CHƯƠNG I. BÀI 10:
TÂM PHẾ MẠN
MỤC TIÊU
|
1. ĐẠI CƯƠNG VÀ ĐỊNH NGHĨA
Tâm phế mạn có định nghĩa giải phẫu, đó là trường hợp phì đại và giãn tâm thất phải thứ phát do tăng áp lực động mạch phổi, gây nên bởi những bệnh làm tổn thương chức năng hoặc cấu trúc của phổi như: bệnh phế quản, phổi, mạch máu, thần kinh và xương lồng ngực. Loại trừ những trường hợp tăng áp lực động mạch phổi do bệnh tim trái (hẹp 2 lá), bệnh tim bẩm sinh, tăng áp động mạch phổi tiên phát.
Áp lực động mạch phổi trung bình ở lúc nằm nghỉ của người dưới 50 tuổi < 15 mmHg, tăng thêm 0,1 mmHg mỗi năm. Gọi là tăng áp lực động mạch phổi (TALĐMP) khi áp lực động mạch phổi trung bình > 20 mmHg lúc nằm nghỉ và > 30 mmHg khi gắng sức ở người dưới 50 tuổi.
Tâm phế mạn đã được nghiên cứu từ lâu. Từ năm 1949 Sénéc đã chú ý đến bệnh đường hô hấp gây ảnh hưởng đến tuần hoàn phổi, phì đại tâm thất phải và tử vong do mất thời kỳ tâm thu. Traude (1878) mô tả trường hợp phì đại thất phải trên bệnh nhân gù – vẹo cột sống.
Laennec (1826) lần đầu tiên mô tả bệnh giãn phế nang dẫn đến giãn tim phải, thất phải và mỏm tim đập ở vùng thượng vị mà ngày nay người ta gọi là dấu hiệu Harzer. Ayerza (1901) mô tả một trường hợp có tím, tăng hồng cầu và suy tim phải, khi mô tả thì thấy giãn phế quản.
Laubry và Chaperon đã chứng minh tăng áp lực động mạch phổi bằng thông tim. White (1931) đã phân biệt được tâm phế mạn do tăng áp lực động mạch phổi bởi những bệnh phổi lan rộng có cả 2 bên, ngoài ra do suy thông khí phổi và suy trung tâm hô hấp, đa hồng cầu, thiếu oxy máu, tăng cung lượng tim đều dẫn đến phì đại thất phải. Ở Việt Nam, Ngô Quý Châu thống kê tại Khoa Hô hấp – Bệnh viện Bạch Mai từ 1996-2000 thấy 15,7% bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn tính có biến chứng tâm phế mạn.
2. NGUYÊN NHÂN
2.1. Bệnh tiên phát của đường hô hấp và phế nang
– Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có giãn phế nang hoặc không giãn phế nang.
– Hen phế quản.
– Giãn phế nang không do viêm phế quản mạn tính và hen phế quản.
– Xơ phổi và giãn phế nang hoặc không giãn phế nang do hậu quả của:
- Lao xơ phổi.
- Bệnh bụi phổi.
- Giãn phế quản.
- Bệnh viêm phổi khác.
- Bệnh xơ hóa kén.
– Bệnh u hạt thâm nhiễm phổi.
- Sarcoidose (Bệnh Bernier – Boeck – Schaumann) bệnh của hệ thống liên võng nội mạc.
- Bệnh xơ phổi kẽ lan toả.
- Bệnh Berylliose (nhiễm Berili phổi).
- Bệnh u hạt có tế bào bạc cầu ái toan (bệnh của xương sọ, xương hàm và xương dài).
- Bệnh thâm nhiễm phổi ác tính.
- Bệnh xơ cứng bì.
- Bệnh Lupus ban đỏ rải rác.
- Bệnh viêm da và cơ.
- Bệnh vi sỏi phế nang.
– Phẫu thuật cắt bỏ phổi.
– Bệnh kén phổi tiên phát, thoái hóa phổi.
