Bài 56
SUY DINH DƯỠNG Ở TRẺ EM
1. DỊCH TỄ HỌC
Hiện nay, suy dinh dưỡng vẫn là vấn đề sức khỏe cộng đồng đáng được quan tâm, đặc biệt ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam.
Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), có khoảng 500 triệu trẻ thiếu dinh dưỡng ở các nước đang phát triển, gây tử vong 10 triệu trẻ/năm.
Tại Việt Nam, trong những năm qua tỷ lệ SDD ở nước ta đã giảm xuống một cách đáng kể. Năm 2000, tỷ lệ SDD ở trẻ em dưới 5 tuổi là 33,8% (thể nhẹ cân) và 36,5% (thể thấp còi) thì tới năm 2015 đã giảm chỉ còn 14,1% (thể nhẹ cân) và 24,6% (thể thấp còi). Như vậy, tỷ lệ SDD thấp còi ở nước ta còn khá cao và vẫn đang là vấn đề dinh dưỡng được quan tâm nhất hiện nay.
Tỷ lệ SDD cũng thay đổi giữa các vùng, miền trên cả nước. Theo số liệu điều tra của Viện Dinh dưỡng (năm 2015) cho thấy: Tỷ lệ SDD thể nhẹ cân cao nhất ở vùng núi Tây Nguyên (21,6%); Trung Du và miền núi Tây Bắc (19,5%); khu vực phía Bắc Trung bộ và Duyên Hải miền Trung (16,1%); Đồng bằng sông Cửu Long (12,2%); Đồng bằng sông Hồng (10,8%) và thấp nhất ở Đông Nam Bộ (9,1%). Tương tự, tỷ lệ SDD thể thấp còi cũng còn khá cao ở vùng núi Tây Nguyên (34,2%) và vùng Đông Nam Bộ (19,3%).
Nhìn chung, tỷ lệ SDD của nước ta đã giảm nhiều so với các năm trước, song vẫn còn khá cao so với các nước trong khu vực.
2. KHÁI NIỆM VỀ TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG
Suy dinh dưỡng: Suy dinh dưỡng (SDD) là tình trạng cơ thể thiếu protein, năng lượng và các vi chất dinh dưỡng. Bệnh hay gặp ở trẻ em dưới 5 tuổi, biểu hiện ở nhiều mức độ khác nhau nhưng ít nhiều ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất, tinh thần và vận động của trẻ.
Suy dinh dưỡng thể nhẹ cân (Underweight): phản ánh tình trạng cân nặng của trẻ không đạt chuẩn theo tuổi. Vì vậy, tình trạng nhẹ cân không cho biết chính xác đây là SDD trong quá khứ hay hiện tại.
Suy dinh dưỡng thể thấp còi (Stunting): phản ánh tình trạng thiếu dinh dưỡng kéo dài hoặc thuộc về quá khứ làm cho đứa trẻ có chiều cao thấp hơn chiều cao đáng lẽ phải có theo tuổi. SDD thể thấp còi thường gặp trong trường hợp thiếu dinh dưỡng kéo dài trong quá khứ.
Suy dinh dưỡng thể gầy còm (Wasting): phản ánh tình trạng thiếu dinh dưỡng cấp tính, làm cho trẻ trông gầy còm hơn thực tế, trong khi chiều cao không thay đổi. SDD thể gầy còm thường gặp trong trường hợp trẻ mắc bệnh nhiễm trùng cấp tính như tiêu chảy, nhiễm trùng hô hấp cấp.
3. NỘI DUNG
3.1. Nguyên nhân và hậu quả của suy dinh dưỡng
3.1.1. Nguyên nhân
Sai lầm về phương pháp nuôi dưỡng:
- Nuôi nhân tạo bằng nước cháo, nước đường, bột loãng (khi mẹ không đủ sữa).
- Cai sữa quá sớm.
- Ăn bổ sung quá sớm hoặc quá muộn.
- Bữa ăn bổ sung không đủ về cả số lượng và chất lượng.
