CHƯƠNG VII. BÀI 4:
BƯỚU NHÂN TUYẾN GIÁP
MỤC TIÊU
|
1. ĐẠI CƯƠNG
1.1. Định nghĩa
Nhân tuyến giáp hay còn gọi là tuyến giáp là tổn thương dạng khối khu trú nằm trong tuyến giáp. Nhân tuyến giáp được phát hiện do chính bản thân bệnh nhân hoặc khi bệnh nhân được bác sỹ thăm khám lâm sàng hoặc khi làm siêu âm tuyến giáp.
Một số không nhỏ nhân giáp được phát hiện khi làm các thăm dò chẩn đoán hình ảnh khác như siêu âm, chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ cổ ngực… Những nhân này được gọi là nhân giáp phát hiện tình cờ.
Trên lâm sàng nhân giáp có thể là:
– Nhân đơn độc hoặc bướu đa nhân.
– Nhân lành tính hoặc ác tính.
– Nhân có hoặc không có hoạt động chức năng tự chủ (Nhân độc tuyến giáp).
1.2. Dịch tễ học
Tỷ lệ hiện mắc phụ thuộc vào phương pháp sàng lọc và quần thể dân số được đánh giá. Nguy cơ mắc bướu nhân tuyến giáp tăng cao theo tuổi, giới tính nữ, thiếu sắt và tiền sử tia xạ tuyến giáp. Những bệnh nhân sau quá trình cấy ghép tế bào gốc tạo máu có nguy cơ mắc ung thư biểu mô tuyến giáp thứ phát cao hơn với nguy cơ tương đối là 3,26.
Ở người trưởng thành, tỷ lệ bướu nhân tuyến giáp phát hiện qua khám sức khỏe từ 5% đến 7%. Siêu âm có thể phát hiện bướu nhân tuyến giáp ở 20% đến 76% trong cùng một quần thể này.
Các bướu nhân tuyến giáp hay gặp hơn ở nữ gấp 4 lần so với nam giới và xảy ra thường xuyên hơn ở những người sống ở các khu vực thiếu iod. Tuy nhiên, tỷ lệ ung thư ở nam giới cao gấp đôi so với nữ giới (8% so với 4%).
1.3. Phân loại bướu nhân tuyến giáp
U biểu mô
– Lành tính:
- Nang keo.
- Viêm tuyến giáp Hashimoto.
- Nang đơn thuần hoặc xuất huyết.
- Adenoma dạng nang.
- Viêm tuyến giáp bán cấp.
– Ác tính: nguyên phát
+ Carcinoma xuất phát từ tế bào biểu mô:
- Carcinoma thể nhú.
- Carcinoma thể nang.
- Carcinoma tế bào Hurthle.
- Carcinoma không biệt hóa.
+ Ung thư xuất phát từ tế bào C cận nang:
- Carcinoma thể tủy.
+ Lymphoma tuyến giáp.
– Ung thư thứ phát di căn từ nơi khác, thường là ung thư ở thận, phổi và đầu cổ.
2. CƠ CHẾ BỆNH SINH
2.1. Cơ chế bệnh sinh của bướu nhân tuyến giáp chưa được hiểu biết hoàn toàn
Cơ chế bệnh sinh bướu đa nhân tuyến giáp là quá trình tăng sản lan tỏa các nang giáp, tăng sinh tế bào thành nhân và tăng chỉ là hình thành nhân tự chủ. Sự xuất hiện bướu đa nhân tuyến giáp là kết quả của quá trình phơi nhiễm kéo dài của tuyến giáp với các kích thích gây tăng sinh nhiều iod, yếu tố sinh bướu và các sai sót trong tổng hợp hormon giáp. Tất cả những yếu tố trên gây thiếu sản xuất hormon giáp và kích thích tuyến yên tăng tiết TSH.
