Nhiễm Khuẩn Sơ Sinh

Bài 10

NHIỄM KHUẨN SƠ SINH

 

1. ĐẠI CƯƠNG

Nhiễm khuẩn sơ sinh (NKSS) gồm các bệnh nhiễm khuẩn xuất hiện trong vòng 28 ngày đầu của cuộc sống. Nhiễm khuẩn sơ sinh được chia ra thành nhiễm khuẩn sơ sinh sớm (xảy ra trong 3 ngày đầu của cuộc sống) hay còn gọi là nhiễm khuẩn từ mẹ truyền sang con và nhiễm khuẩn sơ sinh muộn (xảy ra trong những ngày sau).

Nhiễm khuẩn sơ sinh luôn giữ vị trí quan trọng trong tình hình bệnh tật và tử vong ở trẻ sơ sinh, đặc biệt là trẻ đẻ non, cân nặng thấp.

Trên thế giới tỷ lệ nhiễm khuẩn sơ sinh chiếm 1 – 4% số trẻ sơ sinh sống. Còn ở nước ta, nhiễm khuẩn sơ sinh vẫn giữ vị trí hàng đầu trong mô hình bệnh tật của trẻ sơ sinh. Theo thống kê của Viện BVSKTE (1981 – 1983) nhiễm khuẩn huyết chiếm 50% nhiễm khuẩn sơ sinh nói chung và 0,5 – 0,7% trẻ sơ sinh sống. Tại Bệnh viện Saint Paul 1996, nhiễm khuẩn sơ sinh chiếm 51,1% số trẻ sơ sinh vào viện. Tỷ lệ nhiễm khuẩn ở trẻ đẻ non cao hơn trẻ đủ tháng từ 5 đến 10 lần. Tỷ lệ nhiễm khuẩn sơ sinh sớm tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội năm 2004 ở trẻ đẻ non là 9,55%.

Tỷ lệ tử vong của bệnh viện còn rất cao mặc dù hiện nay đã có những phương pháp chẩn đoán và điều trị hiện đại. Tỷ lệ tử vong của nhiễm khuẩn sơ sinh sớm dao động từ 25 – 50% tùy theo thống kê. 17% chết trước đẻ là do nhiễm trùng. Theo thống kê của Viện BVSKTE năm 1992 – 1993, tỷ lệ tử vong do nhiễm khuẩn huyết ở trẻ đẻ non là 95,7%, còn ở trẻ đủ tháng là 58,6%. Tỷ lệ tử vong của nhiễm khuẩn sơ sinh sớm ở trẻ đẻ non là 38,10% tại Viện Phụ sản Hà Nội năm 2004.

Chẩn đoán bệnh thường khó vì triệu chứng không điển hình, tiến triển của bệnh khó lường trước.

Nhiễm khuẩn sơ sinh trong bài này chỉ giới hạn một số bệnh: nhiễm khuẩn huyết, nhiễm khuẩn da, nhiễm khuẩn rốn (uốn ván rốn được trình bày ở bài khác).

2. LÝ DO TĂNG NGUY CƠ NHIỄM KHUẨN Ở TRẺ SƠ SINH

2.1. Đặc điểm miễn dịch của trẻ sơ sinh

2.1.1. Miễn dịch tế bào

Tế bào T được hình thành từ tuần thứ 8 của thai kỳ bào thai. Vào tuần thứ 24 của thai kỳ bào thai, người ta đã phát hiện được khả năng miễn dịch của tế bào T đối với Rubella và Toxoplasma.

Ở giai đoạn sơ sinh, mặc dù số lượng tế bào T tương đối đầy đủ nhưng khả năng của “tế bào diệt” còn kém, khả năng sản xuất ra lymphokin kéo theo khả năng hoạt hóa đại thực bào kém, khả năng sản xuất interleukin 2 kém kéo theo khả năng tăng sinh bạch cầu lympho giảm.

