CHƯƠNG II. BÀI 3:
TĂNG HUYẾT ÁP
MỤC TIÊU
|
1. DỊCH TỄ HỌC
Tăng huyết áp (THA) rất thường gặp ở người trưởng thành và là yếu tố hàng đầu trong mười yếu tố nguy cơ của các bệnh không lây nhiễm gây tử vong ở các nước đã và đang phát triển. THA rất phổ biến ở Việt Nam: tỷ lệ hiện mắc ở người trưởng thành (≥ 25 tuổi) năm 2008 ở Việt Nam ước tính khoảng 25,1%. THA ngày càng gia tăng: trong những năm cuối thập kỷ 80, tỷ lệ hiện mắc THA ở người lớn là khoảng 11%, năm 2001-2002 tỷ lệ THA ở Hà Nội là khoảng 23% và tỷ lệ hiện mắc THA ở Việt Nam hiện tại (2012 – 2013) ước đạt 33-35%. Tính trung bình trong giai đoạn 2000-2009, số đo huyết áp trung bình trong quần thể người trưởng thành hàng năm tăng khoảng 1 mmHg huyết áp tâm thu (HATT) và 0,4 mmHg huyết áp tâm trương (HATTr) khiến tỷ lệ hiện mắc THA trong quần thể tăng gần 1%/năm. Mặc dù tỷ lệ biết về THA, được điều trị THA và được kiểm soát THA ngày càng được nâng cao, ước tính có tới 1/3 dân số Việt Nam có tăng huyết áp, trong số người có THA, chỉ có 1/3 người bệnh được điều trị và trong số người được điều trị THA, chỉ có 1/3 số bệnh nhân kiểm soát được THA bằng thuốc. Tăng huyết áp không được điều trị và kiểm soát tốt sẽ dẫn đến những nguy cơ quan dịch và gây các biến chứng nguy hiểm như tai biến mạch não, nhồi máu cơ tim, phình tách thành động mạch chủ, suy tim, suy thận thậm chí dẫn đến tử vong. THA nguy hiểm bởi vì các biến chứng của THA không chỉ có thể gây chết người mà còn để lại những di chứng nặng nề ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân và là gánh nặng cho chính người bệnh, cho gia đình họ và cho cả xã hội.
Tăng huyết áp một yếu tố nguy cơ tim mạch quan trọng của các biến cố tim mạch chính như NMCT và TBMMN. Trong 9 – 10 yếu tố nguy cơ chi phối 90% nguy cơ của hai biến cố này (như tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, béo phì, hút thuốc lá), tăng huyết áp thường có xu hướng đi cùng với các yếu tố nguy cơ tim mạch khác, tăng dần về số lượng theo tuổi khiến cho nguy cơ tim mạch tổng thể ngày càng gia tăng và đòi hỏi chiến lược tiếp cận toàn diện kiểm soát cả các yếu tố nguy cơ khác khi điều trị tăng huyết áp. Theo thời gian, liên tục có những thay đổi cập nhật trong quan niệm về THA, chiến lược phòng ngừa cũng như phương thức điều trị. Bên cạnh những tiến bộ về bệnh học, giáo dục truyền thông sức khỏe đến nâng cao nhận thức về THA và các yếu tố nguy cơ tim mạch làm thay đổi rõ rệt tiến triển cũng như tiên lượng gần và xa của THA.
2. ĐỊNH NGHĨA
Tăng huyết áp là khi huyết áp tâm thu (HATT) ≥ 140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương (HATTr) ≥ 90 mmHg hoặc khi đang được điều trị bằng một thuốc hạ huyết áp.
Tăng huyết áp tâm thu đơn độc là khi HATT ≥ 140 mmHg và HATTr < 90 mmHg. Mức độ chênh lệch HA giữa tâm thu-tâm trương và số đo của HATT giúp dự báo nguy cơ và lựa chọn chiến lược điều trị cho THA tâm thu đơn độc. Tăng huyết áp tâm trương đơn độc là khi HATT < 140 mmHg và HATTr ≥ 90 mmHg.
Tăng huyết áp “áo choàng trắng” là khi HA thường xuyên tăng tại bệnh viện hoặc phòng khám trong khi HA đo bằng máy tại nhà hoặc HA trung bình khi đo 24 giờ lại bình thường. Tỷ lệ hiện mắc THA “áo choàng trắng” là 10-30%, chiếm một tỷ lệ không ít ở những người THA. THA áo choàng trắng tăng theo tuổi và tỷ lệ này giảm đi < 10% đối với người THA độ 2, độ 3 khi đo tại phòng khám. Tăng huyết áp áo choàng trắng có thể là khởi đầu của THA thực sự nhưng không làm tăng nguy cơ tim mạch tổng thể. Cần nghi ngờ THA “áo choàng trắng” khi đo HA tại phòng khám thấy tăng (≥ 140/90 mmHg) hoặc kháng trị trong khi không có tổn thương cơ quan đích do THA và huyết áp trung bình đo trên theo dõi huyết áp 24 giờ < 130/80 mmHg.
