tỷ lệ tai biến thấp hơn so với phương pháp phẫu thuật thông thường nên hiện nay thường được ưu tiên lựa chọn.

– Biến chứng phẫu thuật gặp ở 8% bệnh nhân. Các biến chứng có thể gặp là suy thùy trước tuyến yên và có thể cần điều trị thay thế suốt đời; đái tháo nhạt thoáng qua đôi khi vĩnh viễn; chảy máu, rò nước não tủy, viêm màng não… nhưng hiếm gặp.

– Khi phẫu thuật thành công, nồng độ GH trở về bình thường (GH < 1 µg/L), IGF-1 về giới hạn bình thường theo tuổi và giới nhưng thời gian chậm hơn. Bệnh nhân cần được kiểm tra lại IGF-1 và MRI tuyến yên sau 12 tuần để đánh giá hiệu quả điều trị. Nhiều trường hợp cả lâm sàng và nồng độ hormon đều cải thiện nhưng không trở về bình thường, đòi hỏi phải phối hợp điều trị thuốc. Bệnh nhân cần được theo dõi hằng năm để theo dõi tình trạng tái phát.

5.2. Nội khoa

– Chỉ định: sử dụng trước phẫu thuật để giảm triệu chứng lâm sàng do tăng GH, hoặc khi bệnh nhân không chỉ định phẫu thuật hoặc sau phẫu thuật nhưng không đạt được hiệu quả hoàn toàn (GH và IGF-1 không trở về bình thường và/hoặc còn các triệu chứng do thừa GH).

– Thuốc không chữa khỏi được u, có tác dụng giảm nồng độ GH và cải thiện triệu chứng lâm sàng nhưng ít khi đạt được giá trị bình thường và ít làm giảm kích thước khối u.

– Các thuốc được chỉ định:

  • Các chất đồng dạng của somatostatin: octreotid, lanreotid.

Octreotid LAR ống 20 mg tiêm bắp 4 tuần 1 lần, liều tối đa 40 mg/tháng, điều chỉnh liều mỗi 3 tháng.

Lanreotid autogel ống 90 mg tiêm dưới da sâu 4 tuần 1 lần, liều từ 60-120 mg/tháng, chỉnh liều mỗi 3 tháng.

Octreotid LAR có thể đưa nồng độ IGF-1 và GH trở về bình thường ở 40 – 75 % các bệnh nhân khi dùng ở liều tối ưu 20 – 40 mg/tháng, tuy nhiên tác dụng làm nhỏ khối u ít xảy ra hơn.

Pasireotid LAR ống 60 mg, tiêm bắp liều 40 – 60 mg/4 tuần, chỉnh liều mỗi 3 tháng, có tác dụng như octreotid nhưng gây tăng glucose huyết nhiều hơn.

Tác dụng phụ của nhóm thuốc này: chủ yếu lên hệ tiêu hóa (nôn, đầy bụng, táo bón), hình thành sỏi mật và búi túi mật, có thể gây rối loạn glucose huyết.

