LOẠN DƯỠNG CƠ – NỘI KHOA Y HÀ NỘI

CHƯƠNG VI. BÀI 10:

LOẠN DƯỠNG CƠ

MỤC TIÊU

  1. Trình bày được khái niệm chung về bệnh, nguyên nhân gây bệnh.
  2. Trình bày được các triệu chứng lâm sàng chung của bệnh.
  3. Trình bày được các xét nghiệm giúp chẩn đoán xác định.
  4. Trình bày được đặc điểm của các thể chính của loạn dưỡng cơ (Duchenne, Becker, Emery-Dreifuss, tăng trương lực cơ, mặt – vai – cánh tay, chi-đai).
  5. Trình bày được các phương pháp điều trị bệnh.

1. ĐẠI CƯƠNG

Loạn dưỡng cơ (LDC) hay còn gọi là loạn dưỡng cơ tiến triển là một nhóm bệnh lý cơ có tính chất di truyền, không viêm, đặc trưng bởi cơ bị co yếu và huỷ hoại dần.

Trường hợp LDC đầu tiên được báo cáo bởi Conte và Gioja năm 1836. Họ mô tả 2 anh em trai bị yếu cơ tăng dần, bắt đầu từ năm 10 tuổi. Các chẩn đoán này dẫn đến bị yếu cơ toàn thể và phì đại nhiều nhóm cơ, điển hình cho LDC Becker. Năm 1852, Meryon cho rằng bệnh di truyền qua mẹ và chỉ gây tổn thương con trai. Sau đó, Guillaume Duchenne là bác sỹ thần kinh người Pháp mô tả 13 trường hợp trẻ mắc thể nặng và kinh điển nhất của bệnh. Do đó thể LDC này hiện mang tên ông. Ở Mỹ, tỷ lệ LDC phụ thuộc vào thể đặc hiệu của bệnh. Thể LDC Duchenne thường gặp nhất và liên kết giới, gặp 1 trường hợp trong 3500 bé trai mới sinh. Một phần ba các trường hợp là kết quả của đột biến mới tự phát. LDC Becker là thể LDC thường gặp thứ hai với suất mắc khoảng một trường hợp trên số 30 000 bé trai mới sinh. LDC bao gồm khoảng 100 bệnh khác nhau, trong đó có 9 bệnh đã được phân loại chính thức là LDC, còn các bệnh khác có các triệu chứng tương tự. 9 thể chính LDC là: Duchenne, Becker, chi-đai, bẩm sinh, mặt – vai – cánh tay, tăng trương lực cơ, mắt, họng, ngoài, Emery-Dreifuss. Các bệnh này chủ yếu ở nam giới, mặc dù nữ giới có thể là người mang gen bệnh. Hầu hết thể LDC là bệnh lý tổn thương nhiều cơ quan như cơ, tim, tiêu hoá, thần kinh, nội tiết, mắt.

2. NGUYÊN NHÂN VÀ CƠ CHẾ BỆNH SINH

2.1. Nguyên nhân loạn dưỡng cơ

Loạn dưỡng cơ tiến triển là một nhóm các bệnh cơ di truyền, tiến triển mà không có tổn thương thần kinh ngoại vi hay trung ương. Sợi cơ bị thoái hóa nhưng hình thái vẫn bình thường. Nguyên nhân của LDC là bất thường mã hóa gen đối với protein đặc hiệu của cơ là dystrophin và glycoprotein kết hợp với nó là sarcoglycans. Có nhiều type LDC, gây nên bởi đột biến của nhiều gen, nhiều cách di truyền khác nhau. LDC Duchenne và Becker là do đột biến gen tổng hợp dystrophin, là thành phần của khung màng tế bào. Khuyết tật gen nằm trên nhánh ngắn của nhiễm sắc thể X, ở vùng Xp21 bao gồm gần 2 triệu cặp kiềm. Cũng như trong LDC Duchenne, thể LDC Emery-Dreifuss là bệnh lý di truyền qua gen lặn, liên kết với giới tính, nhưng khiếm khuyết ở cánh dài của NST X ở locus q28. Trong thể MD mặt vai di truyền qua gen trội trên NST thường, khiếm khuyết ở locus 4q35. Còn trong thể MD ngọn chi, khiếm khuyết gen ở vị trí 2q12-14. Trong thể chi – đai lưng, di truyền qua gen lặn trên NST thường, khiếm khuyết gen ở locus 13q12.