Sự “suy giảm chức năng” của lympho T ở trẻ sơ sinh sẽ mất đi sau vài tháng. Nó giải thích hiện tượng không đáp ứng miễn dịch ở một số trẻ sơ sinh khi tiêm chủng BCG.

2.1.2. Thực bào

Thực bào (bạch cầu đa nhân trung tính), đại thực bào (monocyte) có từ tháng thứ 2 ở gan, tháng thứ 5 ở xương tủy trong thai kỳ bào thai nhưng chúng hoạt động rất kém.

Ở giai đoạn sơ sinh, các thực bào có khả năng bám dính kém, khả năng thay đổi hình dạng kém, chúng di chuyển chậm về phía yếu tố hóa hướng động.

2.1.3. Bổ thể

Sự tổng hợp bổ thể có từ tuần thứ 8 của thai kỳ bào thai. Bổ thể của mẹ không qua rau thai.

Ở trẻ sơ sinh đủ tháng, bổ thể đạt 50 – 60% nồng độ bổ thể huyết thanh người lớn. Ở trẻ đẻ non, nồng độ bổ thể huyết thanh thấp hơn trẻ đủ tháng.

2.1.4. Miễn dịch dịch thể

Các tế bào lympho B sản xuất ra các globulin miễn dịch.

*IgG: được tổng hợp từ tuần thứ 17 của thai kỳ bào thai. Sự tổng hợp IgG của bào thai rất thấp. IgG của mẹ vận chuyển được qua rau thai bằng phương pháp vận chuyển tích cực từ tháng thứ 6 của thai kỳ bào thai.

Ở trẻ đủ tháng, nồng độ IgG là 12 g/l (nồng độ IgG ở tĩnh mạch rốn cao hơn nồng độ IgG của mẹ từ 5 – 10%). Trẻ đẻ càng non, nồng độ IgG càng thấp.

Sau khi đẻ, nồng độ IgG giảm dần, ở ngày thứ 30 sau đẻ nồng độ IgG chỉ còn khoảng 50% nồng độ khi sinh.

Trẻ sơ sinh được bảo vệ chủ yếu nhờ IgG của mẹ.

Nồng độ IgG đạt được nồng độ của người lớn lúc trẻ 5 – 6 tuổi.

*IgM: được tổng hợp từ tuần thứ 10 của thời kỳ bào thai. IgM không được vận chuyển qua rau thai. Nồng độ IgM thấp trong thời kỳ bào thai.

Khi sinh, nồng độ IgM của trẻ là 10 ± 5mg/100 ml (1/20 của người lớn), tăng nhanh từ ngày thứ 4 đến ngày thứ 7 sau đẻ.

Nồng độ IgM đạt được nồng độ người lớn từ lúc trẻ 1 tuổi.

*IgA: được tổng hợp từ tuần thứ 30 của thời kỳ bào thai, nhưng nồng độ rất thấp, rất khó phát hiện.

Khi sinh, nồng độ IgA của trẻ là 1 – 5mg/100ml (nồng độ IgA của người lớn là 2g/l).

Nồng độ IgA đạt được nồng độ người lớn lúc trẻ 10 tuổi.

2.2. Đặc điểm da và niêm mạc

Hiện tượng sừng hóa của da xuất hiện từ tuần thứ 20 – 22 của thời kỳ bào thai, sừng hóa một phần ở trẻ đẻ non và toàn phần ở trẻ đủ tháng.

Tóm lại: Hệ thống hàng rào bảo vệ cơ thể được hình thành sớm nhưng còn rất yếu. Do vậy, đứa trẻ rất dễ bị nhiễm khuẩn.