– Bệnh thiếu oxy ở độ cao.
2.2. Bệnh tiên phát làm tổn thương đến bộ phận cơ học của hệ hô hấp
– Gù vẹo cột sống và dị dạng lồng ngực.
– Cắt bớt xương sườn.
– Dày dính màng phổi nặng.
– Bệnh nhược cơ.
– Bệnh béo phì và giảm thông khí phế nang.
– Bệnh giảm thông khí phế nang không rõ nguyên nhân.
2.3. Bệnh tiên phát làm tổn thương mạch máu phổi
2.3.1. Bệnh thành mạch
– Tăng áp lực động mạch phổi tiên phát.
– Viêm nút quanh động mạch.
– Viêm động mạch khác.
2.3.2. Viêm tắc mạch
– Tắc mạch phổi tiên phát.
– Tắc mạch phổi trong bệnh thiếu máu hình lưỡi liềm.
2.3.3. Nghẽn mạch
– Nghẽn mạch do cục máu đông ngoài phổi.
– Nghẽn mạch do sán máng (Schistosomiasis).
– Nghẽn mạch ác tính.
– Nghẽn mạch khác.
2.3.4. Tăng áp lực động mạch phổi
Do chèn ép bởi u trung thất, phình quai động mạch chủ, tổ chức xơ, u hạt.
Phân loại theo sự thay đổi chức năng hô hấp:
Theo sự thay đổi chức năng hô hấp người ta xếp thành 4 nhóm như sau:
– Nhóm 1: rối loạn thông khí phế nang và phân bố khí – máu trong phổi.
– Nhóm 2: rối loạn khuếch tán khí.
– Nhóm 3: rối loạn tuần hoàn phổi.
– Nhóm 4: tổn thương phối hợp cả nhóm 1 và nhóm 3.
Ở Việt Nam, Đặng Văn Chung thấy những nguyên nhân gây tâm phế mạn hay gặp bao gồm:
– Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và hen phế quản: 76,5%
– Lao xơ phổi: 15,5%
– Giãn phế quản: 13%
– Viêm phế quản mạn tính đơn thuần: 12%
– Dị dạng lồng ngực: 4%
3. CƠ CHẾ SINH BỆNH
Cơ chế sinh bệnh của tâm phế mạn rất phức tạp vì bệnh do nhiều nguyên nhân gây nên, mỗi nguyên nhân có cơ chế sinh bệnh phần nào khác nhau, nhưng nhiều tác giả đều thống nhất cơ chế sinh bệnh của tâm phế mạn là do tăng áp lực động mạch phổi.
3.1. Cơ chế tăng áp lực động mạch phổi
3.1.1. Cơ chế co thắt mạch máu phổi
Rối loạn thông khí phổi với hậu quả suy hô hấp từng phần gây thiếu oxy phế nang, thiếu oxy máu, thiếu oxy tổ chức, dẫn đến toan chuyển hóa, suy hô hấp toàn phần làm ứ trệ CO₂ gây toan hô hấp. Thiếu oxy phế nang, thiếu oxy tổ chức gây co thắt động mạch phổi và toan máu làm tăng co thắt động mạch phổi.
Sự co thắt động mạch phổi và co thắt mao mạch phổi làm tăng áp lực động mạch phổi dẫn đến phì đại buồng thất phải và cuối cùng suy tim phải. Shunt phổi gồm có Shunt giải phẫu tức là máu đi từ động mạch phổi, sang tĩnh mạch phổi không tiếp xúc với phế nang. Shunt sinh lý do tắc phế quản nên máu không được trao đổi oxy cuối cùng máu về tim trái giảm bão hòa oxy.
Sự co thắt động mạch phổi, tăng hồng cầu, tăng thể tích, tăng lưu lượng tim, làm tăng áp lực động mạch phổi dần dần gây phì đại thất phải, thất phải giãn và cuối cùng suy thất phải.

