KHÁM BỆNH Ở NGƯỜI CAO TUỔI – NỘI KHOA Y HÀ NỘI

CHƯƠNG IV. BÀI 1:

KHÁM BỆNH Ở NGƯỜI CAO TUỔI

MỤC TIÊU

  1. Trình bày được các vấn đề cần hỏi bệnh ở người cao tuổi.
  2. Trình bày được cách khám các hệ cơ quan, bộ phận ở người cao tuổi.

1. HỎI BỆNH NGƯỜI CAO TUỔI

Do người cao tuổi thường mắc nhiều bệnh, các triệu chứng lại thường không đặc hiệu, nên hỏi bệnh ở người cao tuổi cần nhiều thời gian hơn so với người trẻ. Suy giảm giác quan ở người cao tuổi (mắt kém, tai nghe ngãng) cũng cản trở việc hỏi bệnh. Nhiều người cao tuổi không thể nhớ hết toàn quan trọng của các triệu chứng, hoặc đây là chuyện bình thường của tuổi già (ví dụ khó thở, giảm thính lực, giảm trí nhớ, tiểu tiện không tự chủ, rối loạn dáng đi, táo bón, chóng mặt, ngã…). Tuy nhiên, không được coi bất cứ triệu chứng nào là do già hóa bình thường, trừ khi đã khám, xét cận thận và loại bỏ các nguyên nhân khác.

Ở người cao tuổi, biểu hiện lâm sàng của bệnh có thể khác với người trẻ. Nhiều khi chỉ biểu hiện bằng suy giảm hoạt động chức năng, trong những trường hợp như vậy, cách hỏi bệnh thông thường còn phụ hợp. Ví dụ, khi hỏi về các triệu chứng khớp, bệnh nhân bị bệnh khớp nặng sẽ không kể về các triệu chứng sưng, đau cứng khớp, nhưng nếu hỏi về những hoạt động hằng ngày, họ sẽ nói họ không còn khả năng đi lại nữa. Cần hỏi kỹ xem suy giảm hoạt động chức năng xuất hiện từ bao giờ (ví dụ “đã bao lâu rồi bác không còn khả năng tự đi chợ nữa?”) qua đó có thể khai thác được những thông tin cần thiết. Nếu phát hiện những người bắt đầu có suy giảm về hoạt động cơ bản hằng ngày (ADL), hoặc hoạt động có sử dụng phương tiện (IADL), sẽ có nhiều cơ hội để can thiệp nhằm phục hồi hoặc ngăn chặn suy giảm hơn và do vậy duy trì được khả năng sống độc lập của bệnh nhân.

Những người cao tuổi bị sa sút trí tuệ thường không thể mô tả bệnh sử một cách rõ ràng. Họ không nhớ những lần nhập viện hoặc phẫu thuật trước đó, không nhớ các thuốc đang sử dụng. Thầy thuốc phải khai thác những thông tin này qua các nguồn khác (ví dụ người nhà bệnh nhân, bác sỹ điều trị, người chăm sóc hoặc qua sổ y bạ). Những điều bệnh nhân kể có thể không giống với thông tin do người nhà bệnh nhân cung cấp.

Với những bệnh nhân người cao tuổi có nhiều bệnh phức tạp, đặc biệt những người mắc nhiều bệnh cùng một lúc và phải dùng nhiều loại thuốc, nhiều khi cần được một nhóm đa ngành đánh giá. Nhóm này thường bao gồm bác sỹ, y tá, dược tá, nhân viên về dinh dưỡng, vật lý trị liệu, lao động trị liệu và nhân viên xã hội. Từng thành viên của nhóm sẽ đánh giá riêng về lĩnh vực của mình, sau đó cùng nhau thảo luận và đưa ra kế hoạch điều trị, có cân nhắc đến tình trạng chức năng, điều kiện kinh tế, cũng như sự tương tác giữa các bệnh và thuốc khác nhau.

1.1. Tiếp cận bệnh nhân

Hiểu biết của thầy thuốc về những vấn đề hằng ngày, hoàn cảnh xã hội, tình trạng tâm thần, cảm xúc của bệnh nhân… sẽ định hướng rất nhiều cho việc hỏi bệnh. Bình thường, thầy thuốc thường tập trung hỏi về vấn đề chính mà bệnh nhân khai. Tuy nhiên, cách hỏi bệnh như vậy có thể bỏ sót nhiều thông tin. Thay vào đó có thể yêu cầu bệnh nhân kể lại một ngày hoạt động bình thường của họ, qua đó khai thác được những thông tin về chất lượng cuộc sống, tình trạng tâm thần và hoạt động chức năng của họ. Cách tiếp cận này rất hữu ích, nhất là trong lần tiếp xúc đầu tiên, có đủ ở phòng khám, khoa cấp cứu, trong bệnh viện hoặc ở trung tâm dưỡng lão. Cho phép bệnh nhân kể về cuộc sống của họ, những thành công, những vấn đề riêng tư sẽ tạo được mối quan hệ tốt giữa thầy thuốc và bệnh nhân. Mối quan hệ này sẽ giúp cho việc giao tiếp với người nhà bệnh nhân và làm cho bệnh nhân tuân thủ kế hoạch điều trị.

Thông thường, có thể phát hiện được bệnh thông qua các giao tiếp bằng lời hoặc không lời (ví dụ cách nói, giọng nói, ánh mắt). Người cao tuổi có thể không kể hoặc có tình che dấu các triệu chứng lo âu, trầm cảm nhưng điều này có thể bộc lộ qua giọng nói buồn rầu, ủ rũ, thậm chí không cảm được nước mắt. Qua lời khai về giấc ngủ, về sự ngon miệng có thể biết về tình trạng thể lực và tâm thần của bệnh nhân. Những thay đổi về quần áo và răng giả không vừa có thể cho biết về sự tăng hoặc giảm cân của bệnh nhân. Cũng cần chú ý đến tình trạng vệ sinh cá nhân, cách ăn mặc của bệnh nhân. Nhận xét về người nhà bệnh nhân để ý xem bệnh nhân có thích người nhà ngồi cùng trong khi hỏi bệnh hay không?

Trong khi hỏi bệnh, nên để bệnh nhân mặc đầy đủ quần áo. Nếu bệnh nhân dùng răng giả, kính, máy trợ thính thì cứ để bệnh nhân dùng để giao tiếp dễ dàng hơn. Với những bệnh nhân có giảm thị lực hoặc thính lực, cần điều chỉnh ánh sáng trong phòng vừa đủ để bệnh nhân khỏi chói mắt, người khám cần ngồi gần và trực diện với bệnh nhân, nói rõ ràng, chậm rãi để bệnh nhân có thể đọc được lời nói. Không nên hét to vì điều này chẳng giúp ích gì cho bệnh nhân do màng nhĩ của họ bị xơ cứng do quá trình lão hóa và các xương nhỏ ở tai sẽ làm biến dạng âm thanh có tần số cao. Bộ tai nghe và máy âm có thể giúp ích cho bệnh nhân, giá thành lại rẻ nhất là với những người không có máy trợ thính. Nếu không có các dụng cụ này, có thể lấy ống nghe của thầy thuốc cho bệnh nhân đeo vào rồi vào loa nghe.

Nên khám tình trạng tâm thần sớm để đánh giá độ tin cậy những lời khai của bệnh nhân. Cần tế nhị để bệnh nhân không cảm thấy xấu hổ, cảnh giác hoặc cụt hứng.