- Kiêng khem khi trẻ bị bệnh: chỉ cho trẻ ăn cháo muối, không cho ăn dầu, mỡ, đặc biệt khi trẻ bị tiêu chảy.
3.1.2. Bệnh lý
– Bệnh nhiễm trùng:
+ Suy dinh dưỡng và nhiễm trùng có mối liên quan cộng đồng. Khi trẻ bị SDD dễ mắc các bệnh nhiễm trùng, nhiễm trùng thứ phát làm tình trạng SDD nặng thêm.
+ Suy dinh dưỡng thường gặp ở những trẻ bị bệnh nhiễm khuẩn (nhiễm khuẩn hô hấp, tiêu chảy kéo dài, sởi,…).
– Bệnh không nhiễm trùng:
+ Bệnh làm tăng nhu cầu chuyển hóa (cường giáp, sau phẫu thuật, chấn thương, bỏng,…).
+ Bệnh làm mất các chất dinh dưỡng qua đường ruột (hội chứng ruột ngắn, hội chứng mất protein qua ruột, rối loạn tiêu hóa, các bệnh thận (hội chứng thận hư, thẩm phân phúc mạc).
+ Các bệnh mạn tính (suy thận mạn, bệnh gan mạn, suy tim nặng,…).
3.2. Các yếu tố thuận lợi
– Trẻ đẻ non, đẻ yếu, suy dinh dưỡng bào thai.
- Trẻ bị dị tật bẩm sinh: sứt môi, hở hàm ếch, tim bẩm sinh,…
- Điều kiện kinh tế khó khăn, gia đình đông con, tập quán nuôi dưỡng lạc hậu, dịch vụ chăm sóc y tế kém.
3.3. Hậu quả của suy dinh dưỡng
Suy dinh dưỡng ảnh hưởng rõ rệt đến phát triển trí tuệ, hành vi, khả năng học tập của trẻ và vóc dáng, chiều cao, khả năng lao động, thu nhập ở tuổi trưởng thành. Gần đây, nhiều bằng chứng cho thấy SDD ở giai đoạn sớm, nhất là thời kỳ bào thai có mối liên hệ với mọi thời kỳ của đời người và kéo dài qua nhiều thế hệ.

Sơ đồ 9.1. Hậu quả của suy dinh dưỡng theo chu kỳ vòng đời

Sơ đồ 9.2. Ảnh hưởng của suy dinh dưỡng đến các cơ quan của cơ thể
4. CÁC CÁCH PHÂN LOẠI SUY DINH DƯỠNG
4.1. Phân loại theo Gomez (1956)
Là phương pháp phân loại được dùng sớm nhất, dựa trên chỉ số cân nặng theo tuổi quy ra % của cân nặng chuẩn.
| Tiêu chuẩn | Mức độ suy dinh dưỡng |
| Từ 70 – 80% của cân nặng chuẩn | Suy dinh dưỡng độ 1 |
| Từ 60 – 70% của cân nặng chuẩn | Suy dinh dưỡng độ 2 |
| Từ dưới 60% của cân nặng chuẩn | Suy dinh dưỡng độ 3 |
Ưu điểm: Cách phân loại này đơn giản.
Nhược điểm: Không phân biệt được suy dinh dưỡng cấp hay suy dinh dưỡng đã lâu.
4.2. Phân loại theo Welcome (1970)
Phân loại này dựa vào cân nặng theo tuổi và triệu chứng phù.
| Cân nặng % so với chuẩn | Phù: Có | Phù: Không |
| 60 – 80% | Kwashiorkor | SDD vừa và nặng |
| Dưới 60% | Marasmus – Kwashiorkor | Marasmus |
Ưu điểm: Phân loại được các thể của suy dinh dưỡng nặng.
Nhược điểm: Không phân biệt được suy dinh dưỡng cấp hay mạn tính.
