GIẢI PHẪU CƠ QUAN SINH DỤC NỮ – SẢN KHOA Y HÀ NỘI

CHƯƠNG I. BÀI 1:

GIẢI PHẪU CƠ QUAN SINH DỤC NỮ

1. ĐẠI CƯƠNG

Cơ quan sinh dục nữ được chia ra làm cơ quan sinh dục trong và cơ quan sinh dục ngoài. Cơ quan sinh dục ngoài bao gồm đồi vệ nữ (mons pubis), môi lớn, môi bé, âm vật, âm đạo và tầng sinh môn. Cơ quan sinh dục trong bao gồm tử cung, vòi tử cung, buồng trứng và các dây thần kinh, mạch máu nuôi dưỡng và chi phối cho cơ quan sinh dục nữ. Khung chậu không được xếp vào cơ quan sinh dục nhưng lại có một vai trò rất quan trọng trong sản khoa do vậy cũng được mô tả trong bài này.

2. CƠ QUAN SINH DỤC NGOÀI

2.1. Gò mu

Gò mu hay còn gọi là đồi vệ nữ là mô mỡ, da bao phủ lên phía trên của xương mu và khớp mu. Sau dậy thì vùng da này được bao phủ bởi lông mu nữ ở từ giới lông mu mọc theo hình tam giác lớn ngược, đáy nằm phía trên, còn ở nam giới thì lông mu có thể mọc lan lên tận rốn và bờ không rõ nét như ở nữ giới.

2.2. Môi lớn

Môi lớn ở nữ giới tương đương với bìu của nam giới, cấu tạo bởi nếp da bọc xung quanh tổ chức mỡ, phía trước liên tiếp với gò mu còn phía sau liên tiếp với mép sau của âm đạo. Mặt trong của môi lớn có cấu tạo giống niêm mạc còn mặt ngoài cấu tạo giống da, có hệ thống lông mọc phía trên khi trẻ dậy thì. Kích thước và hình dạng của môi lớn phụ thuộc vào lượng tổ chức mỡ chứa bên trong. Ở phía trên của môi lớn là chỗ bám của dây chằng tròn đi trong ổ bụng qua ống bẹn. Ở trẻ em và phụ nữ chưa đẻ lần nào thì hai môi lớn khép lại với nhau còn ở người đã đẻ rồi thì hai môi lớn mở rộng ra.

2.3. Môi bé

Môi bé là hai nếp da nằm phía trong của môi lớn, trước dậy thì ít khi quan sát thấy hai môi bé vì hai môi lớn che lấp nhưng sau dậy thì hai môi bé nhô hẳn ra khỏi hai môi lớn. Da bao phủ môi bé có cấu trúc tương tự niêm mạc, không có lông mọc nhưng có nhiều tổ chức tuyến bã, phía trước liên sát với âm vật để tạo thành hãm âm vật và phía sau liên sát với mép sau âm hộ.

2.4. Âm vật

Âm vật là cơ quan cương ở phụ nữ, gần tương tự như dương vật của nam giới. Âm vật nằm phía trên của âm hộ, được cấu tạo bởi quy đầu và vật hang. Âm vật thường chỉ dài dưới 2cm, đầu hướng xuống dưới và vào phía âm đạo. Quy đầu của âm vật có đường kính dưới 0,5cm được bao bọc bởi lớp da biểu mô không sừng hóa, rất giàu mạch máu và thần kinh chi phối.

2.5. Tiền đình

Tiền đình là vùng được giới hạn hai bên bởi hai môi bé, kéo dài từ âm vật đến tận mép sau của âm hộ. Vùng tiền đình là nơi đổ ra của các lỗ và các ống tuyến bao gồm lỗ niệu đạo, lỗ âm đạo, hai ống tuyến Bartholin và hai ống tuyến cạnh niệu đạo (hay còn gọi là tuyến Sken).