Một số bệnh nhân thích có người nhà ngồi cùng trong khi hỏi bệnh. Tuy nhiên, trừ trường hợp có các vấn đề về tâm thần, nên hỏi riêng để khuyến khích bệnh nhân trao đổi về các vấn đề cá nhân. Thông thường, thầy thuốc cũng cần trao đổi thêm với người nhà hoặc người chăm sóc bệnh nhân, có thể ngồi cùng với bệnh nhân hoặc ngồi riêng, để thu thập thêm các thông tin về hoạt động chức năng, tình trạng tâm thần và trạng thái cảm xúc của bệnh nhân.

Thầy thuốc không được từ ý mời người nhà ở lại vì như vậy nguy cơ bệnh nhân không có khả năng cung cấp thông tin đầy đủ. Cũng không nên bảo họ đợi ở ngoài trong khi hỏi người nhà hoặc người chăm sóc, mà cần phải giải thích trước cho biết cần thiết phải như vậy. Trong khi thầy thuốc trao đổi với người nhà nên có một nhân viên hướng dẫn bệnh nhân làm việc khác (ví dụ điền vào bảng câu hỏi đánh giá khí sắc, nhận thức, chất lượng sống…).

1.2. Tiền sử bệnh

Khi hỏi tiền sử bệnh tật, thầy thuốc cũng cần hỏi về những bệnh mà hiện tại không còn phổ biến nữa (ví dụ thấp tim, bại liệt) và cách điều trị mà hiện nay không còn dùng (gây tràn khí màng phổi trong điều trị lao, điều trị giang mai bằng thủy ngân), những tác dụng phụ của điều trị. Nếu bệnh nhân chỉ nhớ là có phẫu thuật nhưng không rõ phẫu thuật gì, mục đích phẫu thuật ra sao thì cần tìm lại giấy tờ phẫu thuật nếu có.

Các câu hỏi được thiết kế một cách hệ thống theo từng vùng hoặc cơ quan để kiểm tra những bệnh khác mà bệnh nhân quên không nói. (Xem bảng 4.1).

Bảng 4.1. Hỏi bệnh một cách hệ thống

Cơ quan Triệu chứng Các khả năng có thể
Da Ngứa Phản ứng dị ứng, ung thư, da khô, cường giáp, vàng da, cháy, rận, ghẻ, tăng urê máu
Đầu Nhức đầu Lo âu, thoái hóa đốt sống cổ, trầm cảm, viêm mạch tế bào khổng lồ, xuất huyết dưới nhện, máu tụ dưới màng cứng, u não
Mắt Chói mắt với ánh sáng đèn Đục thủy tinh thể, thiên đầu thống
  Giảm thị lực trung tâm Thoái hóa hoàng điểm
  Giảm thị lực gần Viễn thị
  Giảm thị lực ngoại vi Thiên đầu thống, bong võng mạc, đột quỵ
  Đau Viêm động mạch tế bào khổng lồ, thiên đầu thống
Tai Nghe kém U thần kinh thính giác, ráy tai, dị vật trong ống tai ngoài, ngộ độc tai do thuốc (aminoglycosid, aspirin, furosemid), bệnh Paget, viêm thính, chấn thương do tiếng ồn, u gốc cầu tiểu não, nhiễm virus
  Giảm thính lực với âm thanh có tần số cao Viễn thính (thường do những thay đổi lão hóa ở ốc tai)
Mồm Bỏng rát miệng Thiếu máu ác tính, viêm dạ dày
Đau răng Hàm giả không vừa, ung thư miệng
Khô mồm Những bệnh tự miễn (viêm khớp dạng thấp, hội chứng Sjögren, lupus ban đỏ), mất nước, các thuốc (chống trầm cảm ba vòng, kháng histamin, thuốc hạ huyết áp, lợi tiểu, thuốc tâm thần), tổn thương tuyến nước bọt do nhiễm trùng hoặc do chạy tia phóng xạ các khối u vùng đầu cổ.
Hạn chế vận động lưỡi Ung thư miệng, đột quỵ
Mất vị giác Suy thượng thận, các thuốc (kháng histamin, chống trầm cảm), khô mồm, nhiễm trùng miệng, urê máu cao, chạy tia phóng xạ, hút thuốc lá
Họng Khó nuốt Lo âu, ung thư, co thắt thực quản, dị vật, đột quỵ, túi thừa Zenker
Thay đổi giọng nói Suy giáp trạng, rối loạn chức năng thần kinh họng tái phát, u thanh quản
Cổ Đau Thoái hóa đốt sống cổ, tách phình động mạch cảnh, đốt sống, đau đa cơ do thấp (polymyalgia rheumatica)
Ngực Khó thở khi gắng sức Ung thư, COPD, suy giảm chức năng, suy tim, nhiễm trùng
Khó thở kịch phát về đêm Suy tim, trào ngược dạ dày thực quản
Đau Cơn đau thắt ngực, lo âu, tách phình động mạch chủ, viêm sụn sườn, rối loạn vận động thực quản, trào ngược dạ dày thực quản, nhiễm virus, herpes, nhồi máu cơ tim, viêm cơ tim, viêm màng ngoài tim, tràn dịch màng phổi, viêm màng phổi, viêm phổi, tràn khí màng phổi
Hệ tiêu hóa Táo bón, không có triệu chứng khác Ung thư đại tràng trực tràng, mất nước, các thuốc (các antacid có chứa aluminium, kháng cholinergic, các thuốc bổ sung sắt, opioid, chống trầm cảm ba vòng, cường cận giáp trạng, hạ kali máu, suy giáp, ít vận động, lạm dụng thuốc tẩy, ăn chế độ ít chất xơ)
Táo bón kèm theo đau, nôn, xen lẫn ỉa chảy từng lúc Táo bón mạn tính
Đại tiện không tự chủ Sa sút trí tuệ, đóng phân, ung thư trực tràng, tổn thương tủy
Đau bụng dưới (dữ dội, đột ngột) Bệnh túi thừa, viêm dạ dày ruột, viêm đại tràng do thiếu máu cục bộ, tắc nghẽn
Đau bụng sau ăn (15–30 phút sau ăn, kéo dài 1–3 giờ) Thiếu máu cục bộ ruột mạn tính
Chảy máu ở trực tràng Loạn sản mạch đại tràng, ung thư đại tràng, bệnh túi thừa, trĩ, thiếu máu cục bộ đại tràng
Hệ tiết niệu Đái nhiều lần, đái khó, dòng tiểu yếu, đái không hết bãi U lành tuyến tiền liệt, táo bón, các thuốc (kháng histamin, opioids), ung thư tuyến tiền liệt, bí tiểu, nhiễm trùng tiết niệu
Rối loạn tiểu tiện, có sốt hoặc không Viêm tuyến tiền liệt, nhiễm trùng tiết niệu
Đái nhiều Đái tháo nhạt (tăng hoạt tính ADH), đái tháo đường, dùng thuốc lợi tiểu
Tiểu tiện không tự chủ Viêm bàng quang, suy giảm chức năng, não úng thủy áp lực bình thường, rối loạn chức năng tủy sống, đột quỵ, bí tiểu, nhiễm trùng tiết niệu
Cơ xương Đau lưng Xẹp đốt sống, nhiễm trùng, ung thư di căn xương, đau u tủy, thoái khớp, bệnh Paget, viêm bể thận
Đau các cơ gân Bệnh cơ, thấp khớp gốc chi (polymyalgia rheumatica)
Các chi Đau chân Cơn đau cách hồi, chuột rút về đêm, thoái khớp, bệnh lý rễ (thoát vị đĩa đệm, hẹp ống sống), hội chứng chân không nghỉ
Sưng cổ chân Suy tim (nếu sưng cả hai bên), giảm albumine máu, suy tĩnh mạch
Thần kinh Thay đổi tình trạng tâm thần kèm theo có sốt Sảng, viêm não, viêm màng não, nhiễm khuẩn huyết
Thay đổi tình trạng tâm thần không có sốt Bệnh cấp, suy giảm nhận thức, táo bón nặng, trầm cảm, hoang tưởng, bí tiểu
Khó thực hiện các động tác đòi hỏi sự phối hợp cao (cài khuy áo…) Thoái khớp, triệu chứng Parkinson, bệnh tủy cổ
Vã mồ hôi quá nhiều trong bữa ăn Bệnh thần kinh tự động
Ngã không có mất ý thức Nhịp chậm, cơn khuỵu hai chân, bệnh thần kinh, tụt huyết áp tư thế, mất thăng bằng, nhịp nhanh, thiếu máu cục bộ não thoáng qua, giảm thị lực
Động tác ngập ngừng, run Bệnh Parkinson
Tê, buốt ngón tay Hội chứng ống cổ tay, bệnh thần kinh ngoại vi, bệnh tủy cổ
Rối loạn giấc ngủ Lo âu, thay đổi nhịp sống, trầm cảm, các thuốc, đau, Parkinson, rối loạn vận động chân theo chu kỳ, ngừng thở khi ngủ, đi tiểu đêm
Ngất Hẹp van động mạch chủ, loạn nhịp tim, hạ đường huyết, hạ huyết áp khi đứng, co giật
Rối loạn cơ lực, cảm giác, ngôn ngữ, hoặc thị giác thoáng qua Cơn thiếu máu cục bộ não thoáng qua