Phân loại bệnh kiểu di truyền. Kiểu di truyền bao gồm liên kết giới tính, di truyền trên gen lặn hay gen trội trên nhiễm sắc thể thường.

– LDC liên kết giới tính: Duchenne; Becker; Emery-Dreifuss.

– LDC do gen trội trên nhiễm sắc thể thường: vai mặt; ngọn chi; mắt; mắt họng.

– LDC do gen lặn trên nhiễm sắc thể thường: chi-đai lưng.

2.2. Cơ chế bệnh sinh LDC

Cơ chế bệnh sinh của thể LDC Duchenne, Becker gắn liền với sự bất thường của dystrophin là protein của cơ. Dystrophin là một protein hình que dài 150 nm với 3684 acid amin, có trọng lượng phân tử 427 kDa. Nó gắn kết với các sợi actin của màng sợi cơ, có 2 vai trò: như một nhịp xe máy có tác dụng giảm xóc, ổn định tế bào về mặt cơ học và điều hòa mức calci. Dystrophin chỉ chiếm tỷ lệ 0,002% tổng số protein trong cơ vân, nhưng có vai trò quan trọng trong duy trì sự toàn vẹn của màng tế bào cơ. Dystrophin không chỉ phân bố ở cơ vân, mà còn ở cơ trơn, cơ tim và não. Kích thước lớn của gen mã hóa dystrophin có thể giải thích nhiều đột biến tự phát có thể xảy ra ở nhiều vị trí. Sự phân mã sai lạc có thể dẫn đến sản xuất các dystrophin không bền vững, kém hiệu quả như trong LDC Duchenne hay các protein có trọng lượng phân tử thấp, ít hoạt động trong LDC Becker. Thiếu hụt dystrophin dẫn đến mất ổn định tế bào. Màng sợi cơ và vai trò nền không ổn định khi co và duỗi, dòng calci vào tế bào quá mức gây hoại tử tế bào cơ. Sự co cơ cũng dẫn đến rách màng tế bào cơ, sự rò rỉ dần các thành phần nội bào. Cơ bị phá huỷ và yếu đi. Kết quả là nồng độ của creatin phosphokinase (CPK) tăng cao trong máu của bệnh nhân mắc LDC Duchenne. Sự giảm các đơn vị cơ có hoạt động chức năng gây nên tình trạng yếu cơ và co cứng cơ. Ở cả hai thể LDC Duchenne và Becker, đơn vị tế bào – cơ dần dần bị chết và bị đại thực bào tiêu huỷ. Mặc dù tổn thương trong LDC không qua trung gian miễn dịch, kháng nguyên hòa hợp tổ chức HLA lớp I tăng thấy trong màng tế bào cơ bị loạn dưỡng. Đặc điểm này khiến cho các cơ này dễ bị các tấn công qua trung gian tế bào T. Dần dần, các tế bào cơ chết bị thay thế bởi thâm nhiễm tế bào xơ mỡ, thể hiện về lâm sàng là yếu cơ và cơ giả phì đại. Do dystrophin có ở trong cơ tim và trong não, bệnh nhân LDC có thể bị chậm phát triển trí tuệ nhẹ.

Một số thể LDC khác được gây ra bởi tổn thương quá trình mã hóa một phức hợp DAG protein. Gen mã hóa phức hợp protein này ở NST X. Sự khuyết tật gen sản xuất protein này có thể dẫn đến sự thay đổi tính thấm màng tế bào. Tuy nhiên do sự khác nhau chút ít về cơ chế hoạt động cũng như vị trí các sản phẩm của gen trong cơ thể có các kết hợp khác nhau như là thể loạn dưỡng cơ mắt và chi-đai lưng.

3. TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG

LDC khác nhau về hình thức di truyền, tuổi khởi phát, vị trí tổn thương đầu tiên và tỷ lệ tiến triển. Triệu chứng và tiên lượng thay đổi, phụ thuộc vào kiểu LDC. Bệnh có thể gây tổn thương tất cả các cơ hay chỉ một số cơ, có thể xuất hiện ở tuổi thiếu niên hay trưởng thành, có thể tiến triển từ từ hay nhanh chóng, có thể gây tàn phế nặng hay không. Yếu cơ xảy ra dần dần, dẫn đến mất chức năng vận động. Khớp bị co cứng. Trong một số thể LDC, tỷ lệ tiến triển và sự tàn phế thay đổi tuỳ theo từng bệnh nhân. Bé trai với LDC Duchenne thường phải ngồi xe lăn vào độ tuổi 12 năm và hiếm khi sống tới tuổi 20. Bệnh nhân mắc LDC mặt vai lại có tuổi thọ bình thường, có thể đi lại nếu cơ chân chỉ bị tổn thương nhẹ. Một phần ba bệnh nhân mắc LDC Duchenne có thể gặp khiếm khuyết về nhận thức, hành vi, thị lực và thính lực. Hầu hết thể LDC có bệnh lý cơ tim. Các triệu chứng khác là béo phì, đục thuỷ tinh thể, rụng tóc vùng trán, sụp mi mắt, suy sinh dục, suy giảm trí tuệ (trong thể loạn dưỡng tăng trương lực cơ).

3.1. Các thể lâm sàng của loạn dưỡng cơ

3.1.1. Loạn dưỡng cơ Duchenne

Loạn dưỡng cơ Duchenne là một bệnh di truyền lặn liên quan với NST X. Đó là thể LDC thường gặp nhất và chủ yếu trẻ em trai bị mắc bệnh. Các triệu chứng lâm sàng của bệnh nhi thường xuất hiện lúc 3-5 tuổi. Bệnh bắt đầu tổn thương ở cơ khung chậu, chi trên. Trẻ em chậm phát triển các kỹ năng vận động cơ bản và phối hợp các động tác. Dấu hiệu thường gặp: đầu bập bênh khi vận động (30%), giả phì đại bắp chân (60%), lưỡi to (30%), khó khăn ngồi dậy, đứng lên, khó giữ thăng bằng, thường hay ngã, khó đi bộ, chạy, nhảy và yếu cơ chân, dáng đi lắc bách, vẹo cột sống. Về khả năng vận động, trẻ thường chậm biết đi và không chạy được một cách bình thường, trẻ có nhiều cử động nhưng khó tiến về phía trước, vì thế không nặng đầu gối liên tục; dáng đi lạch bạch và đi nhón chân xuất hiện sớm. Dần dần bệnh nhân đi lại, trèo cầu thang và đứng dậy khi đang ngồi ghế đều khó khăn, cột sống ưỡn quá mức để giữ thăng bằng. Trẻ thường bị ngã khi xô đẩy, chen lấn, sau đó khó đứng dậy được. Để ngồi và đứng dậy được, trẻ thường dùng thao tác đặc trưng (dấu hiệu Gowers): trẻ lăn cuộn mình để quỳ, vươn căng tay chống xuống đất để nâng mông lên và lần bám đầu tiên sau đó chuyển tay về đầu gối và đẩy nâng người lên (thao tác trèo trên thân mình). Giai đoạn sau, phản xạ gối có thể mất nhưng vẫn còn phản xạ gót, điều này chứng minh do sự yếu cơ gốc chi. Ở giai đoạn tiến triển, tay và bàn tay cũng bị ảnh hưởng. Có thể gặp yếu cơ bám mặt nhẹ, nhưng nói, nuốt và vận động nhãn cầu vẫn bình thường. Co cứng cơ đầu, đùi và co rút chạy làm hạn chế động tác gấp khớp háng, co cứng gân gót góp phần tạo nên dáng đi nhón chân. Ở độ tuổi lên 10, bệnh nhân đã có chỉ định hình khi đi lại. Hầu hết các trẻ đều không thể đi lại được ở độ tuổi 12, phải dùng xe lăn. Khoảng 20 tuổi hô hấp bị yếu, nên dễ viêm phổi và suy hô hấp, bệnh nhân cần máy trợ thở. Tổn thương tim phối hợp gặp ngay từ khi bắt đầu bị bệnh. Điện tim đồ cho thấy giãn thất phải, sóng R cao, sóng Q sâu, và sóng T đảo ngược. Có thể có triệu chứng suy tim ứ huyết. Đôi khi gặp giãn dạ dày cấp. Một số trẻ chậm phát triển trí tuệ, trẻ dần dần đi đến tàn tật và tử vong. Giải phẫu bệnh không có tổn thương đặc hiệu. Bệnh nhân hầu hết tử vong ở độ tuổi 25 do viêm phổi, yếu cơ hoành, biến chứng tim. Chẩn đoán lâm sàng loạn dưỡng cơ Duchenne các thể điển hình thường không khó, chủ yếu dựa vào các triệu chứng lâm sàng đã nêu trên.