Giả thiết khác cho rằng sự hình thành nhân tuyến giáp là hậu quả của các rối loạn di truyền bẩm sinh và mắc phải liên quan tới tăng sinh và lão hóa tăng chức năng tế bào tuyến giáp. Các tế bào nang giáp vốn có sự đa dạng về sản xuất hormon giáp và tăng sinh đáp ứng với kích thích của TSH. Do dưới sự kích thích ở mức độ trung bình, có một bộ phận tế bào nang giáp sẽ phát triển hơn các tế bào khác và mở rộng thành các nhân đại thể (lớn). Mặt khác các tế bào nang giáp có đột biến soma (somatic mutation) trong quá trình tăng sinh tế bào có thể phát triển sao chép dòng tạo thành một nhân. Đột biến soma dẫn đến sự hoạt hóa thụ thể TSH thấy ở khoảng 60% các nhân tự chủ chức năng, còn 40% các nhân tự chủ chức năng còn lại sẽ không có đột biến thụ thể TSH với cơ chế di truyền chưa được biết rõ.
Gần đây, một nghiên cứu phát hiện các đột biến sai germline trong TITF-1/NKX2.1 mã hóa cho đột biến protein TITF-1 (A339V), nó có thể góp phần dự báo các bệnh nhân bướu đa nhân tuyến giáp có ung thư tuyến giáp thể nhú, và cao hơn là cho biết mối liên hệ nhân quả giữa 2 bệnh này.
2.2. Quá trình hình thành nhân giáp
Dù bất kể là nguyên nhân gì cho tới nay, quá trình hình thành nhân giáp vẫn được chia làm ba giai đoạn:
2.2.1. Giai đoạn tăng sản (Hyperplasia)
Hình ảnh tế bào học: tế bào biểu mô cao, trong lòng nang có rất ít thậm chí không có chất keo. Trên lâm sàng biểu hiện là một bướu giáp lan tỏa không có nhân.
2.2.2. Giai đoạn tích tụ chất keo (Colloid accumulation)
Hình ảnh tế bào học: tế bào biểu mô tuyến có hình lập phương thấp, lòng nang chứa đầy chất keo. Lớp tế bào biểu mô lót quanh nang giáp hầu như dẹt. Chúng tỏ ra sự làm việc quá mức.
2.2.3. Giai đoạn hình thành nhân (Nodularity)
Giai đoạn này kéo dài trong nhiều năm. Ở giai đoạn này các nhân tiếp tục phát triển, đường kính đạt tới 200 – 300 µm, có khi còn phát triển lớn hơn. Có hai hiện tượng được ghi nhận ở giai đoạn này:
– Thứ nhất: sự phát triển của các nang làm tổn thương hệ thống mạch máu dẫn đến chảy máu, hoại tử, xơ hóa.
– Thứ hai: khi quá trình hoại tử và chảy máu xảy ra, cơ thể phản ứng bằng cách tạo ra các mô hạt bao phủ cả vùng bị tổn thương. Như chúng ta đã biết trong khi có các nang giáp bị hoại tử thì vẫn có những nang giáp mới được hình thành nhưng ở mức độ khác nhau. Những nang mới được hình thành này bị bỏ lại bởi mô hạt bao phủ kia. Tùy theo sự phát triển của chúng sẽ có những hình thái khác nhau trên lâm sàng. Nếu quá trình chảy máu và hoại tử mạnh hơn sẽ hình thành bướu nhân hỗn hợp hay nang giả tuyến giáp, còn quá trình tạo nhân và xơ hóa mạnh hơn sẽ hình thành các nhân đặc.
3. TRIỆU CHỨNG
3.1. Triệu chứng lâm sàng
3.1.1. Hoàn cảnh phát hiện
Đa số các bướu nhân tuyến giáp không có triệu chứng. Bệnh nhân có thể tự phát hiện như thấy biến dạng vùng cổ, khối to nhanh, đau vùng cổ trước xuất hiện đột ngột hay từ từ.