Ở các phụ nữ chưa quan hệ tình dục thì lỗ âm đạo thường bị hai môi bé che lấp và ngăn cách giữa âm đạo và vùng tiền đình là màng trinh. Màng trinh là một màng mỏng có hình dạng và kích thước khác nhau, có lỗ thông để máu kinh có thể chảy được ra ngoài. Trong một số trường hợp màng trinh không có lỗ thủng có thể gây ứ máu kinh mà biểu hiện là vô kinh, đau bụng có tính chất chu kỳ.

Lỗ niệu đạo đổ vào tiền đình ở đường giữa, phía trên lỗ âm đạo và ngay dưới vòm mu khoảng đến 1,5 cm. Hai bên của lỗ niệu đạo là lỗ của ống tuyến Sken.

Hai tuyến Bartholin có kích thước khoảng 0,5 đến 1cm, nằm ở hai bên của lỗ âm đạo, ống tuyến mở vào hai thành bên ở mặt trong của môi bé. Khi có kích thích tình dục thì các tuyến này sẽ bài tiết ra dịch nhầy để làm trơn đường sinh dục. Các tuyến này cũng rất dễ bị viêm nhiễm gây sưng và áp xe tuyến Bartholin.

2.6. Tầng sinh môn

Tầng sinh môn được cấu tạo bởi cân, cơ, dây chằng lót mặt dưới khung chậu. Tầng sinh môn có hình trám được giới hạn ở phía trước là khớp mu, hai bên là ụ ngồi và phía sau là đỉnh xương cụt. Đường nối hai ụ ngồi chia tầng sinh môn là hai phần bao gồm phía trước là tầng sinh môn niệu dục còn phía sau là tầng sinh môn hậu môn. Từ ngoài vào tầng sinh môn bao gồm ba tầng là tầng sâu, tầng giữa và tầng dưới.

Tầng sâu được cấu tạo bởi cân tầng sinh môn sâu, cơ nâng hậu môn (gồm hai bó, bó sau có tác dụng thắt, bó trước có tác dụng nâng) và cơ ngồi cụt.

Tầng giữa chỉ có vùng tầng sinh môn trước, không có vùng tầng sinh môn sau và khác nhau giữa nam và nữ. Ở phụ nữ có hai lớp cân của tầng giữa, cơ thắt niệu đạo và cơ ngang giữa. Ở nam giới, ngoài hai lớp cân tầng sinh môn và cơ ngang giữa còn có tuyến Cooper.

Tầng nông cũng khác nhau giữa nam và nữ. Cấu tạo gồm các cơ nông bao quanh âm đạo: cơ ngồi hang, cơ hành hang, cơ ngang nông và lớp cân tầng sinh môn nông, ngoài ra còn có cơ thắt âm môn. Tầng sinh môn sau chỉ có cơ thắt hậu môn.

Trong sản khoa, tầng sinh môn đóng một vai trò quan trọng. Dưới tác dụng của con co tử cung, ngôi thai lọt và xuống sẽ tì đè vào tầng sinh môn làm tất cả các cơ giãn mỏng rồi mở ra cho ngôi qua. Đối với các cơ nâng hậu môn khi xoa và mở sẽ thấy đường âm đạo – hậu môn – cụt dài ra, rãnh giữa hai cơ nâng hậu môn rộng ra, các thớ cơ giãn mỏng như một chiếc đèn xếp mở ra. Cơ nâng hậu môn có tác dụng làm xoay ngôi thai. Trong quá trình xoay, mở, các cơ tầng sinh môn có thể bị rách nhất là ở người con so. Chính vì vậy để đề phòng rách tầng sinh môn phức tạp người ta sẽ chủ động cắt tầng sinh môn đúng lúc khi cần thiết.

Hình 1. Cơ quan sinh dục ngoài (Nguồn: Williams 22nd edition)

2.7. Âm đạo

Âm đạo có cấu tạo từ niêm mạc và cân cơ, hình ống kéo dài từ âm hộ đến tử cung, nhưng bình thường là một khoang ảo vì thành trước và thành sau áp sát vào nhau. Chiều dài âm đạo khoảng 6 – 8 cm nhưng có thể giãn rộng và dài ra được trong quá trình thai đi xuống trong tiểu khung. Âm đạo nằm ngay phía sau niệu đạo, bàng quang và phía trước trực tràng. 1/3 trên của âm đạo có nguồn gốc từ ống Müller còn 2/3 dưới có nguồn gốc từ xoang niệu dục.