Về mặt xét nghiệm, men CK tăng cao trong huyết thanh trên 20 lần. Chú ý những đứa trẻ bị nhiễm trùng được xét nghiệm máu thường quy nếu thấy men CK huyết thanh tăng cao cần phải nghĩ nghi ngờ bệnh cơ. Phân tích DNA thấy có sự xóa bỏ hoặc nhân đôi ở Xp21 trong 60-70% trường hợp bị Duchenne. Đột biến điểm giải thích phần còn lại nhưng khó xác định. Sự xóa bỏ ở vị trí Xp21 cùng với các triệu chứng lâm sàng đặc trưng có giá trị chẩn đoán cao.

3.1.2. Loạn dưỡng cơ Becker

Đây là bệnh di truyền qua gen lặn liên kết với NST X. Thường gây bệnh cho bé trai, do di truyền qua mẹ mang gen bệnh. Các triệu chứng bao gồm yếu cơ lan tỏa, chủ yếu ở chi trên và cơ khung chậu. Thường phì đại cơ bắp chân. Có thể có cả tổn thương tim. Bệnh nhân có thể sống tới tuổi 40 hay 50. Thể bệnh này giống loạn dưỡng cơ Duchenne ở một số đặc điểm chủ yếu sau: Liên quan đến NST X, phì đại bắp chân, yếu các cơ gốc chi là chính và nồng độ men CK huyết thanh tăng cao. Điện cơ và sinh thiết cơ giống nhau. Hai điểm khác là khởi phát thường sau 12 tuổi và tiến triển chậm hơn, còn đi được sau 20 tuổi.

3.1.3. Loạn dưỡng cơ Emery – Dreifuss

Là loạn dưỡng liên kết giới tính bất thường, thể hiện bởi co cứng cơ và bệnh cơ tim. Bệnh thường ở tuổi thiếu niên và vị thành niên, gây co cứng cơ, yếu cơ, bắt đầu từ ngoại vi chi dưới, tiến triển đến gốc chi dưới, đai lưng. Điển hình là co cứng cơ Achilles, gấp cứng khuỷu, gối, duỗi cổ cứng, co cứng cơ cạnh cột sống thắt lưng. Yếu cơ nổi bật ở mặt ngoài cánh tay, cẳng chân, cơ tam đầu hơn cơ đai vai. Các cơ mặt ở cẳng chân cũng bị yếu. Hầu hết bệnh nhân có rối loạn dẫn truyền và loạn nhịp tim, dẫn đến nguy cơ đột tử và tử vong. Tử vong ở tuổi 40, 50 do block dẫn truyền nhĩ thất, xuất hiện ở giai đoạn muộn của bệnh.

3.1.4. Loạn dưỡng cơ mặt – vai – cánh tay

Loạn dưỡng cơ mặt vai cánh tay di truyền qua gen trội trên NST thường gây nên yếu cơ mặt và chi trên. Thể LDC này có thể bị ở 2 giới ở bất kỳ tuổi nào. Bệnh thường bắt đầu ở tuổi thiếu niên, cuối thời kỳ vị thành niên. Bệnh gây yếu dần cơ mặt, tay, chân và các cơ quanh khớp vai và ngực. Vận động của chi trên và cơ mặt, vùng ngực vai bị giảm sút, nhô xương bả vai. Bệnh tiến triển chậm và thay đổi từ mức độ nhẹ đến tàn phế. Trong một gia đình, bệnh có thể ở mức độ nhẹ hay nặng khác nhau ở các thành viên khác nhau, tiến triển chậm, giảm tuổi thọ ít. Các bệnh nhân nặng có thể phải ngồi xe lăn.