4.3. Phân loại theo Waterlow (1972)
Phân loại này dựa vào cân nặng theo chiều cao và chiều cao theo tuổi.
| Cân nặng theo chiều cao (80% hay -2SD) | |||
| Trên | Dưới | ||
| Chiều cao theo tuổi (90% hay -2SD) | Trên | Bình thường | SDD gầy còm |
| Dưới | SDD còi cọc | Gầy còm + Còi cọc | |
- Suy dinh dưỡng gầy còm là SDD cấp tính.
- Suy dinh dưỡng còi cọc là biểu hiện SDD trong quá khứ.
- Suy dinh dưỡng gầy mòn + còi cọc: biểu hiện SDD mạn tính.
Ưu điểm: Cho biết được suy dinh dưỡng cấp tính hay mạn tính.
4.4. Phân loại theo WHO (2006)
Phân loại này dựa vào 3 chỉ số: cân nặng, chiều cao và tuổi của trẻ.
- Khi cân nặng/tuổi Z-score < -2: Suy dinh dưỡng thể nhẹ cân.
- Khi chiều cao/tuổi Z-score < -2: Suy dinh dưỡng thể thấp còi.
- Khi cân nặng/chiều cao Z-score < -2: Suy dinh dưỡng thể gầy còm.
5. TRIỆU CHỨNG CỦA CÁC THỂ SUY DINH DƯỠNG
Ở giai đoạn đầu triệu chứng rất nghèo nàn dễ bỏ sót, thường biểu hiện bằng:
- Ngừng tăng cân hoặc sụt cân.
- Lớp mỡ dưới da mỏng dần.
- Da xanh dần.
- Trẻ chậm biết đi, ít hoạt bát.
5.1. Triệu chứng lâm sàng
5.1.1. Suy dinh dưỡng vừa
- Mất lớp mỡ dưới da (bụng, mông, chi).
- Trẻ biếng ăn, rối loạn tiêu hóa từng đợt.
5.1.2. Suy dinh dưỡng nặng
a. SDD thể phù (Kwashiorkor)
– Trẻ bị suy dinh dưỡng do ăn quá nhiều bột (thừa glucid, thiếu lipid và đặc biệt thiếu protid trầm trọng).
– Trẻ có triệu chứng phù: bắt đầu từ mặt và hai chi dưới, sau toàn thân, có thể có phù màng bụng, phù tràn, mềm, ấn lõm. Triệu chứng này lúc đầu thường làm mẹ dễ nhầm là con mình bụ bị cân nặng chưa giảm, vòng cánh tay bình thường, nhưng trẻ này thường kém chơi, rối loạn tiêu hóa hay viêm phổi.
– Rối loạn sắc tố da: xuất hiện những nốt đỏ ở bẹn, mông, chi, hậu môn tập trung thành từng mảng đỏ, thâm đen và bong ra để lại lớp da non, lớp da này dễ bị nhiễm trùng làm da trẻ loang lổ như da rắn. Triệu chứng này thường gặp ở trẻ trai, nên một tác giả người Anh đã đặt tên bệnh là Kwashiorkor (Kwashi: con trai; okor: màu đỏ).
– Lớp mỡ dưới da còn nhưng không chắc.
– Gan thường to, chắc do thoái hóa mỡ, có thể dẫn đến suy gan.
– Chướng bụng, rối loạn tiêu hóa thường xuyên (phân nhầy mỡ). Do thiếu dinh dưỡng, niêm mạc ruột teo dần, mất các men phân, chức năng hấp thu kém, dễ gây rối loạn tiêu hóa, nhu động ruột giảm, dễ gây chướng bụng. Mặt khác, do tụy teo dần và giảm men tiêu hóa cũng làm cho tình trạng rối loạn tiêu hóa nặng thêm.
– Trẻ có dấu hiệu của thiếu vitamin (nhóm A, B, D) và vi chất dinh dưỡng (sắt, kẽm,…).

Hình 9.8. Hình ảnh phù 2 chi dưới

Hình 9.9. Hình ảnh rối loạn sắc tố da
b. SDD thể teo đét (Marasmus)
– Trẻ do bị đói thực sự (thiếu tất cả các chất dinh dưỡng). Để duy trì sự sống trẻ phải huy động glucid, chất béo, sau cùng là đạm của cơ thể nên trẻ mất hết mỡ dưới da (mặt, mông, chi), mất hốc hác, mắt trũng, da khô, nhăn nheo như cụ già.