Đôi khi bệnh nhân đi khám bệnh và bác sỹ phát hiện khi thăm khám vùng cổ. Hoặc phát hiện ở bệnh nhân có tiền sử bản thân hoặc gia đình có bệnh lý tuyến giáp ở bệnh nhân có biểu hiện rối loạn chức năng tuyến giáp như các dấu hiệu cường giáp trong các bướu nhân độc giáp trạng. Có khi bệnh nhân được phát hiện khi đi khám do có biểu hiện chèn ép hoặc có hạch vùng cổ.
Nhân tuyến giáp cũng có thể được phát hiện tình cờ qua các phương pháp chẩn đoán hình ảnh khác khi thăm khám bệnh lý khác.
3.1.2. Hỏi bệnh và khám bệnh
Nhân tuyến giáp có thể là lành hoặc ác tính do vậy điều quan trọng khi xác định nhân tuyến giáp trên lâm sàng là loại trừ ác tính. Hỏi bệnh và thăm khám lâm sàng là nền tảng để đánh giá bướu nhân tuyến giáp và có thể phát hiện các dấu hiệu gợi ý của ung thư tuyến giáp.
Hỏi bệnh:
– Cần hỏi bệnh nhân về tiền sử khi còn nhỏ phơi nhiễm với nguồn xạ như chiếu xạ điều trị vùng cổ, môi trường phơi nhiễm… Bởi vì adenoma hay ung thư tuyến giáp phát triển nhiều năm sau khi tiếp xúc với xạ trị một số các bệnh lành tính như: viêm amidal, viêm xoang, phì đại tuyến ức…
– Tiền sử gia đình có bệnh lý bướu cổ, bướu nhân tuyến giáp, rối loạn chức năng giáp, ung thư tuyến giáp nếu có tính chất gia đình. Nếu ung thư tuyến giáp gợi ý ung thư tuyến giáp thể nhú hoặc thể tủy có tính chất gia đình là một trong những thành phần của bệnh đa u tuyến nội tiết (MEN) týp 2. Ung thư thể tủy có tính chất gia đình hay gặp hơn ung thư tuyến giáp thể tủy. Tiền sử gia đình có bướu cổ gợi ý các rối loạn lành tính. Bướu nhân tuyến giáp ở trẻ em và thiếu niên được chú ý vì nguy cơ ác tính cao hơn người thanh niên và người lớn.
– Triệu chứng về tuyến giáp:
Hầu hết các nhân tuyến giáp đều không có triệu chứng và phần lớn nhân tuyến giáp cũng phát hiện tình cờ khi siêu âm doppler mạch cảnh chụp CT hoặc MRI vùng cổ.
Cũng cần hỏi về thời điểm phát hiện bướu nhân tuyến giáp, diễn biến, tiến triển: mới hay có từ lâu, to nhanh hay chậm, có kèm xuất hiện đau hay không.
Thăm khám nhân giáp, cần xác định:
– Tuyến giáp có một hay nhiều nhân, mềm hay cứng, vị trí nhân, kích thước nhân to hay nhỏ và cố định hay di động và mức độ di động so với mô lân cận. Kết quả do thăm khám lâm sàng có thể không chính xác tùy thuộc kĩ năng và kinh nghiệm của người khám và vị trí nhân tuyến giáp. Các nhân nhỏ < 1 cm khó sờ thấy hoặc nhân nằm sâu trong tuyến. Trên 50% các nhân không sờ thấy trên lâm sàng.
– Cần phát hiện các biểu hiện rối loạn chức năng giáp kèm theo nhân tuyến giáp: cường giáp như hồi hộp, người nóng, run tay, gầy sút… hoặc suy giáp như sợ lạnh, táo bón, da khô.
Đôi khi bệnh nhân có biểu hiện chèn ép do bướu giáp phát triển to gây:
– Khó thở: chèn ép khí quản ở bướu to, bướu chìm hoặc bướu xâm lấn khí quản.
– Nuốt khó: chèn ép hoặc xâm lấn thực quản.
– Khàn tiếng, nói khó: chèn ép hoặc tổn thương thần kinh quặt ngược.