1.3. Tiền sử dùng thuốc

Phải ghi lại tiền sử dùng thuốc. Lưu giữ các đơn thuốc là rất cần thiết. Cần sao lại một bản cho bệnh nhân hoặc người chăm sóc. Trong tiền sử thuốc phải ghi rõ tên thuốc, liều thuốc, cách dùng, người kê đơn, và lý do kê đơn thuốc. Kể cả thuốc dùng tại chỗ vì đôi khi chúng có tác dụng toàn thân, ví dụ thuốc nhỏ mắt chẹn β để điều trị thiếu dịch có thể có tác dụng tim mạch và hô hấp tương tự như dùng đường uống hoặc đường tĩnh mạch. Cũng cần khai thác tiền sử dùng các thuốc không cần đơn. Việc sử dụng quá liều các thuốc này có thể gây những hậu quả nghiêm trọng (ví dụ quá liều dùng thuốc nhuận tràng, ngộ độc acid salicylic do dùng aspirin, chảy máu tiêu hóa hoặc suy thận do dùng các thuốc chống viêm không steroid…). Mặt khác, các thuốc này có thể ảnh hưởng đến tác dụng của các thuốc khác (ví dụ khi dùng acetaminophen trong các thuốc không cần đơn, thì phải giảm bớt liều của các thuốc giảm đau có chứa acetaminophen). Cần khai thác tiền sử dùng các thuốc nguồn gốc thảo mộc và các chế phẩm dinh dưỡng vì đôi khi có tương tác có hại với các thuốc khác, ví dụ dùng chất chiết xuất Ginkgo biloba cùng với các thuốc chống viêm không steroid hoặc warfarin làm tăng nguy cơ xuất huyết. Cần phải ghi lại chính xác các thuốc gây dị ứng.

Trong lần khám đầu tiên, và sau đó định kỳ đề nghị bệnh nhân và người nhà mang tất cả các đơn thuốc cũ và các thuốc không cần đơn, các chất bổ sung dinh dưỡng, các thuốc đông y. Tuy nhiên, dù có đơn thuốc nhưng cũng chưa chắc bệnh nhân đã tuân thủ đúng theo đơn, vì vậy đôi khi phải kiểm tra cả vỏ thuốc, số thuốc còn lại trong vỉ…

Kiểm tra xem bệnh nhân có thể đọc được nhãn thuốc không? (chữ trên nhãn thuốc thường rất nhỏ), có tự mở được lọ thuốc không? (nhất là các loại lọ được thiết kế không cho trẻ em mở), có nhận dạng được viên thuốc không? (nhất là khi các thuốc trong ngày được dùng với nhiều màu).

1.4. Tiền sử hút thuốc lá, uống rượu và các chất gây nghiện khác

Hỏi kỹ tiền sử hút thuốc lá và nghiện rượu. Nếu bệnh nhân hút thuốc cần khuyên họ bỏ thuốc. Phải cảnh báo cho họ biết không được tự bỏ thuốc tại giường, vì người cao tuổi có thể ngủ thiếp đi trong khi hút. Phải kiểm tra xem họ có các dấu hiệu nghiện rượu: lú lẫn, cáu kỉnh, thái độ thù địch, hơi thở có mùi rượu, mất thăng bằng, run, bệnh thần kinh ngoại vi, tình trạng suy dinh dưỡng. Các bộ câu hỏi sàng lọc (ví dụ bộ câu hỏi CAGE) là phương tiện hữu ích để xác định những người nghiện rượu. Khi cần thiết, sử dụng các bộ câu hỏi sàng lọc các chất gây nghiện khác.

1.5. Dinh dưỡng

Xác định loại thức ăn, số lượng và số bữa ăn. Những người ăn ≤ 2 bữa mỗi ngày có nguy cơ suy dinh dưỡng. Cần ghi lại các chế độ ăn đặc biệt (ví dụ chế độ ăn hạn chế muối, hạn chế carbohydrate). Cần hỏi xem bệnh nhân có ăn chế độ giàu chất xơ không, có dùng các thuốc vitamin theo đơn hoặc không đơn không? Hỏi xem bệnh nhân tăng cân hoặc giảm cân, quần áo mặc rộng hay chật. Hỏi về số tiền bệnh nhân chi cho việc ăn uống, khả năng đi chợ, điều kiện nấu nướng. Sự đa dạng và mức độ tươi của thực phẩm là hết sức quan trọng. Nhiều bệnh nhân cần hạn chế ăn cơm và các thực phẩm đóng hộp.

Cần đánh giá khả năng ăn của bệnh nhân (ví dụ nhai và nuốt). Người cao tuổi thường bị khô mồm. Giảm nhận biết về mùi, vị cũng làm giảm sự thèm ăn của bệnh nhân. Những bệnh nhân có giảm thị lực, thoái khớp, hạn chế vận động, run… sẽ khó tự chuẩn bị bữa ăn và có thể bị chấn thương hoặc bỏng trong khi nấu nướng. Nhiều bệnh nhân bị tiểu tiện không tự chủ sẽ ngại không chịu uống nước, do đó họ ăn uống giảm.

1.6. Sức khỏe tâm thần

Khai thác các vấn đề về sức khỏe tâm thần ở người cao tuổi thường khó hơn ở người trẻ. Các triệu chứng thường gặp là mất ngủ, táo bón, giảm chức năng nhận thức, chán ăn, sút cân, lo lắng về các chức năng của cơ thể, uống nhiều rượu. Cần hỏi bệnh nhân về các triệu chứng hoang tưởng và ảo giác, tiền sử điều trị rối loạn tâm thần (kể cả tâm lý liệu pháp, những lần nhập viện tâm thần, và điều trị bằng sốc điện), các thuốc điều trị tâm thần đã và đang dùng, những thay đổi gần đây.

Triệu chứng: vẻ buồn rầu, chán chường và khóc lóc có thể chứng tỏ bệnh nhân bị trầm cảm. Nhiều tình huống có thể gây nên tình trạng này (ví dụ mất người thân, vật nuôi thân thiết, giảm thị lực, thay đổi chỗ ở hoặc điều kiện sống, mất khả năng sống độc lập). Nhiều khi trầm cảm lại biểu hiện bằng các triệu chứng như cáu kỉnh, hoặc rối loạn nhận thức. Cần hiểu về những sở thích tinh thần và tôn giáo của bệnh nhân, kể cả quan niệm của bệnh nhân về tuổi già, bệnh tật và cái chết.