Trong loạn dưỡng cơ mặt – vai – cánh tay điển hình có các đặc điểm lâm sàng sau:

– Yếu cơ mặt, không chỉ biểu hiện bằng hạn chế vận động môi, mà còn thấy môi hơi trễ và lộn ra ngoài, khe mắt hở to. Bệnh nhân phàn nàn không thể huýt sáo hoặc thổi bóng được.

– Cánh xương bả vai nhô lên trông như cánh gà. Nếu yêu cầu bệnh nhân đẩy tay vào tường ở ngang vai hoặc cố dang cánh tay, triệu chứng này rõ hơn. Bệnh nhân không giơ tay lên ngang vai được, mặc dù cơ delta không yếu. Sự hạn chế vận động này là do sự cố định xương bả vai một cách không thích hợp.

– Đai vai có hình dạng đặc trưng, nhìn từ phía trước xương đòn có vẻ xuống thấp, xương đòn và bả vai nhô lên bên trên hố thượng đòn.

– Yếu cơ gốc chi ở chân, tay hơn là cơ mắc và cơ chày trước.

– Các triệu chứng khác như điếc, chậm phát triển trí tuệ, liệt mặt hai bên, bệnh mạch máu võng mạc ngoại giãn tĩnh điện và xuất tiết có thể gặp.

Cận lâm sàng: điện cơ và sinh thiết cơ có biểu hiện đặc trưng của một bệnh cơ, những biến đổi tổ chức. Nồng độ men CK huyết thanh bình thường. Đó là điểm khác nhau cơ bản với loạn dưỡng cơ Duchenne.

Thể này cần chẩn đoán phân biệt với các bệnh sau:

– Teo cơ do tuỷ sống: có sự phân bố yếu cơ giống loạn dưỡng cơ mặt – vai – cánh tay, nhưng sự khác nhau cơ bản dựa vào sinh thiết cơ và điện cơ.

– Viêm đa cơ: thấy các tế bào viêm trong tiêu bản sinh thiết cơ.

– Teo cơ vai – mác: không có teo cơ mặt.

3.1.5. Loạn dưỡng cơ mắt họng

Di truyền qua gen trội trên NST thường xuất hiện ở độ tuổi từ 20-30. Cơ hầu họng bị tổn thương dẫn đến nuốt khó và nói khó.

3.1.6. Loạn dưỡng cơ ngoại vi

Khởi phát từ 20-69 tuổi, yếu, teo cơ bàn tay, cẳng tay, chân, tiến triển dần dần và không đe dọa tính mạng.

3.1.7. Loạn dưỡng cơ chi-đai

– Có nhiều thể di truyền khác nhau, qua gen trội và gen lặn, trong đó qua gen lặn thường gặp hơn. Gây tổn thương cho bé trai và bé gái. Tổn thương các chi trên và chi dưới. Biểu hiện yếu cơ gốc chi xảy ra ở tuổi thanh niên hoặc người lớn, di truyền trội hoặc lặn, mức độ nặng nhẹ ở các gia đình do khác nhau. Chân thường bị teo cơ đầu tiên vì vậy bệnh nhân leo cầu thang và ngồi ghế đứng dậy khó, sau đó xuất hiện dáng đi lạch bạch. Giai đoạn muộn, bệnh nhân khó đưa tay lên trên và có thể thấy xương bả vai gồ lên như cánh gà, phần xả gân co từ đầu thường mất trước phản xạ gót, các cơ mặt ít khi bị teo, bệnh tiến triển chậm.

– Điện cơ và sinh thiết cơ có biến đổi kiểu bệnh cơ. Nồng độ men CK huyết thanh tăng nhẹ. Bệnh được xác định ở vị trí gen 13q12 và sản phẩm gen là một glycoprotein, đó là một phần của phức hợp dystrophin ở màng tế bào.

– Loạn dưỡng cơ chi-đai là một chẩn đoán loại trừ bao gồm các hội chứng bệnh cơ yếu cơ gốc chi, thường tiến triển chậm, và không đáp ứng với các tiêu chuẩn của loạn dưỡng cơ Duchenne; mặt – vai – cánh tay hoặc tăng trương lực.