– Gầy đét, da bọc xương. Dấu hiệu gầy mòn nặng rõ rệt (teo cơ mông, vai, má). Cơ nhẽo ảnh hưởng đến vận động.
– Trẻ có dấu hiệu của thiếu vitamin (nhóm A, B, D) và vi chất dinh dưỡng, nhưng nhẹ hơn thể phù.
– Gan không to. Tình trạng thiếu đạm, thiếu máu, thiếu vitamin K nhẹ hơn thể phù.
– Trẻ ít bị tiêu chảy hay rối loạn tiêu hóa do đó nếu cho trẻ ăn sớm, đầy đủ và giải quyết nguyên nhân thì trẻ nhanh chóng hồi phục hơn.
– Tiên lượng tốt hơn thể phù.
– Cả hai thể đều có nguy cơ bị mắc các bệnh nhiễm trùng.

Hình 9.10. Hình ảnh mất lớp mỡ dưới da

Hình 9.11. Hình ảnh mất nếp lõm mông

Hình 9.12. Hình ảnh suy dinh dưỡng thể Marasmus
c. SDD thể phối hợp
- Trẻ có phù, nhưng cơ thể teo đét.
- Rối loạn tiêu hóa thường xuyên.
- Trẻ có triệu chứng của cả 2 thể trên.
5.2. Cận lâm sàng
5.2.1. Xét nghiệm máu
* Thiếu máu nhược sắc, hồng cầu nhỏ
- Hồng cầu, hemoglobin, hematocrit: giảm.
- Sắt huyết thanh, ferritin: giảm nhiều trong thể Kwashiorkor.
* Thiếu đạm
- Protid máu toàn phần: giảm nhẹ ở trẻ Marasmus, nặng ở thể Kwashiorkor.
- Albumin giảm rõ (Kwashiorkor).
- Tỷ lệ A/G: bình thường (Marasmus), bị đảo ngược (Kwashiorkor).
- Chỉ số White Head (acid amin không cần thiết/acid amin cần thiết): tăng cao ở thể Kwashiorkor (bình thường: 0,8 – 2).
* Rối loạn phân bố nước và điện giải
- Điện giải đồ (K+, Na), HCO₃⁻: thường giảm.
- Đường máu: giảm.
* Thiếu các vitamin, khoáng chất
- Thiếu vitamin tan trong dầu, mỡ: A, D, E, K.
- Thiếu vitamin tan trong nước: acid folic, B12,…
- Thiếu khoáng chất: đồng, kẽm, magie,…
* Thiếu men chuyển hóa: Phosphatase, esterase, amylase, lipase.
* Thiếu các tiền chất nội tiết: Cholinesterase.
* Thay đổi các thành phần acid amin
- Tăng loại không cần thiết: Glycin, alanine,…
- Giảm các loại cần thiết: Tyrosin, lysine, tryptophan, methionine,…
* Tổn thương hệ miễn dịch
- Miễn dịch tế bào: giảm; lympho T: giảm.
- Miễn dịch tại chỗ IgA tại tiết: giảm.
5.2.2. Rối loạn các thành phần khác
- Nước tiểu: có thể có albumin.
- Phân: biểu hiện hội chứng kém hấp thu (cặn dư phân: có thể có tinh bột, sợi cơ, hạt mỡ).
- Dịch tiêu hóa: độ toan giảm, các men tiêu hóa giảm.
- Chức năng gan giảm (đặc biệt trong thể Kwashiorkor).
6. ĐIỀU TRỊ
6.1. Suy dinh dưỡng vừa
- Điều trị tại nhà, tư vấn chế độ ăn và chăm sóc sóc.
- Điều chỉnh chế độ ăn: hướng dẫn chế độ ăn bổ sung theo ô vuông thức ăn. Khuyến khích nuôi con bằng sữa mẹ, cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu và tiếp tục cho trẻ bú kéo dài từ 18 đến 24 tháng.