Tăng huyết áp “ẩn” ít gặp hơn và khó phát hiện hơn THA “áo choàng trắng”, là tình trạng trái ngược lại: HA đo bình thường tại phòng khám nhưng cao khi đo bằng các phương pháp khác như đo HA 24 giờ hoặc tại nhà. Nhóm bệnh nhân này thường có tổn thương cơ quan đích và nguy cơ tim mạch tương tự như những đối tượng có THA khác.
3. NGUYÊN NHÂN
Bảng 2.3. Nguyên nhân gây THA thứ phát
| Các bệnh về thận |
|
| Các bệnh nội tiết |
|
| Các bệnh hệ tim mạch |
|
| Do dùng một số thuốc |
|
| Nguyên nhân khác |
|
Phần lớn THA ở người trưởng thành không rõ nguyên nhân (THA nguyên phát hay THA tiên phát), chỉ có khoảng 10% các trường hợp là có nguyên nhân (THA thứ phát, xem Bảng 2.3).
THA thứ phát hay THA có căn nguyên cần được chú ý nhất trong các trường hợp sau:
- THA ở tuổi trẻ < 30 hoặc lớn tuổi > 60.
- THA khó khống chế bằng thuốc.
- THA tiến triển nhanh hoặc THA ác tính.
- Có biểu hiện bệnh lý cơ quan khác mà có thể là nguyên nhân của THA.
4. CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ VÀ TỔN THƯƠNG CƠ QUAN ĐÍCH Ở BỆNH NHÂN TĂNG HUYẾT ÁP
4.1. Các yếu tố nguy cơ
| Các yếu tố nguy cơ tim mạch | |
|---|---|
| – Tăng huyết áp. | – Ít hoạt động thể lực |
| – Rối loạn lipid máu. | – Chế độ ăn không phù hợp: quá nhiều muối, ít rau quả, nhiều chất béo. |
| – Đái tháo đường. | – Thừa cân/béo phì; béo bụng. |
| – Có microalbumin niệu hoặc mức lọc cầu thận ước tính < 60 ml/ph. | – Hút thuốc lá, thuốc lào. |
| – Tuổi > 55. | – Stress và căng thẳng tâm lý. |
| – Giới nam hoặc nữ đã mãn kinh | – Không dùng ngạp với điều trị kéo dài. |
| – Tiền sử gia đình mắc bệnh tim mạch sớm (nam trước 55, nữ trước 65 tuổi). | – Uống nhiều rượu, bia. |
4.2. Biến chứng của THA hay tổn thương cơ quan đích
Biến chứng của tăng huyết áp hoặc tổn thương cơ quan đích do THA
- Đột quỵ não (thiếu máu não, xuất huyết não, chảy máu khoang dưới nhện), thiếu máu não thoáng qua.
- Sa sút trí tuệ.
- Phì đại thất trái (trên điện tâm đồ hay siêu âm tim), suy tim, phù phổi cấp.
- Nhồi máu cơ tim, cơn đau thắt ngực.
- Bệnh mạch máu ngoại vi, phình lóc tách thành động mạch chủ.
- Xuất huyết hoặc xuất tiết võng mạc, phù gai thị.
- Protein niệu, tăng creatinin huyết thanh, suy thận mạn.
5. CHẨN ĐOÁN VÀ PHÂN TẦNG NGUY CƠ TĂNG HUYẾT ÁP
5.1. Chẩn đoán xác định THA
Chẩn đoán xác định THA: rất đơn giản, chỉ cần đo HA theo quy trình trong bảng sau:
Quy trình đo huyết áp chuẩn:
- Nghỉ ngơi trong phòng yên tĩnh ít nhất 5-10 phút trước khi đo huyết áp.
- Không dùng chất kích thích (cà phê, hút thuốc, rượu bia) trước đó 2 giờ.
- Tư thế đo chuẩn: người được đo huyết áp ngồi ghế có tựa, cánh tay duỗi thẳng trên bàn, nếp khuỷu ngang mức với tim. Ngoài ra, có thể đo ở các tư thế nằm, đứng. Đối với người cao tuổi hoặc có bệnh đái tháo đường, nên đo thêm huyết áp tư thế đứng nhằm xác định có hạ huyết áp tư thế hay không.
- Sử dụng huyết áp kế thủy ngân, huyết áp kế đồng hồ hoặc huyết áp kế điện tử (loại đo ở cánh tay). Các thiết bị đo cần được kiểm chuẩn định kỳ. Bề dài bao đo (nằm trong băng quấn) tối thiểu bằng 80% chu vi cánh tay, bề rộng tối thiểu bằng 40% chu vi cánh tay. Quấn băng quấn đủ chặt, bờ dưới của bao đo ở trên nếp lằn khuỷu 2 cm. Đặt máy ở vị trí để đảm bảo máy hoặc mốc 0 của thang đo ngang mức với tim.