1.7. Tình trạng chức năng

Đánh giá tình trạng chức năng là một phần trong đánh giá lão khoa toàn diện (Comprehensive Geriatric Assessment). Đánh giá khả năng độc lập của họ, như cầu giúp đỡ một phần trong hoạt động sống hằng ngày (ADL), hoặc hoạt động hằng ngày có sử dụng công cụ (IADL), hoặc cần sự hỗ trợ toàn diện. Cần đặt các câu hỏi “có/không” hoặc bệnh nhân điền vào các bảng câu hỏi chuẩn như (thang điểm ADL của Katz, thang điểm IADL của Lawton).

1.8. Các vấn đề xã hội

Đánh giá việc sắp xếp cuộc sống trong gia đình, tốt nhất là đến thăm nơi ở của bệnh nhân. Kiểm tra số phòng, số và loại điện thoại, nhà có bộ phận báo cháy không, hệ thống sưởi, máy điều hoà nhiệt độ, tình trạng cầu thang, bậc lên xuống. Kiểm tra mức độ khô an toàn, dễ gây ngã như không đủ ánh sáng, sàn nhà trơn và gợi ý các biện pháp khắc phục.

Nên đề nghị bệnh nhân kể lại một ngày bình thường của họ, bao gồm các hoạt động như đọc sách báo, xem vô tuyến, làm việc nhà, luyện tập, vui chơi, giao tiếp với những người khác, qua đó cũng phần nào đánh giá trí nhớ của bệnh nhân về số lần giao tiếp với người ngoài, giao tiếp với ai (bạn bè, hội người cao tuổi), thăm người nhà, họ hàng, đi lễ. Hỏi bệnh nhân về khả năng lái xe, cách sử dụng các phương tiện giao thông công cộng khác.

Tìm hiểu về những người có thể chăm sóc bệnh nhân (ví dụ nhà thờ, hội người cao tuổi, bạn bè, hàng xóm). Khả năng giúp đỡ bệnh nhân của những người thân trong gia đình (khả năng sắp xếp công việc, sức khỏe, thời gian của họ). Thái độ của bệnh nhân đối với những người thân trong gia đình, cũng như thái độ của họ đối với bệnh nhân (có thật sự quan tâm, có sẵn lòng giúp không?). Cũng cần kiểm tra xem có các dấu hiệu ngược đãi hoặc lạm dụng người cao tuổi không?

Cần ghi lại tình trạng hôn nhân của bệnh nhân. Hỏi về hoạt động tình dục, sự thoả mãn nhưng phải hết sức khéo léo và tế nhị. Cũng phải hỏi về người quan hệ tình dục, và nguy cơ lây bệnh qua đường tình dục. Nhiều người cao tuổi không biết các kiến thức tình dục an toàn.

Hỏi về trình độ học vấn, nghề nghiệp, tiếp xúc với phóng xạ, amiăng. Những thú vui của họ trước kia cũng như hiện nay. Cần thảo luận về những khó khăn kinh tế của họ sau khi nghỉ hưu, thu nhập cố định, mất vợ (hoặc chồng). Các vấn đề y tế hoặc y tế có thể có dẫn đến việc mất chỗ ở, mất khả năng sống độc lập. Mối quan hệ của bệnh nhân với thầy thuốc gia đình. Mọi quan hệ lâu dài này có thể bị mất do người đó đã chết, về hưu, hay do bệnh nhân thay đổi chỗ ở.

Ghi lại những mong muốn của bệnh nhân về các biện pháp kéo dài cuộc sống. Cần hỏi xem ai sẽ là người đại diện của bệnh nhân trong trường hợp họ không có khả năng tự quyết định.

2. KHÁM THỰC THỂ Ở NGƯỜI CAO TUỔI

Trước tiên cần quan sát kỹ bệnh nhân và cử động của họ (ví dụ cách họ đi vào phòng khám, cách ngồi xuống ghế, cách đứng lên, cách nằm xuống giường bệnh, cách cởi giày, tất) qua đó có thể biết sơ bộ về hoạt động chức năng của bệnh nhân. Tình trạng vệ sinh cá nhân (cách ăn mặc, có sạch sẽ hay hôi hám) cho biết về tình trạng tâm thần và khả năng tự chăm sóc bản thân của họ.

Khám người cao tuổi cần nhiều thời gian hơn người trẻ. Có thể phải khám làm hai lần nếu bệnh nhân quá mệt. Người cao tuổi cần có thời gian để cởi quần áo, nằm xuống giường, không nên thúc giục họ. Phải điều chỉnh độ cao của giường khám cho thích hợp với người cao tuổi. Cần có bậc để lên xuống dễ dàng. Với bệnh nhân già yếu, không nên để họ nằm một mình trên giường khám. Khi cần có thể khám bệnh nhân ngồi trên ghế.

Cần mô tả tình trạng chung của bệnh nhân (ví dụ thoải mái, bồn chồn, suy dinh dưỡng, thở ô, xanh tái, khó thở, tím). Khi khám bệnh nhân trên giường, cần chèn các vật đệm, tay vịn bảo vệ, chú ý xem bệnh nhân có đặt xông tiểu hay bỉm không.

2.1. Các dấu hiệu sống

Mỗi lần khám đều phải ghi lại cân nặng của bệnh nhân. Khi đo chiều cao và cân nặng, nếu bệnh nhân khó giữ thăng bằng, cần có tay vịn để tránh ngã.

Phải đo nhiệt độ. Cần lưu ý tình trạng hạ nhiệt độ ở người cao tuổi. Không có sốt cũng không loại bỏ nhiễm trùng.

Bắt mạch và đo huyết áp ở cả hai tay. Phải bắt mạch trong 30 giây, chú ý xem mạch có đều không. Do có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến huyết áp nên cần đo nhiều lần sau khi bệnh nhân nghỉ ngơi ít nhất là 5 phút.

Ở người cao tuổi, huyết áp có thể tăng cao giả tạo do thành mạch quá cứng. Phải nghi ngờ hiện tượng này khi bệnh nhân có biểu hiện hoa mắt chóng mặt trong khi dùng thuốc, mặc dù huyết áp vẫn cao trên mức bình thường.

Người cao tuổi hay bị tụt huyết áp tư thế nên cần kiểm tra huyết áp tư thế đứng. Đo HA ở tư thế nằm, sau đó cho bệnh nhân đứng lên, đo HA tư thế đứng ở phút thứ 3 và 5. Nếu HA tối đa tụt quá 20 mmHg, thì coi là có tụt HA tư thế đứng. Cần thận trọng khi đo HA tư thế đứng ở các bệnh nhân có giảm thể tích.

Bình thường, nhịp thở ở người cao tuổi có thể nhanh tới 25 lần/phút. Nhịp thở > 25 lần/phút có thể là dấu hiệu đầu tiên của nhiễm trùng đường hô hấp dưới, suy tim hoặc các rối loạn khác.

2.2. Da

Đầu tiên cần nhận xét xem da có màu sắc bình thường hay xanh tái, tím. Chú ý tìm các tổn thương ác tính trên da, tình trạng thiếu máu cục bộ tổ chức, và các vết loét do tỳ đè. Những vết tím trên da gợi ý bệnh nhân bị ngược đãi. Da của người cao tuổi mỏng, nên dễ bị bầm tím khi va chạm, nhất là ở cánh tay. Các chấm sạm trên da có thể là bình thường vì các tế bào melanocyte bị mất dần trong quá trình già hóa.

