Bài 55
NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ
Nuôi con bằng sữa mẹ là niềm hạnh phúc lớn lao của các bà mẹ. Tạo hóa đã ban tặng người mẹ là thứ tài nguyên vô cùng quý giá không gì có thể so sánh được. Nuôi con bằng sữa mẹ cung cấp sự khởi đầu tốt nhất cho cuộc đời của mỗi trẻ và đã trở thành một khẩu trang trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu.
Ở nước ta, nuôi con bằng sữa mẹ trở thành tập quán tốt đẹp và đang được duy trì. Tuy nhiên, hiện nay tập quán này lại gặp rất nhiều thách thức bởi nhiều yếu tố kinh tế – xã hội như sự xuất hiện tràn lan và quảng cáo quá mức các sản phẩm thay thế sữa mẹ trên các phương tiện thông tin đại chúng. Thêm vào đó, sự thiếu hiểu biết và những quan niệm sai lầm của bà mẹ và những thành viên khác trong gia đình về nuôi con bằng sữa mẹ.
Nhiều nghiên cứu trên thế giới và trong nước đã chứng minh nuôi con bằng sữa mẹ không chỉ mang lại lợi ích sức khỏe cho con, cho mẹ mà còn mang lại lợi ích to lớn cho cộng đồng trong việc giảm gánh nặng kinh tế và bệnh tật cho gia đình và xã hội. Sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng hoàn hảo và thích hợp nhất cho trẻ nhỏ mà không loại thức ăn nào có thể thay thế được.
Điều này đã được khẳng định trên tạp chí Lancet (1994): “Nếu có một loại vaccin mới có thể giúp phòng tránh tử vong cho hơn một triệu trẻ em, chi phí thấp, an toàn, có thể uống trực tiếp và không cần bảo quản lạnh, vaccin đó sẽ là một nhu cầu cấp thiết cho sức khỏe cộng đồng. Nuôi con bằng sữa mẹ có thể làm được tất cả những điều này và nhiều hơn thế”.
1. NHỮNG LỢI ÍCH NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ
Sữa mẹ là nguồn thức ăn tốt nhất, phù hợp nhất đối với trẻ, nuôi con bằng sữa mẹ sẽ đảm bảo cho trẻ phát triển tốt về cả thể chất lẫn tinh thần, đồng thời hạn chế được bệnh tật, nhất là các bệnh về đường tiêu hóa, hô hấp mà không một loại sữa nào có thể thay thế và so sánh được.
Sữa mẹ được bài tiết trong vài ngày đầu sau đẻ gọi là sữa non. Sữa non sánh đặc màu vàng nhạt.
Sữa non có nhiều năng lượng, protein và vitamin A, đồng thời lại có nhiều chất kháng khuẩn tăng cường miễn dịch cho trẻ. Sữa non có tác dụng xốp nhẹ giúp cho việc tống phân su nhanh, ngăn chặn vàng da. Sữa non tiết ra tuy ít nhưng chất lượng cao thỏa mãn nhu cầu của trẻ mới đẻ.
Sau giai đoạn sữa non, sữa mẹ chuyển tiếp thành sữa ổn định.
1.1. Sữa mẹ là chất dinh dưỡng hoàn hảo dễ tiêu hóa và hấp thu
Bảng 9.20. Thành phần chính các chất dinh dưỡng trong 100 ml sữa
| Thành phần | Sữa mẹ | Sữa bò |
| Năng lượng (kcal) | 70 | 67 |
| Protein (g) | 1,07 | 3,4 |
| Tỷ lệ casein/protein nước sữa (whey) | 1:1,5 | 10:2 |
| Lipid (g) | 4,2 | 3,9 |
| Lactose (g) | 7,4 | 4,8 |
| Vitamin | ||
| Retinol (mcg) | 60 | 31 |
| β caroten (mcg) | 0 | 19 |
| Vitamin D (mcg) | 0,81 | 0,18 |
| Vitamin C (mg) | 3,80 | 1,5 |
| Thiamin (mg) | 0,02 | 0,04 |
| Riboflavin (mg) | 0,03 | 0,2 |
| Niacin (mg) | 0,62 | 0,89 |
| Vitamin B12 (mg) | 0,01 | 0,31 |
| Acid folic (mcg) | 5,2 | 5,2 |
| Muối khoáng | ||
| Calci (mg) | 35 | 124 |
| Sắt (mg) | 0,08 | 0,05 |
| Đồng (mcg) | 39 | 21 |
| Kẽm (mcg) | 295 | 361 |
1.1.1. Protein
- Protein của sữa mẹ tuy ít hơn sữa bò nhưng có đủ acid amin cần thiết và tỷ lệ cân đối.