- Bổ sung vi chất dinh dưỡng.
- Tẩy giun định kỳ.
- Tiêm chủng đầy đủ.
- Phát hiện sớm và phòng các biến chứng để xử trí và kịp thời.
- Theo dõi cân nặng hàng tuần, hàng tháng.
6.2. Suy dinh dưỡng nặng
Quá trình điều trị gồm 10 bước, chia làm 2 giai đoạn: giai đoạn ổn định và giai đoạn hồi phục.

6.2.1. Hạ đường huyết (Glucose máu < 3 mmol/l)
Tất cả trẻ SDD nặng đều có nguy cơ hạ đường huyết, cần được nhập viện ngay. Khi nghi ngờ hạ đường huyết và có thể định lượng nhanh đường huyết thì cần thực hiện ngay lập tức. Nếu không định lượng được, cần coi tất cả bệnh nhân SDD nặng có hạ đường huyết.
– Cho trẻ uống 50 ml glucose 10% (hoặc đường sucrose: 1 thìa cà phê đường và 3,5 thìa canh nước).
– Cho trẻ ăn sớm nhất có thể. Ăn 2 giờ/lần cả ngày và đêm để phòng hạ đường huyết tái phát.
– Nếu trẻ có rối loạn ý thức, cần tiêm tĩnh mạch glucose 10%. Nếu không lấy được đường truyền tĩnh mạch sớm, cần bơm qua sonde dạ dày dung dịch glucose 10% hoặc đường sucrose.
– Điều trị hạ đường máu bằng đường tĩnh mạch: cho 5 ml/kg dung dịch glucose 10% tiêm tĩnh mạch chậm.
| Tuổi và trọng lượng | Lượng dung dịch glucose/lần |
| < 2 tháng (< 4 kg) | 15 ml |
| 2 – < 4 tháng (4 – < 6 kg) | 25 ml |
| 4 – < 12 tháng (6 – < 10 kg) | 40 ml |
| 1 – < 3 tuổi (10 – < 14 kg) | 60 ml |
| 3 – 5 tuổi (14 – < 19 kg) | 80 ml |
– Đo lại đường máu sau 30 phút.
– Nếu glucose < 3 mmol/l hoặc trẻ trở nên lơ mơ, cho lại liều trên một lần nữa.
– Cho kháng sinh thích hợp.
6.2.2. Hạ thân nhiệt (Khi nhiệt độ ở nách < 35°C, nhiệt độ trực tràng < 35,5°C)
Hạ thân nhiệt rất phổ biến ở trẻ suy dinh dưỡng và thường kết hợp với hạ đường huyết và nhiễm trùng nặng. Tất cả trẻ có hạ nhiệt độ, cần điều trị cả hạ đường huyết và nhiễm trùng. Cho ăn thường xuyên là rất quan trọng để phòng hạ thân nhiệt.
- Cho ăn 2 giờ/lần và cho ăn cả đêm.
- Làm ấm cho trẻ: cho trẻ mặc quần áo ấm, đắp chăn ấm. Sử dụng phương pháp Kangaroo.
- Đặt trẻ trong phòng ấm (28-30°C), tránh gió lùa.
- Thay tã lót, quần áo bị ướt. Giữ cho trẻ luôn khô ráo.
- Cần tìm các dấu hiệu hạ đường huyết khi bệnh nhân có hạ nhiệt độ.
6.2.3. Mất nước
Mất nước thường bị chẩn đoán quá mức ở trẻ suy dinh dưỡng nặng. Thực tế, rất khó để chẩn đoán chính xác mức độ mất nước nếu chưa dựa vào triệu chứng lâm sàng. Cần coi tất cả trẻ có tiêu chảy và tiêu ít là có dấu hiệu mất nước.