Ở người cao tuổi, móng tay thường dày đi và mất độ cong bình thường. Bản của móng tay mỏng và dễ gãy. Các chấm xuất huyết màu đen ở giữa và 1/3 ngoài của móng tay thường là do chấn thương hơn là nhiễm khuẩn. Móng dày và vàng chứng tỏ bị nấm. Móng tay có thể mọc quặp vào trong gây đau. Móng tay trắng, dễ bong vảy, đôi khi bề mặt có lõm, gặp trong bệnh vảy nến.

2.3. Khám vùng đầu cổ

2.3.1. Mặt

Những biểu hiện liên quan đến lão hóa bình thường bao gồm lông mày rủ xuống dưới bờ trên hốc mắt, cằm xệ, mất góc giữa đường dưới hàm và cổ, da nhiều nếp nhăn và khô. Lông cứng phát triển nhiều ở lỗ tai, lỗ mũi, trên môi và cằm.

Phải khám động mạch thái dương. Động mạch thái dương nổi to, cứng, ngoằn ngoèo gặp trong bệnh viêm động mạch tế bào khổng lồ.

2.3.2. Mũi

Đỉnh mũi xệ xuống là biểu hiện thường thấy ở người cao tuổi. Sụn bên trên và dưới tách dần ra, làm cho mũi có vẻ to và dài hơn.

2.3.4. Mắt

Giảm mỡ trong hốc mắt là biểu hiện già hóa bình thường, làm cho con ngươi có xu hướng lõm dần vào hốc mắt. Do vậy, ở người cao tuổi, dấu hiệu mắt trũng không nhất thiết chứng tỏ sự mất nước. Mắt trũng làm cho bờ mi trên tụt xuống, gây hạn chế tầm nhìn xa. Các biểu hiện thường khác bao gồm sụp mi, lộn mi dưới vào trong hay ra ngoài, võng già. Cùng với tuổi già sẽ xuất hiện viễn thị, thủy tinh thể sẽ kém đàn hồi, khả năng biến dạng giảm khi tập trung vào những vật ở gần.

Cần kiểm tra thị lực (dùng bảng Snellen) và thị trường. Có thể kiểm tra thị trường ngay tại giường bằng cách ngồi đối diện với bệnh nhân. Đề nghị bệnh nhân nhìn thẳng vào người khám để đánh giá sự khác nhau giữa thị trường của bệnh nhân và người khám. Tuy nhiên cách khám này không đủ nhạy và chỉ nên dùng khi không có điều kiện. Tốt nhất là được bác sĩ chuyên khoa mắt khám định kỳ, hoặc khi lâm sàng nghi ngờ thiên đầu thống.

Cần soi đáy mắt để kiểm tra đục thủy tinh thể, thoái hoá thần kinh thị hoặc hoàng điểm, và các biểu hiện đáy mắt của thiên đầu thống, tăng huyết áp, đái tháo đường. Hình ảnh đáy mắt không thay đổi nhiều trong quá trình lão hoá. Tăng áp lực nội sọ mức độ vừa và trung bình có thể không gây phù gai thị vì ở người cao tuổi thường có tình trạng teo võng não. Phù gai thị chỉ rõ khi có tăng áp lực nội sọ nhiều. Những đốm đen hoặc xuất huyết trong võng mạc hoặc hoàng điểm chứng tỏ thoái hoá hoàng điểm. Đối với người cao tuổi, nên đi khám mắt đo thị lực 1-2 năm một lần, để phát hiện những bệnh như thiên đầu thống, đục thủy tinh thể, các rối loạn ở võng mạc.

2.3.5. Tai

Có thể thấy hạt tophi, một biểu hiện lão hóa bình thường. Cần khám ống tai ngoài để xem có ráy tai không, nhất là khi bệnh nhân nghe không rõ. Nếu bệnh nhân dùng máy trợ thính, cần tháo ra để kiểm tra. Dụng cụ có thể bị ráy tai bít tắc, hoặc hết pin.

Để đánh giá khả năng nghe, người khám đọc 3-6 từ bất kỳ vào từng tai bệnh nhân. Nếu bệnh nhân nhắc lại được một nửa số từ này thì coi như thính lực của họ đủ để hội thoại. Bệnh nhân lão thính (giảm dần khả năng nghe các âm thanh có tần số cao, cả hai tai) thường cho là không hiểu lời nói chứ không phải do tai kém.

2.3.6. Miệng

Khám miệng xem lợi có bị chảy máu hoặc sưng không, răng rụng hoặc gãy, nhiễm nấm ở miệng, và các dấu hiệu của ung thư (ví dụ bạch sản, hồng sản, loét, khối bất thường). Những bệnh nhân bị khô miệng, môi và lưỡi có thể bị nứt, và lưỡi có thể dính vào lớp niêm mạc miệng. Cùng với tuổi tác, răng trở nên xỉn do các chất bẩn ở ngoài và lớp men trong suốt giảm. Lợi sưng, đỏ, dễ chảy máu thường là do những bệnh của lợi và quanh răng. Hơi thở hôi có thể do sâu răng, viêm quanh răng, và những bệnh ở răng miệng khác hoặc đôi khi do bệnh hô hấp.

Cần khám kỹ mặt trên và dưới của lưỡi. Những thay đổi liên quan đến tuổi già thường thấy là các tĩnh mạch giãn ngoằn ngoèo phía dưới lưỡi, các cột cơ bị teo ở bờ lưỡi. Lưỡi to có thể gặp trong amyloidosis hoặc suy giáp. Lưỡi trơn, đau có thể do thiếu hụt vitamin B12.

Phải tháo bỏ hàm giả trước khi khám miệng. Răng giả làm tăng nguy cơ bị nhiễm nấm ở miệng và hấp thu các dinh dưỡng. Viêm niêm mạc vòm họng và loét của các đinh ở răng có thể do răng giả không vừa.

Cần sờ mặt dưới của miệng. Tuyến nước bọt sưng to, căng, chắc gặp trong viêm tuyến nước bọt, đặc biệt ở những người mất nước, có thể thấy mủ chảy ra từ ống Stensen. Có thể gặp những tổn thương nứt, viêm, đau ở khóe môi, thường kèm theo nhiễm nấm.

2.3.7. Khớp thái dương hàm

Cần khám khớp thái dương hàm xem có bị thoái hóa, một tình trạng thường gặp ở người cao tuổi. Các khớp này có thể bị thoái hóa khi các răng rụng hết và các lực ép lên khớp mạnh hơn. Thoái hóa có thể biểu hiện bằng tiếng lạo xạo khớp ở đầu lồi cầu khi bệnh nhân mở hoặc ngậm miệng, hoặc đau khi cử động khớp hàm, hoặc cả hai.

2.3.8. Cổ

Ở người cao tuổi, tuyến giáp thường nằm thấp hơn, ẩn sau xương ức. Khám tuyến giáp xem có to không, có nhân không.

Tìm tiếng thổi ở động mạch cảnh, cần phân biệt tiếng thổi do hẹp động mạch cảnh với tiếng thổi từ tim lan lên. Tiếng thổi từ tim thường nhẹ và khu trú ở nền cổ. Nếu ở nền cổ không nghe thấy, nhưng khi lên cao lại thấy thì thường là do hẹp động mạch cảnh. Tiếng thổi do hẹp động mạch cảnh thường mạnh. Tiếng thổi mạch cảnh gợi ý một tình trạng vữa xơ động mạch toàn thân. Cần thăm dò và can thiệp nếu cần để phòng tránh tai biến mạch não.

Kiểm tra các động tác cổ. Kháng lại các động tác gấp, duỗi thụ động, quay hai bên chứng tỏ bệnh của tuỷ cổ. Hạn chế động tác gấp duỗi cổ cũng có thể gặp trong viêm màng não, nhưng trong trường hợp này cổ vẫn có thể quay bên này sang bên kia mà không có sức kháng cự lại.