- Protein trong sữa mẹ chủ yếu là lactalbumin (là protein có phân tử lượng thấp), chiếm 80% tổng lượng protein trong sữa mẹ, nên khi vào dạ dày sẽ tủa thành các phân tử nhỏ, dễ tiêu hóa. Trái lại protein trong sữa bò chủ yếu là casein, khi vào dạ dày kết tủa thành thể tích lớn khó tiêu hóa.
1.1.2. Lipid
- Sữa mẹ có acid béo cần thiết như acid linoleic, acid linolenic cần thiết cho sự phát triển của não, mắt và sự bền vững của mạch máu của trẻ.
- Lipid của sữa mẹ dễ tiêu hóa hơn vì có men lipase.
1.1.3. Lactose
Trong sữa mẹ có nhiều hơn sữa bò, cung cấp thêm nguồn năng lượng. Một số lactose vào ruột chuyển thành acid lactic giúp cho sự hấp thu calci và muối khoáng.
1.1.4. Vitamin
Sữa mẹ có nhiều vitamin A hơn sữa bò. Trẻ bú sữa mẹ để phòng được bệnh khô mắt do thiếu vitamin A.
1.1.5. Muối khoáng
Calci trong sữa mẹ ít hơn trong sữa bò nhưng dễ hấp thu và thỏa mãn nhu cầu cho trẻ.
Sắt trong sữa mẹ hấp thu cao hơn sữa bò. Do đó trẻ bú sữa mẹ ít bị còi xương và thiếu máu.
1.2. Các chất kháng khuẩn trong sữa mẹ
Một số kháng thể tự nguyên mẹ truyền qua rau đến bào thai đã giúp cho trẻ mới đẻ có sức đề kháng và miễn dịch một số bệnh đặc biệt trong 4–6 tháng đầu trẻ không mắc các bệnh như sởi, cúm, ho gà.
– Sữa mẹ vô khuẩn, sạch sẽ, trẻ bú trực tiếp ngay, vi khuẩn không có điều kiện phát triển trên trẻ bị a chảy.
– Globulin miễn dịch IgA: có nhiều trong sữa non và giảm dần trong những tuần sau. IgA tiết thường không hấp thu mà hoạt động tại ruột để chống lại một số vi khuẩn như E. coli và virus.
– Lactoferrin: là một protein gắn sắt có tác dụng kìm khuẩn không cho vi khuẩn cần sắt để phát triển.
– Lysozym: là một enzym có trong sữa mẹ có tác dụng diệt khuẩn.
– Tế bào, lympho bào sản xuất IgA tiết và Interferon, có tác dụng ức chế hoạt động của một số virus.
Đại thực bào có tính chất thực bào và bài tiết lysozym, lactoferrin. Đại thực bào có thể thực bào Candida và vi khuẩn, đặc biệt vi khuẩn Gram âm (Clostridium, Klebsiella) nhưng vi khuẩn này có thể là nguyên nhân gây viêm ruột hoại tử ở trẻ sơ sinh.
– Yếu tố kích thích sự phát triển vi khuẩn Lactobacillus bifidus.
Lactose: một số lactose vào ruột chuyển thành acid lactic, tạo môi trường cho vi khuẩn Bifidus phát triển, lấn át vi khuẩn gây bệnh như E. coli.
Yếu tố Bifidus: là một carbohydrat có chứa gen cần cho vi khuẩn Lactobacillus vi khuẩn gây bệnh phát triển.
Do đặc tính kháng khuẩn của sữa mẹ nên tỷ lệ mắc bệnh và tử vong ở trẻ bú mẹ thấp hơn trẻ nuôi nhân tạo.
1.3. Sữa mẹ có tác dụng chống dị ứng
Trẻ bú mẹ thường không bị dị ứng, bị eczema như một số trẻ ăn sữa bò vì IgA tiết cùng với đại thực bào có tác dụng chống dị ứng.
1.4. Gắn bó tình cảm mẹ con
Nuôi con bằng sữa mẹ đã giúp cho bà mẹ và trẻ em hình thành mối quan hệ gắn bó yêu thương, trẻ ít quấy khóc. Trẻ bú sữa mẹ thường phát triển trí tuệ thông minh hơn trẻ em ăn sữa bò.
1.5. Bảo vệ sức khỏe cho bà mẹ
- Giúp cho mẹ chậm có thai.
- Trẻ bú sau khi đẻ có tác dụng co hồi tử cung cầm máu cho bà mẹ để phòng chống thiếu máu.
- Giảm nguy cơ ung thư tử cung và ung thư vú ở bà mẹ.
1.6. Chi phí ít hơn trẻ nuôi nhân tạo
Nuôi con bằng sữa mẹ rất thuận lợi không phải đun nấu, dụng cụ pha chế, ít tốn kém, tiết kiệm cho người mẹ về kinh tế và thời gian.