Không sử dụng đường tĩnh mạch để bù mất nước trừ trường hợp có sốc. Bù nước chậm bằng đường uống hoặc sonde dạ dày. Dung dịch Oresol chuẩn của WHO có nồng độ natri cao, và kali thấp nên không phù hợp cho trẻ SDD nặng. Vì vậy, cần sử dụng dung dịch bù dịch đặc biệt cho trẻ SDD là ReSoMal.
– Bù dung dịch ReSoMal bằng đường uống, hoặc đường sonde dạ dày, bù chậm hơn so với trẻ bình thường:
- 5 ml/kg/30 phút trong 2 giờ đầu.
- Sau đó: 5-10 ml/kg/giờ trong 4-10 giờ tiếp theo xen kẽ với cho ăn.
– Nếu trẻ có sốc, lơ mơ, mất ý thức cần bù dịch bằng đường tĩnh mạch.
- Lắp đường truyền tĩnh mạch (lấy máu làm xét nghiệm cấp cứu).
- Cân trẻ và tính số lượng dịch cần cho.
- Cho dung dịch đường tĩnh mạch: 15 ml/kg/giờ.
- Sử dụng một trong các dung dịch sau (chọn theo thứ tự): Ringer lactat cùng với glucose 5% (dextrose) hoặc Ringer lactat.
| Trọng lượng | Lượng dịch truyền TM
(15 ml/kg/giờ) |
Trọng lượng | Lượng dịch truyền TM
(15 ml/kg/giờ) |
| 4 kg | 60 ml | 12 kg | 180 ml |
| 6 kg | 90 ml | 14 kg | 210 ml |
| 8 kg | 120 ml | 16 kg | 240 ml |
| 10 kg | 150 ml | 18 kg | 270 ml |
Trong quá trình bù dịch cần: đếm mạch, nhịp thở khi bắt đầu truyền và sau đó mỗi 5-10 phút/lần. Trẻ có dấu hiệu cải thiện khi mạch, nhịp thở giảm dần, cần xử trí kịp thời khi trẻ có dấu hiệu quá tải dịch (mạch nhanh, thở nhanh, gan to,…).
- Lắp lại truyền tĩnh mạch 15 ml/kg/giờ, sau đó chuyển sang cho uống hoặc qua sonde dạ dày ORS 10 ml/kg/giờ trong 10 giờ.
- Duy trì dịch truyền tĩnh mạch 4 ml/kg/giờ trong khi chờ máu nếu có chỉ định truyền máu.
- Khi có máu, truyền máu tươi toàn phần 10 ml/kg, cho chảy thật chậm trong 3 giờ (truyền khối hồng cầu nếu có suy tim).
- Bắt đầu cho ăn lại.
Lưu ý:
- Nếu trẻ không cải thiện sau lần truyền tĩnh mạch đầu tiên với 15 ml/kg, có thể xem xét trẻ bị sốc nhiễm khuẩn.
- Nếu tình trạng trẻ xấu đi trong quá trình bù dịch (nhịp thở tăng thêm 5 nhịp/phút hoặc mạch tăng thêm 25 nhịp/phút, ngừng truyền dịch tĩnh mạch mạch cổ to lên làm tăng tình trạng nặng.
6.2.4. Rối loạn điện giải
Tất cả trẻ SDD nặng đều có giảm kali và magie. Trẻ bị phù một phần do giảm kali và tăng giữ natri. Vì vậy, không điều trị phù bằng lợi tiểu, natri toàn phần có thể có thể cao mà natri máu vẫn thấp, nếu bổ sung một lượng natri quá lớn có thể gây nguy hiểm trẻ.
- Bổ sung kali: 3-4 mmol/kg/ngày.
- Bổ sung magie: 0,4-0,6 mmol/kg/ngày.
6.2.5. Nhiễm trùng
Cần coi tất cả trẻ suy dinh dưỡng nặng đều có nhiễm trùng và điều trị kháng sinh ngay lập tức. Hạ đường huyết và hạ nhiệt độ thường gặp trong nhiễm trùng nặng.
Cần cho tất cả trẻ suy dinh dưỡng nặng:
- Kháng sinh phổ rộng.