Thành trước của âm đạo ngăn cách với niệu đạo và bàng quang bởi tổ chức liên kết gọi là vách bàng quang âm đạo, tương tự thành sau cũng ngăn cách với trực tràng bởi phên âm đạo trực tràng. Ở 1/4 trên của âm đạo ngăn cách với trực tràng bởi túi cùng sau hay còn gọi là túi cùng Douglas. Phía trên của âm đạo bám vào cổ tử cung và tạo nên các túi cùng âm đạo bao gồm túi cùng trước, túi cùng sau và hai túi cùng bên.

Thành âm đạo được lót bởi một lớp biểu mô không sừng hóa, trên bề mặt thành âm đạo có các nếp niêm mạc tạo thành các gai. Phía dưới lớp niêm mạc là thành âm đạo được cấu tạo bởi lớp cơ mỏng gồm lớp vòng ở trong và lớp cơ dọc ở ngoài. Lớp tổ chức liên kết nằm dưới lớp niêm mạc và có giàu mạch máu.

Hình 2. Thiết đồ cắt dọc tiểu khung (Nguồn: Williams 22nd edition)

3. CƠ QUAN SINH DỤC TRONG

3.1. Tử cung

Tử cung là một khối cơ trơn, rỗng được chia ra làm ba phần: cổ tử cung, eo tử cung và thân tử cung. Ở hai góc tử cung có hai vòi tử cung nối thông buồng tử cung với ổ bụng.

3.2. Cổ tử cung

Cổ tử cung có chiều dài khoảng 2,5 cm. Phần cổ tử cung trong âm đạo có hình trụ. Ống cổ tử cung dài khoảng 2,5 cm mở ra phía ngoài âm đạo gọi là lỗ ngoài cổ tử cung, phía trong thông với buồng tử cung qua lỗ trong cổ tử cung. Bề mặt cổ tử cung được lót bởi biểu mô lát tầng không sừng hóa còn ống cổ tử cung được lót bằng biểu mô trụ tuyến chế nhầy. Trong một số trường hợp (viêm nhiễm, sử dụng thuốc tránh thai) biểu mô trụ tuyến lan ra ngoài lấn chiếm biểu mô lát tầng gây ra bệnh lộ tuyến cổ tử cung. Bệnh nhân biểu hiện ra nhiều khí hư, là một trong những nguyên nhân gây vô sinh, do vậy các trường hợp lộ tuyến cổ tử cung đặc biệt lộ tuyến rộng cần phải điều trị.

3.3. Eo tử cung

Eo tử cung dài 0,5 cm, nối giữa ống cổ tử cung với buồng tử cung. Eo tử cung tương xứng với lỗ trong cổ tử cung. Trong thời kỳ mang thai eo tử cung sẽ giãn mỏng và kéo dài thành 10 cm, gọi là đoạn dưới tử cung. Phúc mạc phủ đoạn dưới tử cung lỏng lẻo dễ bóc tách, lớp cơ đoạn này cũng chỉ có hai lớp vòng và dọc, không có lớp cơ rối nên rất dễ rạch vào để lấy thai khi mổ.

3.4. Thân tử cung

Thân tử cung có kích thước khoảng 4 đến 5 cm, gồm có ba lớp cơ là cơ dọc ở ngoài, cơ vòng ở trong và cơ rối ở giữa, lớp cơ rối này có tác dụng co bóp vào các mạch máu trong giai đoạn rau bong giúp cầm máu sau đẻ. Trục thân tử cung gập ra trước tạo với trục cổ tử cung một góc 120 độ và với trục âm đạo một góc 90 độ. Buồng tử cung có hình tam giác với đỉnh tương ứng với lỗ trong cổ tử cung, hai góc tương ứng hai sừng tử cung. Bệnh lý cơ tử cung như u xơ tử cung có thể gây ra vô sinh hoặc sảy thai. Các bất thường bẩm sinh tử cung cũng có thể gây vô sinh.