2. SỰ BÀI TIẾT SỮA
Sữa mẹ được bài tiết theo cơ chế phản xạ.

Hình 9.5. Cơ chế bài tiết sữa
Khi trẻ bú, xung đột cảm giác đi từ núm vú lên não tác động lên tuyến yên để sản xuất prolactin và oxytocin.
– Prolactin là nội tiết tố của thùy trước tuyến yên có tác dụng kích thích tế bào bài tiết sữa. Phản xạ này gọi là phản xạ tạo sữa. Prolactin thường sản xuất nhiều vào ban đêm và làm cho bà mẹ thư giãn và buồn ngủ. Vì vậy nên cho trẻ bú đêm. Prolactin còn ngăn cản sự rụng trứng, giúp cho bà mẹ chậm có thai.
– Oxytocin là nội tiết tố của thùy sau tuyến yên có tác dụng làm co các cơ xung quanh tế bào tiết sữa để đẩy sữa từ các nang sữa theo ống dẫn sữa đến các xoang sữa. Phản xạ này gọi là phản xạ phun sữa. Oxytocin có tác dụng co hồi tử cung cầm máu cho bà mẹ sau đẻ.
Phản xạ oxytocin dễ bị ảnh hưởng bởi những ý nghĩ và cảm giác của bà mẹ.
Nếu bà mẹ thấy hài lòng và thương yêu trẻ và tin tưởng sữa mình là tốt thì sẽ hỗ trợ cho phản xạ này. Nhưng nếu bà mẹ lo lắng hoặc nghi ngờ là mình không đủ sữa thì sự hoạt động của phản xạ này bị hạn chế.
3. CHẤT ỨC CHẾ TRONG SỮA MẸ
Sự sản xuất sữa trong vú cũng tự điều chỉnh được. Nếu vú bài tiết nhiều sữa, nhưng nếu cho trẻ bú thì chất ức chế cũng theo ra, vú lại tạo ra nhiều sữa hơn. Vì vậy nếu trẻ không bú được thì phải vắt sữa mẹ để vú tiếp tục sản xuất sữa.
Động tác bú của trẻ là vấn đề quan trọng nhất cho nên phải cho trẻ bú thường xuyên và đúng cách, bú nhiều sẽ tạo nhiều sữa.
4. MỘT SỐ YẾU TỐ HỖ TRỢ CHO SỰ TIẾT SỮA
4.1. Ăn uống
Từ khi mang thai đến lúc đẻ trong vòng 9 tháng, người mẹ có thể tăng cân trung bình 12 kg, 3 tháng đầu tăng 1 kg, 3 tháng giữa tăng 5 kg và 3 tháng cuối tăng 6 kg.
Để bổ sung thức ăn cho người mẹ trong thời gian có thai và cho con bú rất cần thiết để đảm bảo cho thai nhi phát triển bình thường và người mẹ có khả năng tiết nhiều sữa. Vì vậy, người mẹ cần ăn uống bổ dưỡng hơn bình thường.
Ở nước ta khẩu phần bổ sung chủ yếu là gạo, nếu thức ăn không có đủ nguồn protein động vật thịt cá, trứng, sữa thì thay bằng đậu đỗ. Ăn thêm rau xanh và hoa quả chín để cung cấp vitamin A và chất sắt. Một số món ăn cổ truyền như: cháo chân giò, gạo nếp, các bà mẹ thường ăn đều có tác dụng tốt.
Khi cho con bú nên hạn chế ăn các loại gia vị vì gây mùi vị khó chịu, trẻ bú kém. Hàng ngày nên chú ý uống thêm nước, ăn thêm hoa quả, nhất là mùa hè.
4.2. Lao động hợp lý
Trong thời gian có thai và cho con bú người mẹ không nên làm việc quá sức, mệt mỏi dễ thấy, đẻ non. Cần có thời gian nghỉ ngơi trước và sau đẻ thai nhi phát triển và người mẹ có khả năng phục hồi sức khỏe và cho con bú.
4.3. Tinh thần thoải mái
Những bà mẹ sống thoải mái, ít lo lắng, ngủ tốt, tin tưởng mình có đủ sữa thì vú sẽ tiết nhiều sữa.
4.4. Hạn chế dùng thuốc
Khi cho con bú nên hạn chế dùng thuốc vì một số thuốc qua sữa dễ gây ngộ độc cho trẻ. Các thuốc tránh thai có oestrogen, thuốc lợi tiểu nhóm thiazid có thể làm giảm sự tạo sữa.
4.5. Sinh đẻ có kế hoạch
Những bà mẹ đẻ nhiều, đẻ dày, sức khỏe giảm sút đều ảnh hưởng đến khả năng tiết sữa.