Các dấu hiệu như đau, đau có thể do chảy máu trong nang keo đã có trước đó hoặc adenoma lành tính hoại tử. Cần phân biệt với đau do viêm tuyến giáp bán cấp và viêm tuyến giáp cấp, áp xe tuyến giáp.
Thăm khám hạch vùng cổ: tìm các hạch bệnh lý vùng cổ cùng bên và bên đối diện.
Các dấu hiệu lâm sàng sau đây gợi ý nhân tuyến giáp là ác tính
– Tiền sử chiếu xạ vùng đầu cổ.
– Tuổi < 14 hoặc > 70.
– Nam giới.
– Bướu nhân to nhanh.
– Tổn thương chắc cứng.
– Chèn ép các cơ quan lân cận như khí quản gây khó thở, thực quản gây khó nuốt.
– Nhân dính chắc vào các cấu trúc xung quanh.
– Có liệt dây thanh âm.
– Có hạch cổ to.
Vì các dấu hiệu và triệu chứng trên chỉ mang tính chất gợi ý vì có thể có ở tổn thương lành tính nên cần phải tiến hành chẩn đoán tế bào học để xác định.
3.2. Cận lâm sàng
3.2.1. Xét nghiệm sinh hóa
Đo nồng độ TSH và FT4 là xét nghiệm đầu tiên cần làm. Kết quả giúp định hướng tiếp cận chẩn đoán tiếp theo.
– Nếu TSH thấp cần kết hợp với kết quả FT4 hoặc FT3 để xác định có cường giáp là sản xuất hormon giáp. Nguyên nhân có thể do nhân giáp. Cần làm xạ hình tuyến giáp để chẩn đoán xác định và phân biệt bướu nhân độc tuyến giáp (đại đa số là nhân lành tính, rất ít khi là ung thư). Nên so sánh vị trí tương quan của nhân giáp trên siêu âm và nhân nóng trên xạ hình.
– TSH bình thường: đa số bướu nhân giáp có TSH bình thường.
– TSH cao, FT4 thấp: suy giáp. Cần làm thêm xét nghiệm kháng thể anti-thyroperoxidase (Anti-TPO) để xác định nguyên nhân gây suy giáp như viêm tuyến giáp Hashimoto.
3.2.2. Siêu âm tuyến giáp
Siêu âm tuyến giáp là bước thăm dò thiết yếu cơ bản trong chẩn đoán điều trị nhân giáp và nên được tiến hành với tất cả các bệnh nhân nghi ngờ nhân tuyến giáp. Siêu âm tuyến giáp thường sử dụng đầu dò tần số cao để có phân giải hình ảnh cao, thông thường từ 7,5 – 10 MHz, cho phép phát hiện nhân kích thước dưới 1 cm không thăm khám được trên lâm sàng. Mỗi một nhân giáp cần được khảo sát các đặc tính hình ảnh trên siêu âm sau đây:
– Số lượng nhân.
– Độ lớn, kích thước đo ba chiều.
– Vị trí của nhân tuyến giáp: thùy phải, thùy trái hay vùng eo tuyến giáp.
– Bờ rõ hoặc không rõ, đều hoặc không đều. Có viền giảm âm hay không.
– Cấu trúc âm: tăng, giảm hay đồng âm.
– Đối với nhân hỗn hợp: tỉ lệ tính chất thành phần nhu mô và thành phần dịch.
– Với hóa trong nhân: vôi hóa nhỏ hay to, nhiều hay ít.
– Tưới máu trong nhân: ngoại vi, trung tâm hay hỗn hợp.
– Ranh giới nhân: khu trú, phá vỏ bao giáp, xâm lấn mô lân cận.

Hình 7.1. Một số hình ảnh siêu âm nhân tuyến giáp:
A: nhân giảm âm,
B: nhân trống âm hay nang,
C: nhân có viền calci rõ,
D: nhân bờ không đều,
E: vi vôi hóa trong nhân,
F: nốt calci hóa thô và bóng cản.