3. ĐƯỜNG XÂM NHẬP CỦA CÁC NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH

3.1. Đường xâm nhập của nhiễm khuẩn sơ sinh sớm

3.1.1. Đường máu

Vi khuẩn đi qua đường máu trong các trường hợp mẹ bị nhiễm khuẩn huyết, viêm nội mạc tử cung, nhiễm khuẩn bánh rau gây nên nhiễm khuẩn huyết thai nhi với các ổ khu trú thứ phát ở gan, màng não…

3.1.2. Đường qua màng ối

Vi khuẩn qua màng ối trong các trường hợp vỡ ối sớm hoặc vi khuẩn đi lên trong tháng cuối của thời kỳ mang thai gây nên nhiễm khuẩn ối, từ đó gây nên nhiễm khuẩn thai do hít phải nước ối nhiễm khuẩn (qua đường hô hấp), do nuốt phải nước ối nhiễm khuẩn (qua đường tiêu hóa) hoặc qua da – niêm mạc do tiếp xúc với nước ối bị nhiễm khuẩn.

3.1.3. Đường âm đạo

Đứa trẻ đi qua âm đạo trong khi lọt tiếp xúc với chất tiết âm đạo bị nhiễm khuẩn da và niêm mạc.

3.2. Các thời kỳ lây bệnh

3.2.1. Trước đẻ

  • Nhiễm khuẩn sớm trong vòng 5 tháng đầu của thời kỳ mang thai: vi khuẩn thường qua đường máu gây nên nhiễm khuẩn thai.
  • Nhiễm khuẩn muộn sau 5 tháng của thời kỳ mang thai: vi khuẩn có thể qua đường máu hoặc đường đi lên (nhiễm khuẩn ối do vỡ ối sớm).

3.2.2. Trong đẻ

Nhiễm khuẩn xảy ra trong cuộc đẻ thường do vỡ ối sớm > 12 giờ, mẹ bị nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới hoặc các dụng cụ sản khoa không vô khuẩn.

3.2.3. Sau đẻ

Nhiễm khuẩn xảy ra sau khi đẻ thường do tay cán bộ y tế không vô khuẩn khi tiếp xúc với trẻ hoặc lồng ấp, dụng cụ y tế không vô khuẩn. Nhiễm khuẩn càng dễ xảy ra trên các trẻ có đặt catheter, ống nội khí quản…

4. NHIỄM KHUẨN SƠ SINH

4.1. Các yếu tố nguy cơ

Các yếu tố nguy cơ gây nhiễm khuẩn sơ sinh sớm:

Tiền sử sản khoa rất quan trọng trong chẩn đoán nhiễm khuẩn sơ sinh sớm vì nó giúp cho người cán bộ y tế thấy được nguy cơ bị nhiễm khuẩn của trẻ, do vậy cần phải theo dõi sát trẻ để phát hiện sớm các triệu chứng lâm sàng.

– Các yếu tố nguy cơ chính

  • Viêm màng ối
  • Một trong hai trẻ đẻ sinh đôi bị nhiễm khuẩn
  • Mẹ sốt ≥ 38°C trước hoặc trong cuộc đẻ
  • Đẻ non, đặc biệt là đẻ non trước 35 tuần tuổi không rõ nguyên nhân
  • Thời gian chuyển dạ kéo dài trên 12 giờ, nhất là trên 18 giờ
  • Vỡ ối tự nhiên trước 35 tuần tuổi
  • Thời gian vỡ ối trên 18 giờ
  • Vỡ ối non trước 35 tuần
  • Mẹ có tiền sử bị nhiễm khuẩn mẹ – con do liên cầu khuẩn B, hoặc dịch âm đạo có liên cầu hoặc vi khuẩn niệu có Streptococcus khi mang thai.

– Các yếu tố nguy cơ phụ

  • Thời gian vỡ ối ≥ 12 <18 giờ
  • Đẻ non tự nhiên ≥ 35 <37 tuần
  • Có bất thường nhịp tim thai hoặc suy thai không rõ nguyên nhân
  • Dịch ối bẩn

4.2. Nhiễm khuẩn huyết

4.2.1. Nguyên nhân

Tại các nước phát triển, vi khuẩn gây nhiễm khuẩn huyết sớm đứng ở vị trí hàng đầu là liên cầu nhóm B, sau đó là E. coli. Tại Việt Nam, vi khuẩn gây nhiễm khuẩn huyết sớm chủ yếu là do E.coli.