3.1.8. Loạn dưỡng cơ tăng trương lực cơ

Là bệnh thường gặp nhất ở người trưởng thành, biểu hiện đa dạng ở nhiều cơ quan, di truyền trội, bao gồm co cứng cơ kéo dài, đục thủy tinh thể, bất thường tim, và rối loạn nội tiết. Bệnh nhân có khuôn mặt mỏng, dài, sụp mi và cơ ngỏng. Tỷ lệ hiện mắc cao, ước chừng khoảng 5/100.000 dân, không phân biệt chủng tộc, địa lý, là thể hay gặp nhất của loạn dưỡng cơ. Tỷ lệ mới mắc khoảng 13,5/100.000 trẻ sinh ra còn sống. Chẩn đoán thường được khẳng định khi thấy các cơ ức đòn chũm nhỏ, teo cơ ngọn chi và tăng trương lực khi gõ hoặc nắm tay.

Triệu chứng lâm sàng: bệnh khởi phát ở độ tuổi 20-40. Có tình trạng loạn trương lực cơ (co thắt cơ kéo dài ở các ngón tay và các cơ mặt), dáng đi bước thấp bước cao. Các cơ ở đầu và mặt đều bị teo và yếu, sụp mi, đôi khi vận động nhãn cầu bị hạn chế. Nói khó và nuốt khó cũng có thể gặp. Các cơ thái dương teo nhỏ, vì vậy bệnh nhân có khuôn mặt rất đặc trưng: mặt dài, gầy và sụp mi; ở nam giới hói phía trước càng làm cho khuôn mặt có hình dạng đặc biệt. Các cơ ức đòn chũm teo nhỏ và yếu. Ở chi, các cơ ngọn chi như bàn tay, bàn chân đều bị tổn thương như nhau, nổi bật là yếu các cơ gấp ngón, yếu cơ chân nên tạo ra dáng đi “chân rơi” hoặc từng bước, thể trạng toàn thân gầy, mất phản xạ gân xương. Các cơ hô hấp cũng có thể bị yếu, đôi khi xuất hiện trước yếu cơ chi. Các triệu chứng khác có thể gặp như: ngủ lịm, tăng tính nhạy cảm với thuốc mê. Tốc độ tiến triển chậm và tuổi thọ ít bị ảnh hưởng, nhưng một số ít người có thể trở thành tàn tật. Đục thủy tinh thể là triệu chứng hầu như gặp nhất nhưng nhiều năm mới phát hiện. Bệnh nội tiết hay gặp ở nam giới như hói trán, teo tinh hoàn. Ở phụ nữ, các bất thường về kinh nguyệt và sảy thai thường gặp; tính sinh sản giảm ít. Đái tháo đường gặp tỷ lệ cao hơn so với cộng đồng. Rối loạn tim mạch biểu hiện chủ yếu trên điện tim, có các bất thường về rối loạn dẫn truyền như: block nhĩ thất độ I hoặc block nhánh, đôi khi rối loạn nhịp được phát hiện nhưng ít khi có biểu hiện lâm sàng và hiếm khi phải đặt máy tạo nhịp. Chứng đái tràn dãi và bán tắc có thể gây nguy hiểm đến tính mạng. Bệnh nhân thường bị táo bón.

Cận lâm sàng: điện cơ có biểu hiện bằng chứng của bệnh cơ, yếu mỏi cơ đặc trưng sau khi phóng xung của tăng trương lực cơ. Sinh thiết cơ có biến đổi nhẹ nhưng không đặc hiệu. Nồng độ men CK có thể bình thường hoặc tăng nhẹ nhưng không đến mức tăng cao như bệnh loạn dưỡng cơ Duchenne hoặc viêm đa cơ. Gen bệnh nằm ở vị trí 19q13.2. Sản phẩm gen có thể nằm trong cơ chế bệnh sinh là protein kinase, men này giảm trong cơ tương ứng với mức độ của bệnh. Kiểu di truyền trội ở những thành viên khác trong gia đình cũng giúp cho việc chẩn đoán loạn dưỡng cơ tăng trương lực.

3.1.9. Loạn dưỡng cơ bẩm sinh

Khởi phát ngay từ lúc mới sinh. Yếu cơ toàn thể, có thể có biến dạng khớp. Kèm theo vẹo cột sống, vặn cổ do hô hấp, chậm phát triển trí tuệ, khiếm khuyết mắt hay động kinh, tiến triển chậm, tuổi thọ kém hơn bình thường. Di truyền qua gen trội hay lặn.