2.4. Khám vùng ngực và lưng

Cần gõ và nghe tất cả các vùng của phổi. Ở người cao tuổi bình thường có thể nghe thấy tiếng ran ở đáy phổi nhưng sẽ mất đi khi bảo bệnh nhân hít thở sâu vài lần. Nhận xét về động tác hô hấp (chuyển động của cơ hoành) và khả năng giãn nở của lồng ngực).

Khám lưng để xem có gù, vẹo không, có sưng đau không? Đau vùng dưới thắt lưng, háng và chân có thể do gãy xương cột sống tự phát do loãng xương ở người cao tuổi.

Khám vú: ở người cao tuổi, cả nam lẫn nữ, hằng năm đều cần phải khám vú để phát hiện sự không đều, các nhân mới xuất hiện. Đối với phụ nữ, hằng tháng nên tự khám vú, cũng như mỗi năm một lần đến phụ nữ kiểm tra, đặc biệt với những phụ nữ có tiền sử gia đình có người ung thư vú. Nếu núm vú bị thụt vào, có thể do ung thư, núm vú sẽ lớn ra nếu là do tuổi già, ngược lại sẽ không lớn ra nếu do tổn thương ở dưới.

Khám tim: đánh giá kích thước của tim bằng cách sờ mỏm tim. Tuy nhiên thay đổi vị trí tim do gù vẹo cột sống làm cho khó xác định mỏm tim.

Phải nghe tim một cách hệ thống. Ở người cao tuổi, tiếng thổi tâm thu thường là do xơ cứng van động mạch chủ, ít gây thay đổi huyết động. Tiếng thổi này nghe rõ nhất.

Ở đầu thì tâm thu và hiếm khi nghe thấy ở động mạch cảnh. Ngược lại, tiếng thổi do hẹp van động mạch chủ nghe rõ nhất ở cuối thì tâm thu, lan lên động mạch cảnh, và thường mạnh (ở độ 2); tiếng thổi này nhỏ, huyết áp kẹt, và tiếng đập ở động mạch cảnh xuất hiện muộn. Tuy nhiên, ở người cao tuổi, có thể khó xác định được tiếng thổi do hẹp động mạch chủ bởi vì tổn thương nhẹ hơn, hiếm khi nghe thấy tiếng thổi hai lá và huyết áp kẹt ít thấy. Hơn nữa ở nhiều người cao tuổi bị hẹp van động mạch chủ, tiếng đập ở động mạch cảnh không chậm lại vì dẫn tới của thành mạch bị giãn.

Cần tìm các nguyên nhân khác gây tiếng thổi tâm thu. Tiếng thổi do hở van hai lá thường mạnh nhất ở mỏm và lan ra nách. Tiếng thổi do bệnh cơ tim tắc nghẽn phì đại tăng lên khi bệnh nhân làm nghiệm pháp Valsalva.

Tiếng thổi trừ rất hay gặp ở người cao tuổi khỏe mạnh và thường lại không thấy ở những người cao tuổi có bệnh tim. Tiếng thổi tâm trương ở bất cứ tuổi nào đều là bất thường. Nhịp xoang chậm không triệu chứng ở những người cao tuổi khỏe mạnh có thể không quan trọng trên lâm sàng.

Nếu xuất hiện các triệu chứng về tim mạch và thần kinh ở người cao tuổi có máy tạo nhịp, cần đánh giá sự thay đổi của tiếng tim, tiếng thổi và mạch để xem có tụt huyết áp và suy không. Các triệu chứng và dấu hiệu này có thể do mất sự đồng bộ nhĩ thất.

2.5. Khám hệ tim mạch

Sờ nắn bụng để kiểm tra trương lực cơ bụng, ở người cao tuổi, cơ bụng thường yếu và là nguyên nhân gây thoát vị. Có thể phát hiện hầu hết các phình động mạch chủ bụng. Tuy nhiên chỉ xác định được đường kính ngang của khối phình. Một khối đập nằm trước động mạch chủ thì không phải là bênh lý. Cần khám gan, lách có to không. Cũng cần kiểm tra tần số và lượng trung tiện, và phải gõ vùng hạ vị xem có bàng quang không?

Cũng phải khám vùng hậu môn trực tràng để xem có bị nứt hậu môn, trĩ, và các tổn thương khác. Kiểm tra cảm giác và phản xạ. Thăm trực tràng bằng ngón tay ở cả nam và nữ để tìm các khối u bất thường hoặc phân táo trong trực tràng.

2.6. Khám hệ sinh dục nam

Thăm trực tràng để kiểm tra tuyến tiền liệt. Xác định kích thước tuyến tiền liệt qua thăm trực tràng thường không chính xác. Hơn nữa kích thước của tuyến tiền liệt không tương xứng với mức độ tắc nghẽn. Tuy nhiên thăm trực tràng cho phép đánh giá sơ bộ, xem tuyến tiền liệt có đau không, có nhân cứng lổn nhổn hay không.

2.7. Khám hệ sinh dục nữ

Cần khám tiểu khung định kỳ, làm xét nghiệm papanicolaou (Pap) 2-3 năm một lần cho đến tuổi 70. Sau tuổi 70 có thể ngừng, nếu kết quả xét nghiệm của hai lần liên tiếp bình thường. Nếu trước đó chưa làm xét nghiệm này thì phải có ít nhất hai lần xét nghiệm âm tính trong vòng một năm trước khi dừng. Sau khi đã dừng chỉ làm lại xét nghiệm này nếu xuất hiện các triệu chứng và dấu hiệu mới. Nếu bệnh nhân đã cắt tử cung, chỉ làm xét nghiệm Pap nếu còn tổ chức cổ tử cung.

Với những bệnh nhân không cử động được khớp háng, có thể khám tiểu khung bằng cách cho bệnh nhân nằm nghiêng trái. Giảm sản xuất estrogen sau mãn kinh sẽ gây teo niêm mạc âm đạo và niệu đạo; niêm mạc âm đạo trở nên khô. Bình thường không sờ thấy buồng trứng, nếu sờ thấy thì nghi ngờ ung thư buồng trứng. Cần khám kỹ xem có bị sa niệu đạo, âm đạo, cổ tử cung và tử cung. Yêu cầu bệnh nhân ho để kiểm tra xem có đái són hoặc đái không.

2.8. Khám hệ cơ xương

Khám khớp xem có: sưng nề, trật khớp, tiếng lạo xạo, nóng đỏ. Tìm các hạt Heberden (xương phát triển quá mức ở các khớp liên đốt xa) hoặc hạt Bouchard (xương phát triển quá mức ở các khớp liên đốt gần), thấy ở các bệnh nhân thoái khớp. Trật khớp bàn ngón với lệch trục của các ngón về phía xương trụ có thể chứng tỏ có viêm khớp dạng thấp. Có thể thấy biến dạng cổ thiên nga. Điều này có thể ảnh hưởng đến hoạt động chức năng của bệnh nhân.

Cần xác định các giới hạn động tác chủ động và thụ động của các khớp, tình trạng co cứng cơ. Ở người cao tuổi có thể gặp hiện tượng kháng cự lại những động tác thụ động của chi.

Bàn chân: chẩn đoán và điều trị các vấn đề ở bàn chân, thường rất phổ biến ở người cao tuổi, sẽ giúp cho họ duy trì được tính độc lập. Các biểu hiện liên quan đến tuổi già thường gặp nhất bao gồm ngón chân cái quặp ra ngoài (hallux valgus), gặp quá mức của khớp liên đốt gần (ngón chân hình búa), thấy ở thấp viêm khớp dạng thấp, và gặp quá mức của các khớp liên đốt gần và xa… Những bất thường này có thể ảnh hưởng đến các hoạt động chức năng hằng ngày của bệnh nhân. Những bệnh nhân có các vấn đề về bàn chân cần được gửi đến bác sỹ bàn chân để đánh giá định kỳ và điều trị.