Tại khoa Sơ sinh Bệnh viện Sức khỏe trẻ em (BVSKTE), vi khuẩn gây nhiễm khuẩn huyết tại bệnh viện chủ yếu là vi khuẩn Gram (-): Klebsiella, Pseudomonas gây nên.

Nhiễm khuẩn huyết sớm thường là hậu quả của nhiễm khuẩn mẹ con, nhiễm khuẩn huyết muộn thường là nhiễm khuẩn tại bệnh viện.

4.2.2. Triệu chứng lâm sàng

Triệu chứng lâm sàng thường nghèo nàn, không điển hình ở trẻ đẻ non, thấp cân, do đó phải chú ý đến tiền sử sản khoa như đã nói ở phần trên. Phải nghĩ đến nhiễm khuẩn huyết khi trẻ có các triệu chứng sau:

  • Nhiệt độ không ổn định (sốt hoặc hạ nhiệt độ).
  • Biểu hiện ở da và niêm mạc: da tái, nổi vân tím, phát ban, xuất huyết, vàng da sớm, phù cứng bì, viêm rốn.
  • Biểu hiện tim mạch: nhịp tim nhanh trên 160 lần/phút, huyết áp động mạch giảm, lạnh đầu chi, thời gian hồng trở lại của da kéo dài trên 3 giây.
  • Biểu hiện hô hấp: tím, thở nhanh, thở rên, ngừng thở.
  • Biểu hiện thần kinh: tăng hoặc giảm trương lực cơ, kích thích, co giật, thóp phồng.
  • Biểu hiện tiêu hóa: bỏ bú, chướng bụng, nôn, ỉa chảy.
  • Gan, lách to.

4.2.3. Triệu chứng cận lâm sàng

a. Người mẹ

Trong trường hợp nhiễm khuẩn sơ sinh sớm, ta tìm vi khuẩn gây bệnh ở mẹ để có lựa chọn kháng sinh thích hợp ở trẻ sơ sinh.

  • Trong trường hợp mẹ sốt nghi ngờ nhiễm khuẩn huyết thì phải cấy máu, làm kháng sinh đồ.
  • Trong trường hợp nhiễm khuẩn tiết niệu phải cấy nước tiểu tìm vi khuẩn, làm kháng sinh đồ.
  • Trong trường hợp nhiễm trùng âm đạo: soi, cấy khí hư tìm vi khuẩn, làm kháng sinh đồ.

b. Trẻ sơ sinh

  • Bệnh phẩm ngoại vi: lấy dịch dạ dày nếu đứa trẻ mới đẻ (trong vòng 6 giờ) để soi, cấy tìm vi khuẩn. Nếu tìm thấy một loại vi khuẩn thì đó thường là nguyên nhân gây bệnh.
  • Cấy máu làm kháng sinh đồ: chú ý cấy cả trong hai loại môi trường ái khí và kỵ khí, lượng bệnh phẩm từ 1 – 2ml.
  • Công thức máu

Bạch cầu hạ dưới 5 000/mm3 hoặc tăng trên 30 000/mm3

Bạch cầu đa nhân trung tính giảm dưới 1 500/mm3

Tỷ lệ bạch cầu trung tính non (không nhân)/bạch cầu đa nhân trung tính trưởng thành lớn hơn 0,2.

Thiếu máu nhẹ: Tiểu cầu dưới 150.000/mm3

  • Các yếu tố viêm

Fibrinogen tăng trên 3,5g/l.

CRP tăng trên 15mg/l (CRP được tổng hợp ở gan, tăng nhanh từ 6 – 10 giờ sau nhiễm trùng, dương tính giả trong đáp nát tổ chức). Định lượng CRP còn giúp theo dõi diễn biến của nhiễm khuẩn, có chỉ định đặt kháng sinh kịp thời. Trong nhiễm khuẩn sơ sinh sớm, định lượng CRP phải làm sau 12 giờ mới có giá trị,

Interleukine 6 tăng trên 100 pg/l (tăng trước CRP), rất có giá trị trong chẩn đoán nhiễm khuẩn sơ sinh sớm.