Hình 3. Cơ quan sinh dục nữ

3.4.1. Niêm mạc tử cung

Niêm mạc tử cung lót mặt trong buồng tử cung, cấu tạo bởi các tế bào trụ và các tuyến niêm mạc tử cung. Trong suốt thời kỳ sinh dục niêm mạc tử cung chịu tác động của hormon buồng trứng và biến đổi theo chu kỳ kinh nguyệt. Trong pha noãn dưới ảnh hưởng của nồng độ estrogen tăng cao niêm mạc tử cung phát triển dày lên, các tuyến dài ra. Sau phóng noãn hoàng thể bài tiết progesterone có tác dụng làm cho niêm mạc tử cung ở vào thời kỳ hoại thai, các ống tuyến có bài tiết nhiều niêm dịch có tác dụng giúp noãn đã thụ tinh dễ làm tổ. Nếu không có thai, hoàng thể sẽ bị thoái hóa, nồng độ estrogen và progesterone tụt xuống, kết quả làm cho niêm mạc tử cung ra gây ra hiện tượng kinh nguyệt. Bệnh lý buồng tử cung như polyp buồng tử cung, dính buồng tử cung cản trở việc làm tổ của noãn đã thụ tinh gây vô sinh. Điều trị các trường hợp này bằng soi buồng tử cung cắt polyp hoặc gỡ dính.

3.4.2. Vòi tử cung

Vòi tử cung dài khoảng 10 đến 12 cm, là một ống rỗng nối thông buồng tử cung với ổ bụng. Vòi tử cung có chức năng hứng lấy noãn, là nơi tinh trùng thụ tinh với noãn, định dưỡng và vận chuyển noãn mới thụ tinh về buồng tử cung.

Về mặt giải phẫu vòi tử cung chia ra bốn đoạn:

  • Đoạn kẽ: Là đoạn nhỏ nhất nằm trong lớp cơ tử cung, thông với buồng tử cung qua lỗ vòi tử cung.
  • Đoạn eo: Đoạn nằm sát thành tử cung, hẹp.
  • Đoạn bóng: Đoạn này nằm sát đoạn eo, đường kính rộng hơn đoạn eo.
  • Đoạn loa vòi: Có hình loa và các tua vòi có tác dụng hứng lấy noãn, đưa về buồng tử cung.

Bao bọc quanh vòi tử cung là phúc mạc lá thành. Niêm mạc lòng vòi tử cung là biểu mô trụ có các nhung mao vận động theo một hướng từ ngoài vào trong. Ngoài vận động của nhung mao thì bản thân vòi tử cung cũng có các nhu động từ ngoài vào trong có tác dụng vận chuyển noãn về buồng tử cung.

Viêm nhiễm đường sinh dục thường dẫn đến viêm tắc vòi tử cung là nguyên nhân thường gặp vô sinh ở phụ nữ. Điều trị các trường hợp này cần phải phẫu thuật nội soi mở thông, tạo hình vòi tử cung. Nếu thất bại thì phải chuyển làm thụ tinh trong ống nghiệm.

3.5. Mạch máu, thần kinh

Động mạch tử cung xuất phát từ động mạch chậu trong, chạy ở nền dây chằng rộng từ ngoài vào trong bắt chéo phía trước niệu quản, chỗ bắt chéo cách cổ tử cung 1,5 cm do vậy khi kẹp cắt động mạch tử cung trong phẫu thuật cắt tử cung rất dễ thắt vào niệu quản gây ứ nước bể thận. Ở ngang mức eo tử cung động mạch tử cung bắt đầu chạy dọc theo bờ bên tử cung theo kiểu xoắn ốc để cấp máu cho thân tử cung. Sau đó động mạch tử cung nối với động mạch buồng trứng.