2.9. Khám hệ thần kinh

Khám thần kinh ở người cao tuổi cũng tương tự như ở người trưởng thành, bao gồm khám thần kinh sọ, chức năng vận động, cảm giác và tình trạng tâm thần. Tuy nhiên nhiều rối loạn không phải thần kinh, rất hay gặp ở người cao tuổi, có thể làm phức tạp việc khám này. Ví dụ, giảm thính giác, thị giác có thể cản trở việc khám thần kinh sọ. Viêm quanh khớp, đặc biệt là khớp vai và khớp háng có thể gây khó khăn cho việc đánh giá chức năng vận động.

Khi phát hiện một dấu hiệu bất thường nào đó, cần cân nhắc với tuổi của bệnh nhân, tiền sử và các triệu chứng khác. Ở người cao tuổi có thể gặp các dấu hiệu toàn thể, không phối hợp với suy giảm chức năng và các dấu hiệu hoặc triệu chứng thần kinh khác. Thầy thuốc phải quyết định xem có tiến hành thăm dò sâu hơn để tìm các tổn thương thần kinh hay không. Phải khám lại bệnh nhân khi có những thay đổi về chức năng, không cân xứng, và các triệu chứng mới.

2.9.1. Các dây thần kinh sọ

Khám các thần kinh sọ ở người cao tuổi có thể phức tạp. Người cao tuổi thường có đồng tử nhỏ, phản xạ đồng tử ánh sáng của họ có thể chậm và đáp ứng đối với của họ có thể bị suy giảm. Nhìn lên bị hạn chế nhẹ. Nhìn xuống cũng bị hạn chế nhưng ít hơn. Khi khám chuyển động mắt, yêu cầu bệnh nhân nhìn theo ngón tay thầy thuốc, có thể xuất hiện các động tác giật, không đều. Đôi khi không có dấu hiệu Bell.

Ở nhiều người cao tuổi, khả năng ngửi giảm dần vì số lượng tế bào thần kinh khứu giác giảm, do đã nhiều lần bị nhiễm trùng đường hô hấp trên, hoặc do viêm xoang mạn tính. Tuy nhiên nếu mất khứu giác ở một bên mũi thì đó là bất thường. Vị giác có thể thay đổi bởi vì khứu giác giảm hoặc do người cao tuổi dùng thuốc làm giảm lượng nước bọt. Giảm thị lực và thính lực thường do các bất thường ở mắt và tai hơn là do các đường thần kinh.

2.9.2. Chức năng vận động

Phải đánh giá cơ lực, sự phối hợp động tác, tư thế và phản xạ. Ở nhiều người cao tuổi, nhất là những người không luyện tập thường xuyên các động tác kháng cự, khi khám sẽ thấy cơ lực của họ có vẻ như yếu. Vì dụ khi khám, thầy thuốc có thể dễ dàng duỗi tay bệnh nhân ra mặc dù họ đã cố co lại. Nếu yếu đều cả hai bên, thì không có ý nghĩa trên lâm sàng, không nên làm bệnh nhân lo lắng. Điều đó thường cũng không ảnh hưởng nhiều đến hoạt động hằng ngày của họ. Trương lực cơ thường tăng, khám bằng các động tác gấp, duỗi khuỷu tay, đầu gối, là biểu hiện bình thường của tuổi già. Tuy nhiên các động tác giật trong khi khám và dấu hiệu cứng bánh xe răng cưa là bất thường.

Có thể đánh giá run khi bắt tay bệnh nhân hoặc qua các động tác đơn giản khác. Nếu có run cần khám kỹ về biên độ, tần số, vị trí, thời điểm xuất hiện…

Giảm khối cơ là một biểu hiện thường gặp ở người cao tuổi. Nó không có ý nghĩa, trừ khi phối hợp với suy giảm hoặc thay đổi về chức năng (ví dụ bệnh nhân không còn khả năng đứng lên khỏi ghế nếu không vịn vào thành ghế).

Giảm khối cơ đặc biệt xảy ra ở các cơ bàn tay (ví dụ cơ giãn cốt và mô cái). Yếu các cơ duỗi ở cổ tay, ngón tay, và ngón cái rất hay gặp ở những người cao tuổi sử dụng xe lăn do ép cánh tay lên tay vịn làm tổn thương thần kinh quay. Kiểm tra chức năng của tay bằng cách cho bệnh nhân cầm các dụng cụ ăn hoặc chắp hai tay sau đầu.

Kiểm tra thời gian phản ứng và phối hợp động tác. Ở người cao tuổi, thời gian phản ứng thường tăng, một phần là do dẫn truyền của các tín hiệu dọc theo thần kinh ngoại vi chậm hơn. Phối hợp động tác cũng giảm do những thay đổi ở các cơ chế trung ương, nhưng thường chỉ giảm nhẹ và không gây suy giảm hoạt động chức năng.

Kiểm tra phản xạ gân sâu. Già hóa thường ít ảnh hưởng đến các phản xạ này. Tuy nhiên để khám phản xạ gân Achilles có thể cần một số kỹ thuật đặc biệt (ví dụ kiểm tra trong khi bệnh nhân quỳ gối với chân trên thành giường). Phản xạ giảm hoặc mất, gặp ở gần nửa số người cao tuổi, có thể là bình thường. Do tính đàn hồi của gân giảm và dẫn truyền thần kinh trong cung phản xạ đái của gân chậm hơn. Phản xạ gân Achilles một bên có thể gặp trong đau thần kinh tọa.

2.9.3. Cảm giác

Đánh giá cảm giác bao gồm xúc giác, chức năng cảm giác vỏ, cảm giác nhiệt, cảm giác bản thể (cảm giác vị trí khớp), và cảm giác rung. Tuổi già ít ảnh hưởng đến cảm giác. Nhiều người cao tuổi có cảm giác tê bì, đặc biệt ở bàn chân. Điều này có thể do giảm lưu thông của các sợi thần kinh ngoại biên, đặc biệt là các sợi lớn. Tuy nhiên, những bệnh nhân có cảm giác kiến bò cần phải được kiểm tra xem có bệnh thần kinh ngoại vi không. Ở nhiều người cao tuổi, không thể tìm ra nguyên nhân gây cảm giác kiến bò.

Nhiều người cao tuổi mất cảm giác rung ở dưới đầu gối, do các mạch nhỏ trong cột sau của tủy sống thay đổi. Tuy nhiên cảm thụ bản thể, được coi là cùng đường dẫn truyền, tuy ít thay đổi không bị tác động.

Đánh giá việc kiểm soát tư thế bằng nghiệm pháp Romberg (bệnh nhân đứng chụm chân và nhắm mắt). Ở người cao tuổi, kiểm soát tư thế thường suy giảm, và thường thấy lắc tư thế (chuyển động trong mặt phẳng trước sau khi bệnh nhân cố đứng yên).

Các phản xạ giải phóng vỏ (vẫn được coi là phản xạ bệnh lý), thường thấy ở người cao tuổi mà không phát hiện được bệnh não do sa sút trí tuệ. Phản xạ Babinski ở người cao tuổi là bất thường, nó chứng tỏ có tổn thương thần kinh vận động trên, thường là thoái hóa đốt sống cổ gây ép tủy một phần.

2.10. Khám tâm thần

Khám tình trạng tâm thần là thành phần quan trọng trong đánh giá. Một bệnh nhân có rối loạn khi làm các trắc nghiệm như vậy phải được đánh giá lại. Phải chắc chắn là bệnh nhân có thể nghe. Không nghe được sẽ ảnh hưởng đến việc lặp lại câu hỏi và có thể nhầm với suy giảm nhận thức. Với các bệnh nhân có rối loạn về nói và ngôn ngữ việc đánh giá có thể gặp khó khăn.