Đặc điểm hình ảnh siêu âm có giá trị gợi ý các dấu hiệu nghi ngờ tính chất ác tính của nhân giáp nhưng không có giá trị khẳng định chẩn đoán. Siêu âm còn hỗ trợ cho chẩn đoán như giúp chọc hút tế bào tuyến giáp bằng kim nhỏ cũng như điều trị nhân tuyến giáp: hút dịch, tiêm cồn hoặc điều trị laser, đốt sóng cao tần và theo dõi kết quả điều trị.
Trên siêu âm, nhân có khả năng ung thư là nhân chiều cao lớn hơn chiều rộng, bờ không đều, giảm âm, có vi vôi hóa hoặc không thấy viền giảm âm, tăng sinh mạch trong nhân. Đặc biệt là các bằng chứng xâm lấn của khối u hoặc hạch lympho vùng cổ. Trong đó đặc điểm chiều cao lớn hơn chiều rộng là đặc điểm nghi ngờ cao nhất. Càng nhiều đặc điểm nghi ngờ thì khả năng ung thư càng cao.
Trên siêu âm, các nhân tuyến giáp được đánh giá mức độ ác tính theo phân loại ACR-Tirads.
3.2.3. Chọc hút tế bào học bướu nhân tuyến giáp bằng kim nhỏ (FNA)
– Đây là một kỹ thuật chẩn đoán đơn giản nhưng quan trọng nhất. Xác định tế bào học nhân tuyến giáp và là phương pháp hiệu quả nhất để xác định ung thư tuyến giáp. Phương pháp này an toàn và độ chính xác cao, độ nhạy và đặc hiệu khoảng 90%.
– Chỉ định chọc hút tế bào bướu nhân giáp theo ACR 2017
- Tirads 1-2 không có chỉ định chọc hút tế bào tuyến giáp.
- Tirads 3 chỉ định chọc hút tế bào tuyến giáp khi nhân có kích thước ≥ 2,5 cm.
- Tirads 4 chỉ định chọc hút tế bào tuyến giáp khi nhân tuyến giáp có kích thước ≥ 1,5 cm.
- Tirads 5 chỉ định chọc hút tế bào tuyến giáp khi nhân tuyến giáp có kích thước ≥ 1 cm.
– Kết quả tế bào học: bao gồm 6 loại theo phân loại Bethesda.
- Không có chẩn đoán: loại kết quả này chiếm khoảng 15 đến 20%. Mô bệnh học các nhân này sau phẫu thuật cho thấy 16% là nhân ác tính.
- Lành tính: là loại kết quả thu được phổ biến nhất 54–74% trong đó có nguy cơ ác tính 0,3–3,7%.
- Không xác định: tổn thương tế bào, nang không xác định được rõ ràng. Tân sản dạng nang hay tổn thương nghi ngờ tân sản dạng nang.
- Nghi ngờ ác tính: thu được ở 2,5%–5% kết quả tế bào học. Trong đó có khoảng 60–75% là ung thư được xác định trên mô bệnh học sau phẫu thuật.
- Ác tính: kết quả này chiếm khoảng 4,5–4% chẩn đoán tế bào và nguy cơ ác tính lên đến 95%. Phần lớn ung thư là dạng ung thư tuyến giáp thể nhú.
3.2.4. Các xét nghiệm không thường quy: chỉ tiến hành khi có chỉ định chuyên biệt
3.2.4.1. Xạ hình tuyến giáp
Với I-123 hoặc I-131 hoặc technetium pertechnetate (99Tc) hoặc technitium sestamibi.
– Dùng để đánh giá tình trạng chức năng nhân tuyến giáp ở những bệnh nhân có nhân tuyến giáp và TSH thấp gợi ý cường giáp.

3.2.4.2. Các thăm dò cận lâm sàng khác
– Chụp cắt lớp vi tính hoặc chụp cộng hưởng từ (MRI) vùng cổ ngực.
- Hiếm khi được chỉ định trong thăm khám bướu nhân giáp do không đủ độ tin cậy để phân biệt tổn thương lành tính và ác tính.