Tĩnh mạch tử cung đi song song động mạch và cuối cùng đổ vào tĩnh mạch chậu trong, các tĩnh mạch nối thông qua đám rối chậu hông và âm đạo.

Thần kinh tử cung âm đạo tách ra từ đám rối hạ vị xuất phát từ đốt sống cùng 2 đến cùng 4 rồi đi qua dây chằng tử cung cùng vào chi phối cảm giác cho vùng eo và thân tử cung. Chính vì vậy trong trường hợp muốn gây tê quanh cổ tử cung thường tiêm gây tê vị trí hai dây chằng tử cung cùng.

3.6. Buồng trứng

Hai buồng trứng nằm ở hố buồng trứng, kích thước trung bình 3 x 3 x 5cm. Buồng trứng gồm có hai phần là phần vỏ và phần tủy buồng trứng, phần vỏ gồm các nang noãn ở các giai đoạn phát triển khác nhau và tổ chức đệm. Vùng tủy chiếm một phần nhỏ cấu trúc buồng trứng trong đó có các cuống mạch thần kinh đi vào từ rốn buồng trứng.

Trong bệnh lý hội chứng buồng trứng đa nang, buồng trứng có đặc trưng vỏ dày, trắng bóng như xà cừ, vùng chủ yếu có rất nhiều các nang nhỏ do không có nang noãn phát triển và phóng noãn được (hình ảnh siêu âm mô tả cắt qua buồng trứng có trên 7 nang nhỏ). Đôi các trường hợp này cần điều trị bằng các thuốc kích thích phóng noãn hoặc nội soi đốt điểm buồng trứng.

4. GIẢI PHẪU KHUNG XƯƠNG CHẬU

4.1. Các xương

Khung chậu được cấu tạo từ bốn xương là hai xương chậu và xương cùng, xương cụt. Mặt trong của xương chậu có gờ vô danh và diện lược và bờ trên khớp mu chia khung chậu thành hai phần, phần trên thuộc về đại khung hay còn gọi là khung chậu to; phần dưới gọi là tiểu khung, rất có ý nghĩa trong sản khoa.

Tiểu khung có hình ống cong lõm về phía trước, thành trước là mặt sau của xương mu dài 4 cm, thành sau là mặt trước xương cùng dài 12 cm, giới hạn trên của tiểu khung là eo trên và giới hạn dưới là eo dưới. Eo giữa là chỗ hẹp trong lòng tiểu khung giữa hai gai hông.

Xương cùng có 5 đốt, hai bên mỗi đốt có một lỗ gọi là lỗ xương cùng. Đốt sống cùng 1 lồi cao và tiếp giáp với đốt sống thắt lưng 5 gọi là mỏm nhô. Đây là mốc để đo đường kính trước sau của khung chậu (đường kính nhô – hậu vệ).

Xương cụt có 4 đến 6 đốt, tiếp xúc với xương cùng, đỉnh xương cụt là mốc để đo các đường kính trước sau của eo dưới.

4.2. Các khớp

Các xương của khung chậu nối với nhau bằng các khớp bán động: phía trước hai ngành mu nối với nhau bằng khớp mu; phía sau xương chậu nối với xương cùng bằng hai khớp cùng chậu, xương cùng nối với xương chậu bằng khớp cùng cụt (Hình 5). Các khớp của khung chậu là khớp bán động nên trong quá trình chuyển dạ, ngôi thai đi qua xương trong tiểu khung sẽ làm cho các khớp giãn ra, làm tăng các đường kính của khung chậu. Khi ngôi thai sổ sẽ đẩy xương cụt ra phía sau làm tăng đường kính trước sau của eo dưới.

4.3. Đại khung và các đường kính ngoài khung chậu

Đại khung là phần khung chậu nằm phía trên eo trên. Trong sản khoa đại khung ít có vai trò quan trọng vì ngôi thai chỉ di động trong tiểu khung để ra ngoài. Tuy nhiên đại khung cũng phản ánh một cách gián tiếp kích thước và hình dạng của tiểu khung do vậy trên lâm sàng người ta vẫn sử dụng các số đo của đại khung để góp phần tiên lượng cuộc đẻ.