  • Toan chuyển hóa
  • Rối loạn các yếu tố đông máu: giảm yếu tố II, V, XI …
  • Nước não tủy: chỉ định chọc nước não tủy khi bệnh nhân có triệu chứng thần kinh, hoặc nhiễm khuẩn huyết. Nước não tủy của trẻ sơ sinh có rối loạn khi:

Nước vẩn đục

Tế bào tăng trên 30/mm3, trên 60% bạch cầu đa nhân trung tính

Protein tăng trên 1,5g/l

Glucose giảm dưới 0,5g/l

Cấy dịch não tủy tìm vi khuẩn gây bệnh, làm kháng sinh đồ.

Tìm kháng nguyên hòa tan trong dịch não tủy: liên cầu B, E.coli.

  • Chụp phổi là chỉ định bắt buộc.
  • Nước tiểu: Trong trường hợp nhiễm khuẩn tiết niệu ta thấy khi soi trực tiếp nước tiểu có nhiều bạch cầu đa nhân trung tính.

Cấy nước tiểu tìm vi khuẩn gây bệnh.

Tìm kháng nguyên hòa tan trong nước tiểu.

  • Cấy phân nếu trẻ có ỉa chảy.
  • Cấy tìm vi khuẩn ở nội khí quản, catheter.

4.2.4. Điều trị

a. Kháng sinh

  • Chọn kháng sinh

Trong trường hợp nhiễm khuẩn sơ sinh sớm: dùng 2 loại kháng sinh kết hợp (một của nhóm β lactamine, một của nhóm aminoside). Khi chưa có kết quả kháng sinh đồ, thường dùng ampiciline và gentamycine vì ampiciline có tác dụng với vi khuẩn thường gặp là liên cầu B; trong trường hợp nghi ngờ vi khuẩn kháng ampiciline (E.coli) dùng cephalosporine thế hệ thứ 3 như claforan, rocephine… và gentamycine.

Trong trường hợp nhiễm khuẩn tại bệnh viện: nghi ngờ do tụ cầu cần kết hợp 3 loại kháng sinh: Cephallosporine thế hệ thứ 3 + Vancomycine + Aminoside (Claforan + Vancomycine + Gentamycine); nghi ngờ trực khuẩn Gram âm kết hợp 2 loại kháng sinh của nhóm cephalosporine thế hệ thứ 3 + gentamycine; nghi ngờ do nấm thì dùng kháng sinh chống nấm.

Khi có kết quả kháng sinh đồ, chỉnh lại kháng sinh cho phù hợp.

  • Thời gian dùng kháng sinh: dựa vào tổn thương, vi khuẩn gây bệnh:

Nhiễm trùng huyết dùng kháng sinh trong 10 ngày.

Viêm màng não mủ dùng kháng sinh trong 21 ngày.

Viêm xương khớp mủ dùng kháng sinh trong 6 – 8 tuần.

Viêm phổi dùng kháng sinh trong 7 – 10 ngày, trừ trường hợp do tụ cầu vàng dùng kháng sinh trong 3 – 6 tuần.

Chú ý khi dùng aminoside: dùng aminoside kết hợp với β lactamine nhằm tăng tác dụng diệt khuẩn, tác dụng này chỉ kéo dài trong vòng 48 giờ. Độc tính của aminoside liên quan tới thời gian dùng thuốc. Độc tính aminoside thường xảy ra sau 7 ngày dùng thuốc. Theo các tác giả thì nên dùng aminoside sau 48 giờ và trước 7 ngày, nếu tiến triển tốt trên lâm sàng.