4. CHẨN ĐOÁN

Chẩn đoán xác định LDC dựa trên kết hợp các triệu chứng lâm sàng điển hình, tăng creatine phosphokinase, điện cơ, điện tim, sinh thiết cơ, và phân tích DNA.

– Thăm khám lâm sàng và tiền sử bệnh giúp xác định thể LDC.

– Định lượng các enzym cơ là quan trọng để chẩn đoán và theo dõi bệnh lý cơ. Đó là các men cơ: creatine kinase (CK), creatine kinase MB (CK-MB), Aldolase (ALD), Lactat-dehydrogenase (LDH), hydroxybutyrat-dehydrogenase (α-HBDH), glutamat-oxaloacetat-transaminase (GOT), và glutamat – pyruvat-transaminase (GPT). Trong LDC Duchenne, các men cơ tăng trong 3 năm đầu, tối đa vào độ tuổi 3-4 và do giảm dần. Thể LDC Duchenne có thể được phát hiện ở trẻ mới sinh bằng định lượng men CK trong huyết thanh.

– Trên điện cơ đồ, không có rối loạn cảm giác và mất chi phối thần kinh trừ khi có một bệnh khác kết hợp.

– Sinh thiết cơ hiện nay là test xác định chẩn đoán LDC. Các thay đổi tổ chức học trong LDC phụ thuộc vào giai đoạn của bệnh và cơ được chọn để sinh thiết, vị trí hợp lý là cơ rộng ngoài. Thường biến đổi tổ chức học thấy sự thoái hoá và sự tái tạo của cơ, nhưng không có triệu chứng của bệnh rối loạn chuyển hoá.

5. ĐIỀU TRỊ

Hiện nay chưa có điều trị đặc hiệu. Điều trị triệu chứng bao gồm tập thể dục, vật lý trị liệu, dụng cụ chỉnh hình, thuốc, chăm sóc hô hấp, phẫu thuật, có thể giúp bảo tồn chức năng cơ, phòng co cứng khớp và cải thiện chất lượng cuộc sống. Bệnh nhân còn cần được chăm sóc bởi các bác sĩ chuyên gia thần kinh, tiêu hoá, hô hấp, tim mạch, chấn thương chỉnh hình, tâm lý, phục hồi chức năng trong suốt cuộc đời.

5.1. Chế độ ăn uống sinh hoạt

Bệnh nhân cần có chế độ ăn uống giàu thịt nạc, đỗ biển, sữa, trứng, dầu oliu, rau xanh, ớt chuông, lúa mì, việt quất, dâu tây. Cần giảm tiêu thụ tinh bột, mỡ bơ, cà phê, rượu. Tập thể dục, tập thể dục nhịp điệu. Cần dùng các thực phẩm bổ sung vitamin E, A, D và ATP …

5.2. Vật lý trị liệu

Các thể LDC thường gây co cứng cơ, ngắn gân, giảm vận động khớp. Bài tập hướng tới duy trì tầm vận động của khớp như bàn chân, gối, háng, tay, khuỷu. Các bài tập hô hấp cần cho một số thể LDC như chi-đai. Tập nổi. Sử dụng tắm nước nóng. Về các dụng cụ hỗ trợ, có thể dùng các dụng cụ chỉnh hình như đai cổ bàn chân hay xe lăn, khung đứng, hỗ trợ cơ tay hay chân, giúp cho cơ và gân căng và mềm dẻo, giảm sự tiến triển của co cứng cơ. Dùng máy trợ thở khi bị suy hô hấp. Dùng gậy chống khi đi bộ hay dùng xe lăn để có thể di chuyển và giảm phụ thuộc.

5.3. Thuốc

Có nhiều loại thuốc làm chậm hay ngăn cản sự huỷ hoại cơ, tăng tổng hợp cơ, các bổ sung creatin và glutamin làm gia tăng tạo và tích trữ năng lượng cho cơ. Các nhà nghiên cứu đang nghiên cứu gene liệu pháp.