- Nếu không dùng thiết bị đo tự động, trước khi đo phải xác định vị trí động mạch cánh tay để đặt ống nghe. Bơm hơi thêm 30 mmHg sau khi không còn thấy mạch đập. Xả hơi với tốc độ 2-3 mmHg/nhịp đập. Huyết áp tâm thu tương ứng với lúc xuất hiện tiếng đập đầu tiên (pha I của Korotkoff) và huyết áp tâm trương tương ứng với khi mất hẳn tiếng đập (pha V của Korotkoff).
- Không nói chuyện khi đang đo huyết áp. Không bắt chéo chân.
- Lần đo đầu tiên, cần đo huyết áp ở cả hai cánh tay, tay nào có con số huyết áp cao hơn sẽ dùng để theo dõi huyết áp về sau.
- Nên đo huyết áp ít nhất hai lần, mỗi lần cách nhau ít nhất 1-2 phút. Nếu số đo huyết áp giữa 2 lần đo chênh nhau trên 10 mmHg, cần đo lại một vài lần sau khi đã nghỉ trên 5 phút. Giá trị huyết áp ghi nhận là trung bình của hai lần đo cuối cùng.
- Trường hợp nghi ngờ, có thể theo dõi huyết áp bằng máy đo tự động tại nhà hoặc bằng máy đo huyết áp tự động 24 giờ (Holter huyết áp).
- Ghi lại số đo theo đơn vị mmHg dưới dạng HA tâm thu/HA tâm trương (ví dụ 126/82 mmHg), không làm tròn số quá hàng đơn vị và thông báo kết quả cho người được đo.
Các phương pháp đo huyết áp khác:
- Tự đo/theo dõi huyết áp tại nhà: để tránh phải đến cơ sở y tế nhiều lần, vừa làm chính xác hơn, giúp theo dõi điều trị tốt hơn, tránh hiện tượng THA “áo choàng trắng”, thúc đẩy người bệnh tham gia tích cực hơn trong việc điều trị lâu dài của THA, nhờ đó tăng dung nạp với điều trị.
- Đo huyết áp liên tục (Holter huyết áp) 24 giờ: không dùng để áp dụng thường quy, có ích trong một số trường hợp như nghi ngờ bệnh nhân có THA “áo choàng trắng”, THA cơn, THA kháng trị, tụt HA do dùng một số thuốc hạ HA.
- Nếu tiến hành đo huyết áp tại nhà để chẩn đoán THA, nên đo HA trong khoảng 1-2 tuần, ít nhất 2 lần/ngày (trong đó có 1 lần đo buổi sáng khi ngủ dậy trên giường), mỗi lần đo 3 lần (bỏ lần đầu, lấy trung bình hai lần sau), bằng các dụng cụ đo huyết áp tự động dùng băng cuốn ở cánh tay. Nếu đo tại nhà để theo dõi điều trị, có thể đo thường xuyên hơn, 1-2 lần/ngày, song người bệnh cần được giải thích và tư vấn đầy đủ, tránh đo quá nhiều lần có thể làm người bệnh lo lắng không cần thiết. Theo dõi huyết áp tự động bằng máy trong 24 giờ nên được áp dụng để đánh giá hiệu quả điều trị, phát hiện những trường hợp nguy cơ cao (HA dao động nhiều, không có trũng HA về đêm), cũng như để xác định chắc chắn THA kháng trị (loại trừ tác động của “áo choàng trắng”).
5.2. Phân độ THA
Dựa vào giá trị huyết áp đo được theo quy trình. Chẩn đoán THA theo các cách đo HA khác nhau (Bảng 2.4):
Bảng 2.4. Chẩn đoán THA theo các cách đo huyết áp khác nhau
| HA tâm thu | HA tâm trương | ||
|---|---|---|---|
| 1. Cán bộ y tế đo theo đúng quy trình | 140 mmHg | và/hoặc | 90 mmHg |
| 2. Đo bằng máy đo HA tự động 24 giờ HA trung bình ban ngày (khi thức) HA trung bình ban đêm (khi ngủ) |
130 mmHg 135 mmHg 120 mmHg |
80 mmHg | |
| 85 mmHg | |||
| 70 mmHg | |||
| 3. Tự đo tại nhà (đo nhiều lần) | 135 mmHg | 85 mmHg | |
| Phân độ huyết áp | |||
| Phân độ huyết áp | HA tâm thu (mmHg) | HA tâm trương (mmHg) | |
| Huyết áp tối ưu | < 120 | và | < 80 |
| Huyết áp bình thường | 120 – 129 130 – 139 |
và/hoặc | 80 – 84 85 – 89 |
| Tiền tăng huyết áp | |||
| Tăng huyết áp độ 1 | 140 – 159 160 – 179 ≥ 180 |
và/hoặc | 90 – 99 100 – 109 ≥ 110 |
| Tăng huyết áp độ 2 | |||
| Tăng huyết áp độ 3 | |||
5.3. Phân tầng nguy cơ tim mạch
Thăm khám và đánh giá một bệnh nhân THA nhằm vào 3 mục đích:
- Tìm kiếm nguyên nhân gây THA (nếu có).