Liều một số kháng sinh thường dùng:

Ampiciline: < 3 ngày: 75mg/kg/24 giờ

4 – 7 ngày: 75mg/kg/24 giờ

7 ngày: 100mg/kg/24 giờ

Viêm màng não mủ: 200mg/kg/24 giờ

Cefotaxime: < 7 ngày đủ tháng: 75 – 100mg/kg/24 giờ
(Claforane)   >7 ngày non tháng: 50 – 100mg/kg/24 giờ
>7 ngày: 100 – 200mg/kg/24 giờ
Ceftriaxone: 50mg/kg/24 giờ
(Rocephine)

Amikacine: 15mg/kg/24 giờ

Gentamycine: 4 – 5mg/kg/24 giờ

Vancomycine: 10mg/kg/liều

cân nặng < 1000g: 1 liều trong 18 giờ

cân nặng 1000 – 2000g: 1 liều trong 12 giờ

cân nặng > 2000g: 1 liều trong 8 giờ.

b. Điều trị triệu chứng

  • Chống trụy mạch: truyền dịch, dùng dung dịch cao phân tử như plasmagel, plasma tươi 10 – 15ml/kg.
    Thuốc tác dụng trên mạch: Dopamine 5 – 15µg/kg/phút; Dobutamine 5 – 15µg/kg/phút.
  • Thăng bằng toan – kiềm: dung dịch natricarbonat 14‰.
  • Chống suy hô hấp cấp: oxy liệu pháp, hô hấp hỗ trợ.
  • Chống rối loạn đông máu: plasma tươi, các yếu tố đông máu.

4.3. Nhiễm trùng da

4.3.1. Mụn phỏng nước

  • Hay xảy ra trong tuần thứ nhất hoặc tuần thứ hai sau đẻ.
  • Nốt mụn bằng đầu đinh ghim hoặc to hơn, đều nhau, mềm nóng. Lúc đầu dịch trong, sau có ít mủ đục. Sau 2 – 3 ngày mụn khô, để lại vảy trắng dễ bong. Toàn thân không bị ảnh hưởng.
  • Vị trí thường gặp: trán, gáy, nách, bẹn.
  • Tiến triển tốt nếu không bị bội nhiễm. Nếu bội nhiễm sẽ tạo thành mụn mủ sau.
  • Điều trị:
    Tại chỗ: chấm xanh methylen.
    Toàn thân: tắm bằng xà phòng.
    Trong trường hợp bội nhiễm: dùng kháng sinh toàn thân.

4.3.2. Mụn phỏng đầy đặn

  • Do liên cầu
  • Xảy ra vào tuần thứ hai sau đẻ
  • Nốt phỏng to nhỏ không đều, có khi tạo thành mụn phỏng lớn. Lúc đầu chứa dịch trong, nếu bội nhiễm thì có mủ đục. Vỡ để lại nền đỏ, chất dịch trong lan ra tổ chức xung quanh tạo thành mụn mới, do vậy dễ tạo thành dịch.
  • Chẩn đoán phân biệt với giang mai (vàng da, gan, lách to, xuất huyết, tiền sử bố mẹ, BW+).
  • Điều trị:
    Tắm bằng nước pha thuốc tím loãng 1/4000
    Chấm xanh methylen
    Nếu tổn thương lan rộng, hoặc bội nhiễm dùng kháng sinh toàn thân.

4.3.3. Viêm da bong (bệnh chứng Ritter)

  • Do tụ cầu
  • Xảy ra vào đầu tuần sau đẻ
  • Tổn thương lúc đầu là những mụn mủ xung quanh miệng, sau lan tỏa toàn thân.
    Lớp thượng bì bị nứt, bong ra từng mảng, để lại vết trợt đỏ, ướt huyết tương.
    Toàn thân: nhiễm trùng nhiễm độc nặng, suy sụp, sốt cao, mất nước.
    Có thể kèm nhiễm khuẩn các phụ tạng: viêm phổi, ỉa chảy, nhiễm trùng máu…
  • Bệnh diễn biến xấu, thường tử vong sau 2 – 3 ngày.
  • Điều trị:
    Kháng sinh sớm, mạnh, phối hợp như nhiễm trùng huyết.
    Bồi phụ nước và điện giải.
    Chăm sóc tốt bảo đảm tuyệt đối vô trùng.