- Lựa chọn kháng sinh tùy theo vị trí nhiễm khuẩn.
6.2.6. Yếu tố vi lượng
Tất cả trẻ suy dinh dưỡng nặng đều thiếu vitamin và khoáng chất. Không nên bổ sung sắt ngay từ đầu, đặc biệt khi trẻ tăng cân, ăn ngon miệng (thường ở tuần thứ 2). Vì bổ sung sắt sớm có thể làm cho tình trạng nhiễm trùng nặng lên.
– Cho trẻ bổ sung các yếu tố vi lượng mỗi ngày trong ít nhất 2 tuần:
- Acid folic (ngày đầu cho 5 mg, sau đó 1 mg/ngày).
- Kẽm (2 mg/kg/ngày).
- Đồng (0,3 mg/kg/ngày).
- Khi đã tăng cân, cho sulfat sắt (3 mg/kg/ngày).
– Bổ sung vitamin A:
- Trẻ chưa có tổn thương mắt: 1 liều vitamin A (< 6 tháng: 50.000 IU; 6-12 tháng: 100.000 IU; >12 tháng: 200.000 IU).
- Trẻ có tổn thương mắt: 3 liều vitamin A:
Trẻ < 1 tuổi (Ngày đầu: 100.000 IU; ngày hai: 100.000 IU, sau hai tuần: 100.000 IU).
Trẻ > 1 tuổi (Ngày đầu: 200.000 IU; ngày hai: 200.000 IU; sau hai tuần: 200.000 IU).
6.2.7. Bắt đầu cho ăn lại
Trong giai đoạn đầu, cho ăn lại nên được tiến hành từng bước một.
- Tiếp tục cho trẻ bú mẹ nếu trẻ còn bú.
- Cho ăn từ từ, số lượng tăng dần và thường xuyên (mỗi 2-3 giờ). Lựa chọn thức ăn có nồng độ thẩm thấu và lactose thấp.
- Ngày đầu: 75 Kcal/kg/ngày và tăng dần để mức năng lượng đạt cuối tuần đầu là 100 Kcal/kg/ngày.
- Cho ăn qua sonde dạ dày, nếu trẻ ăn < 80% lượng thức ăn trong 2 bữa liên tiếp.
- Dịch: 130 ml/kg/ngày (100 ml/kg/ngày nếu trẻ có phù nặng).
6.2.8. Chế độ dinh dưỡng để bắt kịp tăng trưởng
Ở giai đoạn này trẻ nên được điều trị ngoại trú. Dấu hiệu nhận biết trẻ đã chuyển sang giai đoạn hồi phục là: trẻ có cảm giác ngon miệng, không có dấu hiệu hạ đường huyết, hạ thân nhiệt, phù.
– Tăng lượng thức ăn trẻ ăn vào mỗi lần 10 ml cho đến khi trẻ không ăn hết phần thức ăn của trẻ. Sau giai đoạn chuyển tiếp, cần cho trẻ ăn thường xuyên với số lượng 150-200 Kcal/kg/ngày.
– Bắt đầu với lượng nhỏ nhưng đều đặn, khuyến khích trẻ ăn thường xuyên hơn, ban đầu 8 bữa/ngày, sau đó 5-6 bữa/ngày. Nếu trẻ còn bú mẹ cần cho bú trước khi ăn. Khuyến khích trẻ ăn, không ép ăn.
– Sau khi trẻ chuyển chế độ ăn, cần theo dõi cân nặng của trẻ mỗi 3 ngày liên tục. Sự tăng cân của trẻ được nhận định:
- Tăng cân kém: < 5g/kg/ngày. Trẻ cần được đánh giá lại toàn diện.
- Tăng cân trung bình: 5-10g/kg/ngày. Cần xác định xem trẻ có biểu hiện nhiễm trùng không, lượng thức ăn trẻ ăn có đủ không.
- Tăng cân tốt: > 10g/kg/ngày.
6.2.9. Kích thích các giác quan
- Chăm sóc trẻ với tình yêu thương.