- Đánh giá các biến chứng và tổn thương cơ quan đích.
- Đánh giá toàn diện tổng thể các yếu tố nguy cơ tim mạch hoặc các rối loạn khác để có thái độ điều trị đúng mức và tiên lượng bệnh.
Bảng 2.5. Phân tầng nguy cơ tim mạch
(Phân tầng nguy cơ theo độ tăng huyết áp)

Dựa vào phân độ huyết áp, số lượng các yếu tố nguy cơ tim mạch (YTNCTM) và biến cố tim mạch để có chiến lược quản lý, theo dõi và điều trị lâu dài.
Bảng 2.6. Thái độ và chiến lược điều trị THA
(Chiến lược điều trị theo độ tăng huyết áp)

6. ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP
6.1. Mục tiêu và nguyên tắc điều trị
– THA là bệnh mạn tính, thường huyết áp sẽ tăng dần theo tuổi, nên cần theo dõi đều, điều trị đúng và đủ hàng ngày, điều trị lâu dài và cần điều chỉnh liều định kỳ.
– Mục tiêu điều trị là đạt “huyết áp mục tiêu” và giảm tối đa “nguy cơ tổn thương cơ quan đích” như tim, não, thận, mắt và động mạch ngoại vi nhằm ngăn ngừa các biến chứng lâu dài ở các cơ quan đích, trong đó quan trọng nhất là giảm tối đa “nguy cơ tim mạch tổng thể”, ưu tiên lựa chọn các phương thức điều trị có bằng chứng rõ giảm tối đa cả hai đại lượng cơ tim mạch. Mục tiêu điều trị cần được cá thể hóa dựa vào lợi ích trước mắt, lợi ích lâu dài, các tác dụng phụ và đánh giá điều trị dài hạn trên cơ sở đánh giá toàn diện huyết áp, các yếu tố nguy cơ tim mạch, tổn thương cơ quan đích và các bệnh lý mạn tính kèm theo.
– “Huyết áp mục tiêu” cần đạt là <140/90 mmHg và thấp hơn nữa nếu người bệnh vẫn dung nạp được. Huyết áp mục tiêu có thể thấp hơn 130/80 mmHg đối với những người có protein niệu, có đái tháo đường hoặc đã có tiền sử tai biến mạch não từ trước. Đối với người cao tuổi (đặc biệt >80 tuổi), mức huyết áp mục tiêu có thể giữ ở mức 150/90 mmHg. Tránh hạ huyết áp quá mức, tránh hạ huyết áp tâm trương <60 mmHg ở người có bệnh mạch vành. Khi điều trị đã đạt huyết áp mục tiêu, cần tiếp tục duy trì phác đồ điều trị lâu dài kèm theo việc theo dõi chặt chẽ định kỳ để điều chỉnh kịp thời.
– Nên khởi trị huyết áp sớm, tích cực và nhanh chóng đạt huyết áp mục tiêu để giảm thiểu tổn thương cơ quan đích và hạn chế các biến cố tim mạch lâu dài. Tuy nhiên, không nên hạ huyết áp quá nhanh để tránh biến chứng thiếu máu cấp ở các cơ quan đích, trừ tình huống cấp cứu.
– Tăng huyết áp thường đi thành chùm cùng các yếu tố nguy cơ tim mạch chính khác, do vậy cần sàng lọc kỹ, theo dõi để phát hiện sớm, kiểm soát đồng thời (nếu có) các yếu tố nguy cơ tim mạch khác (như rối loạn lipid máu, đái tháo đường…) nhằm giảm thiểu các tổn thương trên cơ quan đích.
– Nếu cần dùng đồng thời ≥2 loại thuốc để đạt huyết áp mục tiêu thì ưu tiên dùng các loại thuốc hạ huyết áp phối hợp với liều cố định để tăng tuân thủ điều trị.
– Chú ý tuyên truyền về đích huyết áp cần đạt, diễn tiến tăng dần của huyết áp, các biến cố cơ quan đích cần phòng ngừa, tầm quan trọng của việc kiểm soát tốt huyết áp và các yếu tố nguy cơ tim mạch kèm theo… để người bệnh tuân thủ tốt việc thay đổi lối sống kết hợp với điều trị lâu dài bằng thuốc hạ huyết áp, trong đó cần nhấn mạnh:
- Điều trị THA là một điều trị suốt đời, mục đích chính là phòng bệnh (phòng biến cố ở cơ quan đích).
- Triệu chứng cơ năng của THA không phải lúc nào cũng gặp và không tương xứng với mức độ nặng nhẹ của THA.