- Trong trường hợp bướu nhân nằm sau xương ức thì chụp CT hoặc MRI có thể đánh giá được mức độ lan tỏa của bướu hoặc chèn ép khí quản.
– Chụp PET đánh giá chuyển hóa glucose sử dụng fluorodeoxyglucose F-18 (18FDG-PET).
- Có tác dụng xác định vị trí ung thư tuyến giáp tái phát nhưng không có tác dụng phân biệt nhân lành tính hay ác tính. Hạn chế của chụp PET bởi kỹ thuật và giá thành nên không thể thay thế kỹ thuật chọc hút tế bào.
- Chụp 18FDG-PET thường được xem xét trong ung thư tuyến giáp biệt hóa tăng Tg >10 ng/mL khi xạ hình tuyến giáp âm tính.
– Calcitonin: là một marker được đánh giá có giá trị của ung thư tuyến giáp thể tủy. Calcitonin máu nên làm ở tất cả bệnh nhân có u đa tuyến nội tiết có yếu tố gia đình (MEN2) hoặc tiền sử gia đình ung thư tuyến giáp thể tủy. Nếu nồng độ calcitonin >100 pg/ml thì gợi ý ung thư tuyến giáp thể tủy.
– Thyroglobulin huyết thanh (Tg): không được khuyến cáo vì có thể tăng trong nhiều bệnh lý tuyến giáp và không nhạy cũng như đặc hiệu trong ung thư tuyến giáp.
– Kháng thể TPO (anti-thyroid peroxidase antibodies): không cần thiết làm thường quy khi đánh giá nhân tuyến giáp. Tăng anti TPO kết hợp với bướu cổ chắc, to lan tỏa hoặc trường hợp lan tỏa nho nhỏ tuyến giáp tương thích với bệnh tuyến giáp tự miễn mạn tính hay là viêm tuyến giáp Hashimoto.
4. CHẨN ĐOÁN BƯỚU NHÂN TUYẾN GIÁP
4.1. Sơ đồ hướng dẫn chẩn đoán chẩn đoán bướu nhân tuyến giáp theo Hiệp hội tuyến giáp Hoa Kỳ 2015

4.2. Các đặc điểm lâm sàng gợi ý ung thư tuyến giáp
| Đặc điểm bệnh nhân | Khám lâm sàng | Cận lâm sàng |
|---|---|---|
| Tiền sử gia đình MEN, ung thư tuyến giáp thể nhú, ung thư tuyến giáp thể tủy | Nhân chắc, nhân không di động dính vào các cấu trúc liên kề | Siêu âm nghi ngờ nhân giáp ác tính và/hoặc xuất hiện hạch bệnh lý vùng cổ |
| Tiền sử chiếu xạ vùng đầu, cổ | Nhân giáp tăng nhanh kích thước nhất là khi đang điều trị bằng bổ sung hormone tuyến giáp | |
| Tiền sử u lympho Hodgkin, u lympho không Hodgkin | Xuất hiện hạch vùng cổ | |
| Tuổi < 20 và > 70 | Liệt dây thanh | |
| Nam giới | ||
| Các triệu chứng chèn ép: khó thở, khó nuốt, ho, khàn tiếng |
4.3. Chẩn đoán phân biệt
– U cận giáp: u tuyến cận giáp có thể gặp ở mọi lứa tuổi, nhưng chủ yếu ở xuất hiện ở bệnh nhân từ 50-70 tuổi. Phụ nữ có nguy cơ mắc u tuyến cận giáp cao gấp 3 lần nam giới. Siêu âm vùng cổ có thể giúp chẩn đoán xác định trong đa số trường hợp.
– Hạch lympho vùng cổ đặc biệt các vùng 3, 4, 6: siêu âm vùng cổ có thể giúp chẩn đoán phân biệt.