4.4. Nhiễm trùng rốn

4.4.1. Viêm rốn

  • Viêm da và tổ chức xung quanh rốn
  • Lâm sàng: rốn thường lâu rụng, ướt, có mùi hôi
  • Giai đoạn đầu chưa có mủ. Sưng tấy toàn thân, bụng chướng, rối loạn tiêu hóa.
  • Điều trị:
    Để rốn hở, giữ sạch, không cho phân, nước tiểu, nước bẩn thấm vào.
    Rửa rốn hàng ngày bằng cồn iod 0,5 – 1% hoặc betadine.
    Nếu có mủ thì mở bằng oxy già, bôi cồn iod và kháng sinh toàn thân.

4.4.2. Hoại thư rốn: tiên phát hoặc thứ phát sau viêm rốn

  • Do vi khuẩn yếm khí gây nên
  • Lâm sàng: rốn thường rụng sớm. Rốn sưng đỏ, tím bầm, chảy nước mủ hoặc máu, mùi hôi, sưng tấy tổ chức xung quanh.
    Toàn thân suy sụp, tình trạng nhiễm trùng, nhiễm độc rõ.
    Nếu không điều trị kịp thời sẽ gây nhiễm trùng huyết, tử vong.
  • Điều trị:
    Tại chỗ: cắt lọc tổ chức hoại tử, rạch rộng ngóc ngách, mở rốn hàng ngày bằng oxy già, bôi cồn iod 1%, để hở. Nếu hoại tử rộng thì chiếu tia cực tím.
    Toàn thân: kháng sinh mạnh, phối hợp như nhiễm trùng huyết.

4.4.3. Viêm mạch máu rốn

  • Viêm động mạch rốn hay gặp hơn là viêm tĩnh mạch rốn, nhưng viêm tĩnh mạch rốn nặng hơn vì dễ dẫn tới nhiễm khuẩn các cơ quan lân cận, nhiễm khuẩn huyết.
  • Lâm sàng: rốn thường rụng muộn, ướt, có mủ, viêm tổ chức xung quanh rốn.
    Toàn thân: sốt, kém ăn, chướng bụng, rối loạn tiêu hóa, cơ thể suy sụp.

Viêm tĩnh mạch rốn: tuần hoàn bằng hạ trên rốn.

Viêm đau cả thượng trước trên rốn.

Bụng chướng.

Có thể gặp gan lách to.

Viêm động mạch rốn: đau da bụng dưới rốn.

Vuốt từ xương mu tới rốn có mủ chảy ra.

Không gặp gan, lách to, tuần hoàn bằng hạ.

Trên lâm sàng nhiều khi khó phân biệt viêm tĩnh mạch rốn hay động mạch rốn.

  • Biến chứng thường gặp là viêm phúc mạc, nhiễm khuẩn huyết.
  • Điều trị:
    Tại chỗ: rửa rốn hàng ngày bằng oxy già, bôi cồn iod 1%.
    Toàn thân: kháng sinh như viêm nhiễm trùng huyết.
    Nghi ngờ viêm phúc mạc: chụp bụng, hội chẩn ngoại.

4.5. Nhiễm trùng niêm mạc

4.5.1. Viêm mắt tiếp hợp

  • Lâm sàng: Trẻ nhiễm mắt, nề đỏ mắt, tiết dử hoặc chảy máu.
  • Nguyên nhân:

Lậu cầu (thường xuất hiện vào ngày thứ 3 – 5 sau đẻ).

Chlamydia trachomatis (thường xuất hiện vào ngày thứ 5 – 15 sau đẻ).

Các loại vi khuẩn khác (thường xuất hiện vào ngày thứ 1 – 2 sau đẻ).

  • Cấy mủ tìm vi khuẩn.
  • Điều trị: rửa mắt hàng ngày bằng dung dịch nước muối sinh lý 9‰.

Nguyên nhân:

Lậu cầu: dùng kháng sinh toàn thân: Cephotaxime 150mg/kg/24 giờ tiêm tĩnh mạch trong 10 – 14 ngày hoặc dùng peniciline 75000 – 150000 đv/kg/24 giờ.