- Chỉ có thay đổi tích cực lối sống kèm theo tuân thủ chặt chẽ chế độ điều trị THA thích hợp cùng với việc kiểm soát chặt chẽ các YTNCTM mới giảm được đáng kể các biến cố ở cơ quan đích do THA.
- Huyết áp và các yếu tố nguy cơ tim mạch khác luôn tiến triển theo tuổi, vì thế theo dõi đều đặn định kỳ (hàng tháng, hàng quý, hàng năm). Việc đánh giá tiến triển của các yếu tố nguy cơ tim mạch kèm theo cũng hết sức cần thiết để điều chỉnh lối sống và áp dụng chế độ điều trị kịp thời.
6.2. Các biện pháp tích cực thay đổi lối sống
Áp dụng cho mọi người bệnh nhằm ngăn ngừa tiến triển và giảm được huyết áp, giảm số thuốc cần dùng…
– Chế độ ăn hợp lý:
- Giảm ăn mặn (<6 gam muối hay 2,3 gam natri mỗi ngày). Duy trì đầy đủ lượng kali (90 mmol/ngày), đặc biệt ở người có dùng thuốc lợi tiểu để điều trị THA. Bảo đảm đầy đủ calcium và magnesium.
- Tăng cường rau xanh, hoa quả tươi giàu chất xơ và protein thực vật.
- Hạn chế thức ăn có nhiều cholesterol và acid béo no.
– Tích cực giảm cân (nếu thừa cân), duy trì cân nặng lý tưởng với chỉ số khối cơ thể (BMI: body mass index) từ 18,5 đến 22,9 kg/m². Chế độ giảm cân cần đặc biệt được nhấn mạnh ở những bệnh nhân nam giới béo phì thể trung tâm (bụng) song không áp dụng chế độ này cho phụ nữ có thai bị THA.
– Duy trì vòng bụng dưới 90 cm ở nam và dưới 80 cm ở nữ.
– Hạn chế uống rượu, bia: số lượng ≤2 cốc chuẩn/ngày và tổng cộng không quá 14 cốc chuẩn/tuần (nam) hoặc 9 cốc chuẩn/tuần (nữ). 1 cốc chuẩn chứa 13,6 g ethanol tương đương với 355 ml bia (5%) hoặc 148 ml rượu vang (12%), hoặc 44 ml rượu mạnh (40%). Nếu dùng quá nhiều rượu làm tăng nguy cơ tai biến mạch não ở bệnh nhân THA, làm tăng trở kháng với thuốc điều trị THA. Ngược lại nếu dùng lượng rượu thích hợp (vang đỏ) thì có thể làm giảm nguy cơ bệnh mạch vành (hiệu ứng ngược).
– Ngừng hoàn toàn việc hút thuốc lá hoặc thuốc lào. Cần hết sức nhấn mạnh và cương quyết trong mọi trường hợp vì hút thuốc là một trong những nguy cơ mạnh nhất đối với các biến cố tim mạch. Lưu ý có chế độ luyện tập thích hợp do nguy cơ tăng cân nhanh chóng sau khi bỏ hút thuốc.
– Tăng cường hoạt động thể lực ở mức thích hợp: tập thể dục, đi bộ hoặc vận động ở mức độ vừa, đều đặn khoảng 30-60 phút mỗi ngày, 5-7 ngày/tuần. Với những bệnh nhân có triệu chứng hoặc nguy cơ bệnh mạch vành cần phải có bệnh nhân làm các nghiệm pháp gắng sức thể lực trước khi quyết định cho bệnh nhân chế độ tập thể lực. Lưu ý tăng cường các giai đoạn tăng tốc hoạt động thể lực.
– Tránh lo âu, căng thẳng thần kinh; cần thư giãn, nghỉ ngơi hợp lý.
– Tránh bị lạnh đột ngột.
Các biện pháp tích cực thay đổi lối sống này cũng chính là những biện pháp để phòng ngừa tăng huyết áp ở người trưởng thành, luôn cần phối hợp với việc giáo dục truyền thông nâng cao nhận thức về hiểu biết về bệnh tăng huyết áp cũng như các biến chứng của tăng huyết áp và các yếu tố nguy cơ tim mạch khác.
6.3. Các thuốc điều trị tăng huyết áp
Theo thời gian, ngày càng ra đời nhiều thuốc hạ huyết áp mới có tác dụng mạnh hơn, tốt hơn, tác dụng phụ ít hơn và khả năng dung nạp tốt hơn. Hiện tại có rất nhiều các loại thuốc hạ huyết áp khác nhau với nhiều cơ chế tác dụng phong phú. Để đơn giản hóa, có thể chia các thuốc điều trị tăng huyết áp thành 5 nhóm chính: ABCDE, trong đó A là nhóm các thuốc tác động lên hệ renin-angiotensin; B là nhóm các thuốc chẹn beta giao cảm; C là nhóm các thuốc chẹn kênh calci; D là nhóm các thuốc lợi tiểu và E là nhóm các thuốc còn lại. Dù tác dụng lên đích (NMCT, TBMMN, protein niệu…) có thể khác nhau giữa các nhóm thuốc điều trị THA, vấn đề quan trọng bậc nhất đối với người THA là hạ huyết áp có hiệu quả bằng những thứ thuốc sẵn có.