Rối loạn định hướng có thể gặp ở bệnh nhân bị sa sút trí tuệ hoặc các rối loạn nhận thức khác. Do vậy, việc đánh giá cần những lời nói xác định những bất thường về ý thức, suy luận, tính toán, nói, ngôn ngữ, sử dụng động tác, chức năng thực hiện hoặc trí nhớ, cũng như định hướng. Những bất thường các lĩnh vực này không thể quy hết cho tuổi già, và nếu phát hiện những bất thường này, cần đánh giá sâu hơn, bao gồm các trắc nghiệm chuẩn về tâm thần ở người cao tuổi, quá trình xử lý thông tin và nhớ lại thường chậm nhưng về cơ bản không bị suy giảm. Nếu cho họ thêm thời gian và khuyến khích họ, thì họ vẫn có thể làm được những trắc nghiệm này.

2.11. Khám tình trạng dinh dưỡng

Tuổi già làm thay đổi những phép đo phản ánh tình trạng dinh dưỡng ở người trẻ. Ví dụ tuổi già có thể làm thay đổi chiều cao. Sự thay đổi về cân nặng có thể phản ánh những thay đổi về dinh dưỡng, cân bằng dịch, hoặc cả hai. Tỷ lệ giữa khối nạc và lượng mỡ trong cơ thể cũng thay đổi. Cho dù có một số thay đổi nói như vậy, chỉ số khối cơ thể vẫn hữu ích ở người cao tuổi. Khi bệnh nhân có tiền sử về dinh dưỡng bất thường (ví dụ sụt cân, nghi ngờ có thiếu các chất dinh dưỡng thiết yếu), hoặc thay đổi về chỉ số khối cơ thể, cần đánh giá toàn diện về dinh dưỡng, kể cả cho làm các xét nghiệm sinh hóa.

2.12. Một số cách biểu hiện bất thường ở người cao tuổi

Ở người cao tuổi, một số bệnh có biểu hiện không giống như ở người trẻ:

  • Cường giáp có thể không gây những dấu hiệu cổ điển (mắt lồi, tuyến giáp to). Các triệu chứng và dấu hiệu có thể không rõ ràng, bao gồm nhịp nhanh, sụt cân, mệt, yếu, hồi hộp đánh trống ngực, run, rung nhĩ và suy tim.
  • Suy giáp có thể âm thầm ở người cao tuổi. Các triệu chứng hay gặp nhất lại không đặc hiệu (mệt, yếu, ngã). Có thể thấy chán ăn, sụt cân, đau khớp. Sợ lạnh, tăng cân, trầm cảm, tê bì, rụng tóc, và chuột rút ít gặp hơn so với nhóm tuổi trẻ. Ngược lại, hay có rối loạn về nhịp tim. Dấu hiệu đặc hiệu nhất, kéo dài thời gian nghỉ sau khi co cơ, có thể không phát hiện được ở người cao tuổi vì các phản xạ mất hoặc giảm biên độ.
  • Cường cận giáp có thể chỉ biểu hiện bằng các triệu chứng không đặc hiệu: mệt, rối loạn nhận thức, thay đổi cảm xúc, chán ăn, táo bón và tăng huyết áp. Các triệu chứng đặc trưng lại thường không có.
  • Sarcoidosis ở người cao tuổi thường biểu hiện bằng các triệu chứng không đặc hiệu (ví dụ giảm cân nặng, chán ăn, yếu mệt) nhưng cũng có thể biểu hiện bằng khó thở, nhìn mờ, các biểu hiện ở cơ và hạch.
  • Nhiễm khuẩn huyết có thể không gây sốt, tuy nhiên, hầu hết thì có sốt nhẹ. Các biểu hiện không đặc hiệu (mệt mỏi, chán ăn, ra mồ hôi về đêm, thay đổi về trạng thái tâm thần một cách không giải thích được) có thể xảy ra.
  • Nhiễm khuẩn tiết niệu có thể biểu hiện ở người cao tuổi không hề có sốt. Những bệnh nhân này có thể có rối loạn tiểu tiện, đái nhiều hoặc són đái mà có thể biểu hiện bằng chóng mặt, lú lẫn, chán ăn, mệt, hoặc yếu.
  • Viêm màng não có thể gây sốt và thay đổi tình trạng tâm thần, nhưng không có các dấu hiệu kích thích màng não (ví dụ như cứng gáy).
  • Viêm phổi có thể biểu hiện bằng mệt, chán ăn, hoặc lú lẫn. Thường có nhịp tim nhanh và thở nhanh, nhưng thường không có sốt. Ho thường nhẹ và có thể không có đờm, đặc biệt ở những bệnh nhân mất nước.
  • Lao có thể biểu hiện rất khác nhau ở người cao tuổi với các bệnh kèm theo. Các triệu chứng có thể không đặc hiệu (ví dụ sốt, yếu, lú lẫn, chán ăn). Lao phổi có thể biểu hiện bằng các triệu chứng hô hấp hơn so với người trẻ (ho, khạc đờm, ho ra máu).
  • Đau do viêm ruột thừa thường bắt đầu ở hố chậu phải hơn là đau quanh rốn như ở những người trẻ. Ngoài ra đau có xu hướng lan rộng hơn là chỉ khu trú ở hố chậu phải. Tuy vậy, phản ứng phúc mạc ở hố chậu phải vẫn là dấu hiệu sớm có giá trị.
  • Các bệnh đường mật có thể gây các triệu chứng không đặc hiệu và tâm thần như suy sụp về thể lực (ví dụ mệt lả, lú lẫn, mất hoặc giảm khả năng vận động) mà không có các triệu chứng kinh điển như đau, sốt, vàng da. Nhiều khi xét nghiệm máu, siêu âm mới phát hiện được bệnh đường mật.
  • Nhồi máu ruột có thể biểu hiện bằng tình trạng lú lẫn cấp. Có thể không có đau bụng hay cảm ứng phúc mạc.
  • Bệnh loét dạ dày có thể không biểu hiện bằng các triệu chứng kinh điển, đau có thể không có, không đặc hiệu hoặc bị che lấp bởi các thuốc giảm đau không steroid. Khó tiểu hay gặp ở người cao tuổi hơn người trẻ. Xuất huyết tiêu hóa có thể không đau. Có thể gây mất máu từ từ, không được phát hiện gây nên thiếu máu nặng.
  • Nhồi máu cơ tim có thể biểu hiện bằng vã mồ hôi, khó thở, đau thượng vị, ngất, yếu, nôn hoặc lú lẫn hơn là cơn đau thắt ngực cổ điển. Những người cao tuổi bị nhồi máu cơ tim cấp có xu hướng đến cấp cứu tại cơ sở y tế muộn hơn so với người trẻ.
  • Suy tim có thể gây lú lẫn, kích động, chán ăn, yếu, mất ngủ, mệt, giảm cân. Bệnh nhân có thể không khó thở. Khó thở kịch phát ban đêm có thể là nguyên nhân làm bệnh nhân sa sút trí tuệ và suy tim có những cơn kích động về đêm. Ở người cao tuổi, phù ngoại vi là một dấu hiệu ít đặc hiệu hơn so với người trẻ. Nhưng bệnh nhân nằm liệt giường, thường thấy phù ở vùng cùng cụt hơn là hai chân.

Cập nhật thông tin mới nhất về kiến thức y học và test y học tại facebook TEST Y HỌC

Tham gia nhóm zalo: Tài Liệu Y Học Tổng Hợp

Ôn thi nội trú, sau đại học TẠI ĐÂY

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Content is protected !!
All in one