5. ĐIỀU TRỊ
5.1. Điều trị bướu nhân tuyến giáp phụ thuộc vào kết quả của chọc hút tế bào tuyến giáp và kết quả xét nghiệm hormon tuyến giáp
| Phân loại Bethesda | Nguy cơ ác tính | Xử trí |
|---|---|---|
| Không chẩn đoán | 5% – 10% | FNA sau 4 – 6 tuần |
| Lành tính | 0% – 3% | Theo dõi định kì 12 – 24 tháng. Với tổn thương nghi ngờ, lặp lại FNA sau 12 tháng |
| Tổn thương không xác định hoặc tổn thương dạng nang có ý nghĩa không xác định (U tế bào Hurthle) | 10% – 30% | Lấy mẫu FNA bổ sung để kiểm tra phân tử
Hoặc lặp lại FNA sau 6 đến 12 tuần |
| Tân sản dạng nang hoặc nghi ngờ tân sản dạng nang | 25% – 40% | |
| Nghi ngờ ác tính | 50% – 75% | Phẫu thuật |
| Ác tính | 97% – 99% | Phẫu thuật |
5.2. Điều trị nội khoa
– Chỉ định điều trị ức chế bằng thyroxin còn nhiều tranh cãi và không phải là điều trị thường quy vì tỷ lệ có đáp ứng rất thấp.
– Có thể chỉ định cho các bệnh nhân sống ở vùng thiếu iod. Có lẽ nhóm bệnh nhân đạt nhiều lợi ích nhất khi áp dụng liệu pháp này là những BN sau mổ nhân giáp và có tiền sử bị chiếu xạ điều trị trứng cá hoặc tuyến ức từ lúc còn nhỏ. Trong nhóm này, tỷ lệ tái phát nhân giáp thấp hơn 5 lần nếu được điều trị thyroxin sau mổ.
5.3. Theo dõi nhân tuyến giáp lành tính

6. BIẾN CHỨNG
Các triệu chứng cường giáp có thể là một biến chứng ở những bệnh nhân có nhân giáp chức năng. Các biểu hiện lâm sàng sẽ bao gồm các biểu hiện của cường giáp, chẳng hạn như đỏ mô hôi, đánh trống ngực và rối loạn dung nạp glucose. Tuy nhiên, phần lớn các nhân giáp là lành tính, và hầu hết bệnh nhân sẽ không có triệu chứng.
Một số ít bệnh nhân, đặc biệt là những người có tổn thương tuyến giáp dạng nang có thể có biểu hiện đau tuyến giáp, có thể là dấu hiệu của xuất huyết đột ngột.
7. TIÊN LƯỢNG
Hầu hết các nhân giáp là lành tính. Tiên lượng cho bệnh ác tính tuyến giáp sẽ rất khác nhau tùy thuộc vào loại mô học và loại ung thư mà người một số đặc điểm riêng lẻ bao gồm tuổi khi chẩn đoán, kích thước của khối u nguyên phát, sự hiện diện của xâm lấn mô mềm hoặc di căn xa. Hầu hết bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể nhú không chết vì căn bệnh này. Một loạt trường hợp bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể nhú không di căn cho thấy tỷ lệ tử vong liên quan đến bệnh lý ác tính là 6%.
Các yếu tố khác có liên quan đến sự gia tăng tái phát hoặc tử vong của bệnh ác tính bao gồm giới tính nam, liên quan đến hạch bạch huyết trung thất, sự chậm trễ trong điều trị phẫu thuật chính hơn 1 năm sau khi phát hiện một nốt và đa trung tâm của khối u nội giáp.
Ung thư dạng nang thường xảy ra ở những bệnh nhân lớn tuổi và diễn ra theo một tiến trình tích cực. Nó thường liên quan đến di căn xa và tỷ lệ tử vong cao hơn so với ung thư tuyến giáp thể nhú.
Cập nhật thông tin mới nhất về kiến thức y học và test y học tại facebook TEST Y HỌC
Tham gia nhóm zalo: Tài Liệu Y Học Tổng Hợp
Ôn thi nội trú, sau đại học TẠI ĐÂY