6.3.1. A – Nhóm thuốc tác động lên hệ renin-angiotensin
Nhóm thuốc tác động lên hệ renin-angiotensin gồm nhóm thuốc ức chế men chuyển (ƯCMC), nhóm thuốc ức chế thụ thể AT1 của angiotensin II (ƯCTT)…
.gây những tác dụng phụ trầm trọng, không ảnh hưởng nhịp tim và sức co bóp cơ tim, không gây những rối loạn chuyển hóa như lipid máu, đường máu, acid uric máu hoặc điện giải khi dùng kéo dài. Thuốc đặc biệt có giá trị ở những người bệnh THA đã có tổn thương cơ quan đích như có kèm suy tim, bệnh mạch vành, protein niệu… So với các nhóm thuốc hạ huyết áp khác, ƯCMC/ƯCTT có xu hướng làm giảm tử vong chung và tử vong do tim mạch trong đó ƯCMC giảm rõ rệt tử vong chung so với ƯCTT. Ngoài nhóm thuốc ức chế trực tiếp renin còn đang được nghiên cứu, phát triển và thử nghiệm, các nhóm thuốc ƯCMC/ƯCTT dần dần đã trở thành nền tảng cho điều trị các bệnh tim mạch nói riêng và THA nói chung.
Cơ chế tác dụng: các thuốc nhóm ƯCMC ức chế men chuyển từ angiotensin I thành angiotensin II, do đó làm giảm mạch, giảm tiết aldosteron gây hạ huyết áp, đồng thời thuốc còn ức chế thoái giáng của bradykinin vốn cũng là chất gây giãn mạch hạ huyết áp. Các thuốc trong nhóm ƯCTT ức chế thụ thể AT1 nơi tiếp nhận tác dụng của angiotensin II gây co mạch.
Bảng 2.7. Các thuốc nhóm A – ức chế men chuyển và ức chế thụ thể AT1 của angiotensin
| Hoạt chất | Liều khởi đầu | Liều duy trì |
|---|---|---|
| Nhóm thuốc ức chế men chuyển (ƯCMC) | ||
| Benazepril | 10 mg × 2 | 10–40 mg |
| Captopril | 25 mg × 2 | 25–100 mg |
| Enalapril | 5 mg × 2 | 5–40 mg |
| Fosinopril | 10 mg | 10–40 mg |
| Imidapril | 2,5 mg | 5–20 mg |
| Lisinopril | 5 mg | 5–40 mg |
| Moexipril | 7,5 mg | 7,5–30 mg |
| Perindopril | 5 mg | 5–10 mg |
| Quinapril | 5 mg | 5–40 mg |
| Ramipril | 2,5 mg | 2,5–20 mg |
| Trandolapril | 1–2 mg | 1–4 mg |
| Nhóm thuốc ức chế thụ thể AT1 của angiotensin II (ƯCTT) | ||
| Candesartan | 4 mg | 4–32 mg |
| Irbesartan | 75 mg | 150–300 mg |
| Losartan | 25 mg | 25–100 mg |
| Telmisartan | 40 mg | 20–80 mg |
| Valsartan | 80 mg | 80–320 mg |
Tác dụng phụ hay gặp của ƯCMC là gây ho khan, thường về đêm, không đờm, nhiều khi phải ngừng thuốc hoặc đổi thuốc khác trong nhóm vì tác dụng phụ này. ƯCMC gây giảm ưu tiên tiểu động mạch đi ở cầu thận nên có thể gây suy thận đột ngột do giảm dòng máu tới thận ở những bệnh nhân bị hẹp động mạch thận 2 bên. Chống chỉ định tuyệt đối đối với ƯCMC là bệnh nhân có hẹp động mạch thận 2 bên. ƯCMC cũng chống chỉ định dùng ở phụ nữ có thai. Cần thận trọng khi dùng ƯCMC ở bệnh nhân suy thận, đang dùng thuốc lợi tiểu giữ kali, hoặc chế độ bổ phụ kali, do thuốc có xu hướng làm tăng kali máu. So với ƯCMC, ƯCTT thường ít gây ra ho, tác động lên thận và kali máu có xu hướng ít hơn, nên dùng phối hợp với ƯCTT thường tốt hơn. Cả ƯCMC và ƯCTT đều có thể gây dị ứng, ngứa… và nặng nhất là viêm phù mao mạch (khá hiếm gặp, không phụ thuộc vào thời gian dùng thuốc dài hay ngắn, liều cao hay thấp), có thể gây biến chứng nặng nề thậm chí tử vong.