5. CÁCH CHO CON BÚ
- Sau đẻ trong vòng nửa giờ người mẹ nên cho con bú ngay, bú càng sớm càng tốt. Bú sớm sẽ kích thích sữa bài tiết sớm và trẻ bú được sữa non.
- Cho trẻ bú theo nhu cầu, từ 8–10 lần/ngày, theo giờ. Ban đêm vẫn phải cho bú.
- Tùy theo tư thế thoải mái của người mẹ có thể nằm hoặc ngồi cho con bú, nhưng phải bế trẻ áp sát vào lòng, đầu và thân trẻ nằm thẳng, bà mẹ đỡ toàn bộ thân trẻ.
- Miệng của trẻ mở rộng, dễ ngậm sâu vào hết quầng đen của vú. Môi dưới hướng ra ngoài. Cằm của trẻ tì vào vú mẹ.
- Thời gian mỗi bữa bú tùy theo từng trẻ. Cho trẻ bú kiệt một bên vú rồi mới chuyển sang vú khác để trẻ nhận được sữa cuối giàu chất béo.
- Cho trẻ bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu.
- Thời gian cho con bú kéo dài trung bình 18–24 tháng. Không nên cai sữa quá sớm hoặc khi chưa đủ thức ăn thay thế hoàn toàn bằng sữa mẹ. Khi trẻ bị bệnh nhất là tiêu chảy nên cai sữa.
- Khi cai sữa thì cai sữa từ từ để trẻ có điều kiện thích nghi với chế độ ăn mới.
- Khi mẹ bị bệnh hoặc trẻ ốm, trẻ dễ thấp cân thì nên vắt sữa cho ăn bằng thìa.

Hình 9.6. Tư thế cho trẻ bú và cách ngậm bắt vú
6. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ VÚ CÓ THỂ GẶP KHI NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ
6.1. Tụt núm vú
Là tình trạng núm vú bị tụt sâu vào trong làm trẻ khó bú, không mút được sữa. Trong trường hợp này khuyến khích người mẹ tiếp tục cho con bú, kéo núm vú trước khi cho trẻ bú. Sau một số lần bú, sức mút của trẻ sẽ kéo được núm vú ra ngoài.
6.2. Đau rát ở núm vú
Núm vú rất nhạy cảm vì được chi phối bởi mạng lưới thần kinh cảm giác phong phú. Khi trẻ ngậm bắt vú sai cách (miệng trẻ chỉ ngậm núm vú) sẽ làm cho tình trạng đau rát tăng lên và có thể dẫn tới sưng tức vú và tiết sữa kém hiệu quả. Trong trường hợp này cần cho trẻ ngậm bắt vú đúng bằng cách ngậm hết quầng đen của vú mẹ.
6.3. Vú cương tức
Có thể xảy ra bất cứ thời điểm nào trong quá trình cho con bú, thường gặp nhất trong tuần đầu sau đẻ hoặc khi cai sữa. Cho bú đúng là cách tốt nhất để hạn chế tình trạng này (trước khi cho trẻ bú cần áp gạc ấm vào vú rồi xoa bóp vú nhẹ nhàng, sau bú cần áp gạc lạnh lên vú để giảm phù nề). Nếu trẻ không bú được, cần vắt sữa bằng tay hoặc sử dụng bơm hút sữa.
6.4. Nứt đầu vú
Là hiện tượng thường gặp do ngậm bắt vú sai. Trong trường hợp này cần khuyến khích bà mẹ tiếp tục cho con bú vì vết nứt này sẽ giúp phục hồi nhanh hơn. Hướng dẫn bà mẹ xoa một chút sữa lên núm vú sau mỗi lần cho con bú vì sữa mẹ đặc tính chống viêm và kháng khuẩn. Cần để khô đầu vú tiếp xúc với không khí.
6.5. Tắc ống dẫn sữa và viêm vú
Là hậu quả của việc ngậm bắt vú sai. Khuyến khích cho trẻ bú thường xuyên, tiếp tục cho trẻ bú vẫn an toàn bởi tính chất kháng khuẩn của sữa mẹ. Xoa bóp vú nhẹ nhàng trong khi cho trẻ bú, đặt gạc ấm lên vú giữa các bữa bú. Nếu việc cho con bú gặp khó khăn cần vắt sữa đổ thìa.

Hình 9.7. Cách vắt sữa bằng tay
Cập nhật thông tin mới nhất về kiến thức y học và test y học tại facebook TEST Y HỌC
Tham gia nhóm zalo: Tài Liệu Y Học Tổng Hợp
Ôn thi nội trú, sau đại học TẠI ĐÂY