Đường kính lưỡng gai được đo từ hai gai chậu trước trên, bình thường dài 22,5cm. Đường kính lưỡng mào được đo từ hai điểm cao nhất của mào chậu, bình thường dài 22,5cm. Đường kính lưỡng lồi mấu được đo từ hai mấu chuyển xương đùi, bình thường dài 27,5cm.

Hình trám Michaelis được đo từ các mốc phía trên là mỏm gai đốt sống thắt lưng 5, điểm dưới là đỉnh của rãnh liên mông, hai bên là chỗ lõm vào của hai gai chậu sau trên. Bình thường hình trám cân đối, nếu khung chậu lệch thì hình trám này sẽ không cân đối nữa.

4.4. Tiểu khung và các eo của tiểu khung

4.4.1. Eo trên

Eo trên là ranh giới ngăn cách giữa đại khung và tiểu khung được cấu tạo phía trước là bờ trên của xương vệ, hai bên là diện lược và gờ vô danh, phía sau khớp cùng chậu và mỏm nhô. Tất cả các mốc này tạo nên mặt phẳng eo trên, là một mốc để đánh giá xem ngôi thai có khả năng lọt xuống tiểu khung hay không. Ngôi thai đã lọt là đường kính lọt của ngôi (đường kính hạ chẩm thóp trước trong ngôi chỏm, hạ cằm thóp trước trong ngôi mặt) đi qua mặt phẳng eo trên, tức là đi qua một trong hai đường kính chéo, khi đó đường kính lưỡng đỉnh sẽ đi qua một trong hai đường kính chéo còn lại.

Các đường kính của eo trên bao gồm đường kính ngang tối đa dài 13,5cm, nhưng đường kính này nằm gần mỏm nhô nên ngôi không đi qua đường kính này. Đường kính ngang giữa dài 12,5 cm nhưng ngôi thai không lọt qua đường kính này.

Đường kính chéo đo từ khớp cùng chậu sang tới gai chậu lược bên đối diện, đường kính chéo trái đo từ đầu đài chậu lược bên phải đến khớp cùng chậu trái dài 12,5cm còn đường kính chéo phải đo từ đài chậu lược bên trái đến khớp cùng chậu phải dài 12cm. Khi ngôi thai lọt sẽ đi qua một trong hai đường kính chéo của khung chậu.

Đường kính trước sau quan trọng nhất là đường kính nhô hậu vệ được đo từ mỏm nhô đến bờ sau khớp vệ, dài 10,5cm. Đây là đường kính hữu dụng vì ngôi thai sẽ đi qua đường kính này để ra ngoài. Tuy nhiên trên lâm sàng người ta không thể đo được đường kính nhô – hậu vệ mà chỉ đo gián tiếp thông qua đường kính nhô – hậu vệ từ mỏm nhô đến bờ dưới khớp vệ, dài 12cm. Đường kính nhô – hậu vệ ngắn hơn đường kính nhô – hậu vệ 1,5cm.

Hình 8. Cách đo đường kính nhô – hạ vệ (Nguồn: Current obstetric and Gynecology)

Đường kính hữu dụng được áp dụng để chẩn đoán khung chậu hẹp toàn bộ, khung chậu giới hạn hay khung chậu bình thường. Khung chậu hẹp toàn diện là tất cả các đường kính của khung chậu đều nhỏ hơn bình thường, bao gồm cả đường kính chéo, ngang và trước sau, tuy nhiên trên lâm sàng người ta chỉ có thể đo được đường kính trước sau nên chẩn đoán khung chậu hẹp toàn diện khi đường kính nhô – hạ vệ dưới 8,5cm, trong trường hợp này ngôi thai không thể đi qua được eo trên nên bắt buộc phải mổ lấy thai.

Khung chậu giới hạn khi đường kính nhô – hạ vệ từ 8,5 cm – 10,5 cm, trong trường hợp này ngôi thai có hoặc không thể lọt được nên bắt buộc phải làm nghiệm pháp lọt cho ngôi chỏm để xem ngôi thai có đi qua được eo trên hay không, nếu ngôi thai đi qua được thì theo dõi đẻ đường dưới còn nếu không đi qua được thì phải mổ lấy thai.