  • Các chủ vận dopamin: gồm bromocriptin, cabergolin. Tác dụng làm giảm GH/IGF-1 kém hơn. Là lựa chọn tốt khi có phối hợp u tiết prolactin. Cabergolin có hiệu quả tốt và ít tác dụng phụ hơn bromocriptin. Cabergolin dùng từ liều 0,5 mg/tuần đến 2 mg/tuần. Theo một số nghiên cứu, cabergolin đưa nồng độ IGF-1 trở về bình thường ở khoảng 30% những bệnh nhân to viễn cực. Tuy nhiên thuốc này không được sử dụng đơn độc. Khi cabergoline được điều trị phối hợp somatostatin, tỷ lệ bệnh nhân đáp ứng điều trị tăng lên. Tác dụng phụ: hay gặp đau đầu, buồn nôn, rối loạn tâm thần, ít gặp do hở, tràn màng…
  • Chất đối kháng thụ thể GH: pegvisomant. Tác dụng chẹn tác dụng ngoại biên của GH dẫn đến giảm sản xuất IGF-1, nhưng không tác động vào tình trạng tiết GH. Liều khởi đầu 10 mg/ngày, tối đa 30 mg/ngày, tiêm dưới da, chỉnh liều sau 4 – 6 tuần. Với liều 10 – 20 mg/ngày, giúp làm giảm nồng độ IGF-1 về bình thường ở hơn 90% trường hợp.
  • Mặc dù có những mối lo ngại về sự tiết GH quá mức và khả năng tiến triển của khối u, hiện vẫn chưa thấy xuất hiện những vấn đề nghiêm trọng liên quan đến việc dùng thuốc. Pegvisomant hiện quá, nhưng việc sử dụng còn hạn chế do giá thành và sự bất tiện khi phải tiêm hằng ngày. Vì vậy, nó được sử dụng chủ yếu ở những bệnh nhân thất bại với điều trị phẫu thuật và các chất đồng dạng của somatostatin. Trong quá trình điều trị, GH có thể tăng, khối u có thể to ra nên cần theo dõi kích thước u bằng MRI mỗi 6 tháng, pegvisomant có thể gây tăng men gan và cần nhắc khi men gan cao trên 3 lần giới hạn trên của bình thường. Có thể dùng phối hợp với octreotid hoặc lanreotid.
  • Các thuốc phối hợp các chất đồng dạng của somatostatin với cabergolin hoặc pegvisomant: khi bệnh nhân đáp ứng kém với đơn trị liệu, có thể đạt được hiệu quả cao hơn tuy nhiên cần chú ý đến các tác dụng phụ.

5.3. Xạ trị

Chỉ định khi bệnh nhân không thể phẫu thuật, tái phát sau phẫu thuật và không đáp ứng với điều trị nội khoa.

Có nhiều phương pháp xạ trị khác nhau tuy nhiên hiệu quả điều trị thường chậm và không cao: nồng độ GH giảm rất chậm và thường trở về bình thường muộn và tỷ lệ suy tuyến yên cao. Tia xạ liều cao với liều 4500 – 5000 cGy, mặc dù tỷ lệ thành công đến 60% – 80% bệnh nhân nhưng không nên sử dụng, vì nồng độ GH thường trở về bình thường muộn 10-15 năm sau điều trị. Trong một nghiên cứu, nồng độ GH dưới 10 ng/ml (460 pmol/L) ở 38% bệnh nhân sau 2 năm điều trị, và sau 5 – 10 năm, 73 – 81 % bệnh nhân đạt được nồng độ như trên.

Biến chứng thường gặp là: suy tuyến yên xuất hiện sau 10 năm ở khoảng 40 – 50% bệnh nhân điều trị xạ trị, thiếu hụt một hay nhiều hormone tuyến yên, phổ biến nhất là thiếu hụt gonadotropin, sau đó là ACTH và TSH ít gặp hơn. Một nghiên cứu có suy tuyến yên sau xạ trị là suy giáp ở 19%, suy thượng thận 38%, suy sinh dục đến 50 – 60%. Biến chứng khác có thể gặp liệt dây thần kinh sọ, mất thị lực, giảm trí nhớ, hiếm gặp u nội sọ thứ hai như u tế bào hình sao, u màng não, sarcoma… Vì vậy, sau điều trị xạ trị cần phải theo dõi GH, IGF-1 và hormon tuyến yên hằng năm.

5.4. Phẫu thuật bằng dao gamma (Gamma knife)

Chỉ định: khi kích thước u < 3 cm, u còn nằm trong hố yên hoặc các tổn thương xa chéo thị giác. Gamma knife đã được sử dụng nếu khối u tập trung tại hố yên. Tỷ lệ tái phát sau 2 năm khoảng 50 – 70 %.

6. TIÊN LƯỢNG

– Tỉ lệ tử vong do bệnh to các viễn cực cao hơn gấp đôi bình thường.

– Các biến chứng chính của bệnh là bệnh lý tim mạch, bệnh mạch não, đái tháo đường, bệnh lý hô hấp, ung thư…

Cập nhật thông tin mới nhất về kiến thức y học và test y học tại facebook TEST Y HỌC

Tham gia nhóm zalo: Tài Liệu Y Học Tổng Hợp

Ôn thi nội trú, sau đại học TẠI ĐÂY

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Content is protected !!
All in one