Hình 2.15. Cơ chế tác động của men chuyển dạng angiotensin
6.3.2. B – Nhóm thuốc chẹn beta giao cảm
Trước đây, nhóm thuốc chẹn beta giao cảm (nhất là những loại chọn lọc trên tim) được coi là một trong những lựa chọn hàng đầu trong điều trị THA tuy nhiên dần dần vai trò của chẹn beta giao cảm ngày càng giảm đi trong điều trị THA tiên phát chưa có tổn thương cơ quan đích do thuốc chẹn beta giao cảm không làm giảm nhiều huyết áp động mạch trung tâm và biến thiên huyết áp giữa các lần khám so với các nhóm thuốc hạ áp khác (như chẹn kênh calci hoặc ức chế men chuyển) → so với các nhóm thuốc hạ huyết áp khác, chẹn beta giao cảm không làm giảm tỷ lệ TBMMN. Đồng thời, thuốc cũng gây ra các rối loạn chuyển hóa khác như giảm nhạy cảm với insulin, tăng nguy cơ xuất hiện đái tháo đường, tăng triglycerides và giảm HDLC, tăng cân nhất là khi kết hợp với nhóm thuốc lợi tiểu. Do vậy chẹn beta giao cảm chỉ được ưu tiên lựa chọn ở những bệnh nhân THA sau NMCT, THA đã có giảm chức năng tâm thu thất trái hoặc có nhóm THA trẻ có cường giao cảm.
Cơ chế chính của nhóm thuốc này là chẹn thụ thể β giao cảm đối với catecholamine → giảm nhịp tim và cung lượng tim; cũng giảm nồng độ renin máu, tăng giải phóng prostaglandins gây giãn mạch. Nhóm chẹn beta giao cảm có thể chia thành các nhóm nhỏ:
- Chẹn không chọn lọc β1 & β2: propranolol, timolol, pindolol;
- Chẹn chọn lọc β1: metoprolol, atenolol, bisoprolol;
- Chẹn cả β và α giao cảm: carvedilol, labetalol.
Tuy nhiên liều cao thì tính chọn lọc β1 sẽ mất đi. Các thuốc chẹn beta giao cảm này còn được phân biệt bởi đặc tính có hoạt tính giao cảm nội sinh (ISA) hay không có. Những thuốc có hoạt tính ISA thì ít gây hạ nhịp tim hơn. Đối với nhóm chẹn cả thụ thể alpha ở mạch ngoại vi và thụ thể beta ở tim thì thuốc sẽ có đủ cả hai cơ chế gây hạ áp: carvedilol là một thứ thuốc hiện nay được đề xuất không những điều trị THA, suy vành mà còn có tác dụng tốt trong suy tim với liều tăng dần.
Tác dụng phụ thường gặp bao gồm nhịp chậm, ngủ gà, bất lực. Các thuốc chẹn beta giao cảm có khá nhiều chống chỉ định như: nhịp chậm, đặc biệt là bloc nhĩ thất độ cao; suy tim nặng/tiến triển (suy tim “ướt”); các bệnh phổi co thắt (hen phế quản, đợt tiến triển COPD); bệnh động mạch ngoại vi. Thuốc cần thận trọng ở bệnh nhân đái tháo đường, rối loạn mỡ máu. Dùng lâu có thể gây hội chứng Raynaud, liệt dương, mất ngủ, trầm cảm… và hiệu ứng cơn THA bùng phát nếu ngừng thuốc đột ngột. Tác dụng phụ của nhóm chẹn thụ thể alpha và beta cũng giống như các thuốc chẹn beta giao cảm, ngoài ra có thể gây hủy hoại tế bào gan, hạ HA tư thế, hội chứng giống lupus ban đỏ, run chân tay, và bùng phát THA khi ngừng thuốc đột ngột.
Bảng 2.8. Các thuốc nhóm B – Chẹn beta giao cảm
| Hoạt chất | Liều khởi đầu | Liều duy trì |
|---|---|---|
| Nhóm thuốc chẹn beta giao cảm, loại chọn lọc β1 | ||
| Acebutolol (ISA +) | 200 mg | 200–1200 mg |
| Atenolol | 25 mg | 25–100 mg |
| Betaxolol | 10 mg | 5–40 mg |
| Bisoprolol | 2,5 mg | 2,5–20 mg |
| Metoprolol | 50 mg | 50–200 mg |
| Nhóm thuốc chẹn cả beta và alpha giao cảm | ||
| Labetalol | 100 mg × 2 | 100–600 mg |
| Carvedilol | 6,25 mg × 2 | 6,25–50 mg |
| Nhóm thuốc chẹn beta giao cảm, loại không chọn lọc | ||
| Carteolol (ISA +) | 2,5 mg | 2,5–10 mg |
| Penbutolol (ISA +) | 20 mg | 20–80 mg |
| Pindolol (ISA +) | 5 mg × 2 | 10–60 mg |
| Propranolol | 40 mg × 2 | 40–160 mg |
| Timolol | 10 mg × 2 | 20–60 mg |
6.3.3. C – Nhóm thuốc chẹn kênh calci
Nhóm thuốc chẹn kênh calci bao gồm hai nhóm: (1) nhóm dihydropyridin (DHP) như nifedipin, amlodipin; isradipin; nicardipin; felodipin; manidipin; (2) nhóm Non-dihydropyridin (NDHP) như diltiazem và verapamil.