4.4.2. Eo giữa

Eo giữa là phần thắt hẹp nằm giữa hai eo trên và eo dưới, chính là phần nhô ra của gai hông. Người ta chỉ quan tâm nhiều đến đường kính lưỡng gai hông, bình thường dài 10,5cm. Trên lâm sàng đo đường kính lưỡng gai hông bằng thước compa đặc biệt. Nếu dưới 10 cm là hẹp giới hạn và dưới 9 cm là hẹp eo giữa, khi đó ngôi thai không xuống được trong tiểu khung, do vậy cần phải mổ lấy thai.

Eo giữa là mốc để chẩn đoán độ lọt của ngôi thai theo các giai De Lee. De Lee lấy đường liên gai hông làm mốc 0, khi vị trí thấp nhất của đầu thai nhi chạm vào đường liên gai hông là ngôi thai bắt đầu lọt. Bất đầu từ vị trí này trở lên hoặc xuống dưới được tính bằng ký hiệu các số 1, 2, 3… Nếu ngôi nằm phía trên là chưa lọt được đánh dấu bằng trị số (-) ví dụ (-1, -2…) và ngôi nằm dưới là đã lọt và được đánh dấu bằng trị số (+) ví dụ (+1, +2…).

Hình 9. Độ lọt ngôi chỏm theo De Lee (Nguồn: Current obstetric and Gynecology)

4.4.3. Eo dưới

Eo dưới được cấu tạo bởi hai tam giác có chung một đáy là đường nối liên ụ ngồi, không cùng nằm trên một mặt phẳng, đỉnh của tam giác sau là đỉnh xương cùng, hai cạnh bên là hai dây chằng cùng – gai hông và ụ ngồi. Đỉnh tam giác trước là điểm dưới khớp mu và hai cạnh bên là ngành ngồi mu tạo nên vòm vệ.

Các đường kính của eo dưới bao gồm đường kính trước sau được đo từ mép dưới của khớp vệ đến đỉnh của xương cùng dài từ 9,5cm đến 11,5cm. Đường kính ngang là đường kính lưỡng ụ ngồi dài 11cm. Đường kính lưỡng ụ ngồi áp dụng để chẩn đoán hẹp eo dưới (khi đường kính lưỡng ụ ngồi dưới 8cm). Trong trường hợp hẹp eo dưới ngôi thai vẫn có thể lọt và xuống được nhưng lại không sổ được do vậy cần phải mổ lấy thai.

Hình 10. Eo dưới

5. CÁC LOẠI KHUNG CHẬU

Có bốn loại khung chậu là khung chậu nữ giới (Gynecoid), khung chậu dẹt chiều ngang (Antropoid), khung chậu nam giới (Android) và khung chậu dẹt trước sau (Platypelloid).

Khung chậu nữ khi eo trên có hình elíp nằm ngang, các đường kính ngang và đường kính trước sau bình thường. Khung chậu nam eo trên có hình tam giác, đường kính ngang lớn nhất sẽ nằm lùi về phía xương cùng.

Khung chậu dẹt trước sau khi các đường kính ngang bình thường hoặc lớn hơn bình thường nhưng đường kính trước sau ngắn, mỏm nhô tiến ra phía trước nhiều làm cản trở đầu thai nhi xuống nên ngôi không lọt được. Khung chậu dẹt ngang khi eo trên quay 90 độ, đường kính ngang hẹp nhưng đường kính trước sau lớn hơn bình thường.

Hình 11. Các loại khung chậu (Nguồn: Current obstetric and Gynecology)

Cập nhật thông tin mới nhất về kiến thức y học và test y học tại facebook TEST Y HỌC

Tham gia nhóm zalo: Tài Liệu Y Học Tổng Hợp

Ôn thi nội trú, sau đại học TẠI ĐÂY

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Content is protected !!
All in one