Corticosteroid: có thể làm giảm sự huỷ hoại cơ, giúp cải thiện sức mạnh cơ, chậm tiến triển bệnh, nhưng không ảnh hưởng đến kết cục. Prednison có tác dụng chống viêm và ức chế miễn dịch, dùng trong thể LDC Duchenne. Prednison có thể phòng co cứng cơ và duy trì trương lực cơ. Một số nhà nghiên cứu cho rằng prednison có thể kích thích sản xuất protein cơ. Thuốc có tác dụng giải phóng đường và năng lượng. Tuy nhiên khi ngừng thuốc thì hiệu quả cũng mất đi nhanh chóng. Thêm nữa thuốc cũng có nhiều tác dụng phụ. Thường dùng thành đợt với liều 0,75 mg/kg trọng lượng cơ thể/ngày. Cần dùng thêm calci. Có thể dùng Deflazacort là corticoid tăng dị hoá.

Albuterol: albuterol là thuốc chống miễn dịch, kích thích tăng trưởng cơ.

Creatine: là chất bổ sung dinh dưỡng, creatin giúp cơ co mạnh hơn, mang nhóm phosphat và mang đến tế bào cơ để giúp co cơ. Creatin có trong cá, thịt, hay bột pha nước. Liều dùng 5 g/ngày đủ để cải thiện cơ lực.

Steroids đồng hoá: có thể dùng Decadurabolin 50 mg tiêm bắp 1 lần/tuần.

Thuốc chẹn kênh calci: thuốc chẹn kênh calcium làm chậm tiến triển của LDC Duchenne. Calci bị rò rỉ khỏi tế bào, gây tổn thương mô bên cạnh. Việc dùng thuốc này làm bloc kênh calci, ngăn chặn rò rỉ calci.

– Ngoài ra, trong thể LDC tăng trương lực cơ, Emery-Dreifuss, cần đặt máy tạo nhịp đề phòng đột tử do biến chứng tim. Có thể dùng thuốc điều trị rối loạn trương tim trong một số thể LDC. Trong thể co cứng cơ, có thể dùng mexiletin (Mexitil), phenytoin (Dilantin, Phenytek), carbamazepin (Tegretol, Carbatrol), quinin và procainamid (Procanbid, Pronestyl) có tác dụng giảm trương lực cơ, tuy nhiên hiện vẫn chưa có điều trị lâu dài.

MYO-029: là thuốc ức chế myostatin. Myostatin là một protein ức chế sự tăng trưởng của cơ. MYO-029 là kháng thể người tái tổ hợp, thiết kế để gắn kết và ức chế hoạt động của myostatin.

Liệu pháp gen trị liệu

Định vị gen đặc hiệu gây nên LDC có thể giúp cho điều trị phần tử vẫn đang ở giai đoạn thực nghiệm. Tư vấn di truyền cần thiết đối với các gia đình bệnh nhân để xác định tình trạng mang gen bệnh của các thành viên khác của gia đình, do vậy nên khuyến cáo test trước sinh.

– Ngoài ra hiện nay người ta cũng đang tiến hành thử nghiệm liệu pháp tế bào gốc trong điều trị LDC.

5.4. Phẫu thuật chỉnh hình

Phẫu thuật giải phóng gân háng hay gối, gân Achilles làm giảm sự co ngắn cơ, giúp giảm đau cho khớp. Phẫu thuật kết hợp gai sau đốt sống với khung chậu cho phép làm chỉnh vẹo cột sống, giữ thăng bằng khi ngồi thẳng lưng. Tuy nhiên cần lưu ý rằng nếu bệnh nhân có dung tích sống thấp (< 30%), nguy cơ biến chứng hô hấp cao hơn nhiều và khi đó thì lại không nên mổ chỉnh sửa vẹo cột sống. Sau phẫu thuật vẹo cột sống, bệnh nhân cần hỗ trợ hô hấp và lưu trú lâu hơn trong đơn vị hồi sức tích cực. Phẫu thuật khác để khắc phục co cứng kiểu bàn chân ngựa là làm dài gân. Một số chống chỉ định phẫu thuật tương đối trong LDC là béo phì, yếu cơ nhanh chóng, tình trạng tim phổi yếu.

Cập nhật thông tin mới nhất về kiến thức y học và test y học tại facebook TEST Y HỌC

Tham gia nhóm zalo: Tài Liệu Y Học Tổng Hợp

Ôn thi nội trú, sau đại học TẠI ĐÂY

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Content is protected !!
All in one