- Tạo môi trường vui vẻ cho trẻ.
- Tạo điều kiện cho cha mẹ chăm sóc trẻ.
- Lựa chọn đồ chơi và các hoạt động phù hợp với lứa tuổi của trẻ.
6.2.10. Theo dõi lâu dài
- Khi trẻ ra viện điều trị ngoại trú, cần có kế hoạch theo dõi cho đến khi trẻ hồi phục hoàn toàn.
- Sau khi ra viện, trẻ vẫn cần được theo dõi cân nặng hàng tuần.
- Nếu trẻ không tăng cân sau 2 tuần hoặc sụt cân hoặc trẻ mất cảm giác ngon miệng hoặc có phù, trẻ cần được nhập viện.
- Khám lại sau 1 tuần đến 1 tháng/lần.
6.3. Suy dinh dưỡng cấp nặng (ở trẻ dưới 6 tháng)
Suy dinh dưỡng cấp nặng ít gặp ở trẻ dưới 6 tháng tuổi so với trẻ lớn. Tuy nhiên, trẻ SDD nặng ở trẻ dưới 6 tháng tuổi cần nhập viện khi có các biến chứng sau:
- Các dấu hiệu nguy hiểm toàn thân hoặc các biểu hiện lâm sàng nặng như ở trẻ trên 6 tháng tuổi.
- Cân nặng giảm hoặc không tăng cân.
- Bú mẹ không hiệu quả (quan sát trực tiếp trong 15-20 phút).
- Phù 2 chân.
- Không có người hoặc không có điều kiện chăm sóc.
Cần thực hiện:
- Cho trẻ nhập viện.
- Cho kháng sinh đường tĩnh mạch.
- Cho trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn. Nếu không thể, có thể cho trẻ ăn sữa công thức, nhưng phải đảm bảo vệ sinh.
- Trong giai đoạn hồi phục, có thể áp dụng những nguyên tắc cơ bản như cho trẻ lớn.
7. PHÒNG BỆNH
7.1. Đối với bà mẹ
- Chăm sóc trẻ từ trong bụng mẹ (Chăm sóc cho bà mẹ trước và sau sinh).
- Từ khi có thai đến lúc đẻ bà mẹ phải có chế độ ăn đặc biệt để tăng cân trung bình từ 10 – 12 kg (trong đó 7 kg sử dụng cho thai phát triển và 5 kg dự trữ cho sự tiết sữa).
- Bà mẹ cần đi khám thai và theo dõi cân nặng quý để bổ sung dinh dưỡng kịp thời tránh trầm cho trẻ khỏi bị suy dinh dưỡng từ trong bào thai.
- Giáo dục, hướng dẫn cho bà mẹ hiểu được lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ và việc cho trẻ ăn bổ sung đúng cách.
- Tiêm chủng đầy đủ theo lịch, theo dõi tăng trưởng của trẻ. Để phát hiện sớm suy dinh dưỡng cần theo dõi cân nặng của trẻ (<1 tuổi: cân trẻ mỗi tháng/1 lần; 2–5 tuổi: cân trẻ mỗi 2–3 tháng/1 lần). Nếu cân nặng không tăng hoặc giảm là báo hiệu suy dinh dưỡng.
- Hướng dẫn cách phát hiện các biến chứng của bệnh (đặc biệt các dấu hiệu nhiễm trùng, hạ đường huyết).
7.2. Đối với cán bộ y tế cơ sở
- Phát hiện, xử trí các biến chứng của bệnh.
- Lồng ghép các chương trình quốc gia khác.
7.3. Đối với bệnh viện
- Thực hiện cấp cứu trẻ bị suy dinh dưỡng.
- Hướng dẫn cha mẹ phục hồi dinh dưỡng cho trẻ sau khi xuất viện.
Cập nhật thông tin mới nhất về kiến thức y học và test y học tại facebook TEST Y HỌC
Tham gia nhóm zalo: Tài Liệu Y Học Tổng Hợp
Ôn thi nội trú, sau đại học TẠI ĐÂY