Chlamydia: dùng mỡ erythomycine 0,5% hoặc mỡ tetracyclin 1% hoặc rifamycine nhỏ mắt.

4.5.2. Tưa miệng

Do nấm Candida albicans gây nên. Nấm thường có sẵn trong âm đạo của mẹ; lây sang con. Nấm thường mọc ở mặt trên lưỡi, lúc đầu màu trắng như cặn sữa. Nếu không điều trị nấm mọc đầy lên, lan rộng khắp lưỡi, mặt trong má xuống họng… Nấm ngả màu vàng bẩn, làm trẻ đau, bỏ bú. Nấm có thể rơi vào đường tiêu hóa gây ỉa chảy do nấm hoặc rơi vào phổi gây viêm phổi do nấm rất khó điều trị.

Điều trị: Có thể dùng nước rau ngót, mật ong hoặc bicarbonat 14‰ để đánh nếu tưa trong trường hợp ít. Trong trường hợp tưa nhiều dùng nystatine (500000 đv x 1/2 viên/ngày) hòa tan, thấm vào tăm bông lau sạch lưỡi, kết hợp với uống 1/2 viên đến khi khỏi hẳn. Chú ý đảm bảo đủ lượng sữa cho trẻ.

Phòng bệnh: Hàng ngày nên lau miệng bằng nước muối sinh lý, sau mỗi lần bú cho trẻ uống một vài thìa nước sôi để nguội.

5. PHÒNG BỆNH

Phòng bệnh bao giờ cũng tốt hơn là chữa bệnh. Muốn phòng nhiễm khuẩn sơ sinh cần phải:

*Đối với các bà mẹ:

Giáo dục cho các bà mẹ ý thức vệ sinh và cách nuôi dưỡng trẻ ngay từ trước khi được làm mẹ.

Bỏ tập tục lạc hậu như nằm buồng tối nên không phát hiện được sớm bệnh, không dám mở rốn ngay cả khi rốn đã bốc mùi.

Cho con bú sữa mẹ đầy đủ, nhất là tận dụng nguồn sữa non góp phần ngăn ngừa nhiễm khuẩn sau khi sinh, đặc biệt là nhiễm khuẩn đường tiêu hóa và hô hấp.

Khám thai theo định kỳ để phát hiện sớm bệnh, điều trị kịp thời các bệnh nhiễm khuẩn để tránh lây sang con.

*Đối với cán bộ y tế:

Rửa tay trước và sau mỗi lần khám bệnh cho mẹ cũng như cho con là một động tác nhỏ nhưng đóng góp rất lớn vào phòng bệnh nhiễm khuẩn sơ sinh.

Hạn chế thăm âm đạo của các bà mẹ chuyển dạ kéo dài, vỡ ối sớm và phải điều trị ngay các bà mẹ bị nhiễm khuẩn trong thai kỳ mang thai như viêm phần phụ, nhiễm khuẩn tiết niệu.

Chỉ định kháng sinh cho các bà mẹ khi vỡ ối kéo dài trên 12 giờ, sốt trên 38°C trước và trong chuyển dạ.

Chỉ định dùng kháng sinh ở trẻ sơ sinh đặc biệt là trẻ đẻ non khi có nguy cơ bị nhiễm khuẩn như mẹ bị nhiễm khuẩn trước sinh, chuyển dạ kéo dài, vỡ ối sớm, nước ối bẩn…

Đảm bảo vệ sinh buồng bệnh, vô trùng lồng ấp.

Nhân viên y tế bị bệnh nhiễm khuẩn không được tiếp xúc với trẻ sơ sinh.

Cập nhật thông tin mới nhất về kiến thức y học và test y học tại facebook TEST Y HỌC

Tham gia nhóm zalo: Tài Liệu Y Học Tổng Hợp

Ôn thi nội trú, sau đại học TẠI ĐÂY

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Content is protected !!
All in one