Các thuốc chẹn kênh calci làm giãn hệ tiểu động mạch bằng cách ngăn chặn dòng calci chảy vào trong tế bào cơ trơn thành mạch, từ đó làm giảm sức cản ngoại vi và gây hạ huyết áp. Ngoài ra các thuốc này tác động trên nhịp tim và sức co bóp cơ tim tuỳ thuộc vào đặc tính của từng nhóm thuốc: (1) thuốc nhóm DHP thế hệ sau như amlodipin, felodipin, isradipin… tác dụng tương đối chọn lọc trên mạch và có tác dụng hạ HA tốt, ít ảnh hưởng đến chức năng co bóp cơ tim và nhịp tim, có tác dụng kéo dài nên có thể dùng liều duy nhất trong ngày trong khi nhóm DHP thế hệ đầu như nifedipin làm tim nhịp tim nhanh phản ứng, đồng thời có ảnh hưởng đến sức co bóp cơ tim nhưng không nhiều bằng verapamil và diltiazem; (2) thuốc các nhóm không phải DHP (NDHP) như verapamil và diltiazem có ảnh hưởng nhiều đến đường truyền gây nhịp chậm và có ảnh hưởng nhiều đến sức co cơ tim.
Các thuốc nhóm chẹn kênh calci nhóm DHP có tác dụng phụ: bừng mặt, tim nhanh, đau đầu, phù mắt cá. Verapamil có thể gây táo bón, nôn, đau đầu, hạ huyết áp tư thế trong khi diltiazem có thể gây nôn, đau đầu, mẩn ngứa… Nói chung các thuốc chẹn kênh calci thường không gây ảnh hưởng đến đường máu, mỡ máu khi dùng kéo dài. Do các tác động giảm sức co bóp cơ tim và tăng nhịp tim phản xạ, các thuốc chẹn kênh calci không có chỉ định ở bệnh nhân THA/NMCT cấp có rối loạn chức năng thất.
Bảng 2.9. Các thuốc nhóm C – Chẹn kênh calci
| Hoạt chất | Liều khởi đầu | Liều duy trì |
|---|---|---|
| Nhóm thuốc chẹn kênh calci, loại dihydropyridin (DHP) | ||
| Amlodipin | 5 mg | 2,5-10 mg |
| Felodipin | 5 mg | 2,5-20 mg |
| Isradipin | 2,5 mg × 2 | 2,5-10 mg |
| Lacidipin | 2 mg | 2-6 mg |
| Manidipin | 5 mg | 10-20 mg |
| Nicardipin SR | 20 mg × 2 | 60-120 mg |
| Nifedipin Retard | 10-20 mg | 10-80 mg |
| Nifedipin LA | 30 mg | 30-90 mg |
| Nhóm thuốc chẹn kênh calci, loại Non dihydropyridin | ||
| Diltiazem | 60 mg | 60-180 mg |
| Verapamil | 80 mg | 80-160 mg |
| Verapamil LA | 120 mg | 120-240 mg |
6.3.4. D – Nhóm thuốc lợi tiểu
Nhóm thuốc lợi tiểu có tác dụng tăng thải natri (muối), từ đó làm giảm khối lượng tuần hoàn trong lòng mạch do đó làm hạ huyết áp. Ngoài ra, nhóm thuốc lợi tiểu có thể làm giảm nhẹ cung lượng tim và tăng trở kháng mạch ngoại vi thoáng qua nhưng các tác dụng này không nổi trội và hết nhanh nếu dùng thuốc kéo dài. Nếu dùng lâu dài sẽ giảm sức cản mạch ngoại vi. Ngoài ra lợi tiểu indapamid còn có tác dụng gây giãn mạch nhẹ do ức chế dòng natri vào tế bào cơ trơn thành mạch.
Các thuốc lợi tiểu có thể chia thành ba nhóm: (1) lợi tiểu thiazid bao gồm chlorthalidon, hydrochlorothiazid, indapamid, metolazon; (2) lợi tiểu quai: furosemid, bumetanid, torsemid và (3) lợi tiểu kháng aldosteron: spironolacton, eplerenon.
Tác dụng phụ cơ bản và hay gặp là các rối loạn điện giải và chuyển hóa (tăng acid uric máu, tăng kháng insulin), khác nhau tùy từng nhóm. Lợi tiểu thiazid gây hạ kali máu, hạ magnesi máu và rối loạn lipid máu nếu dùng kéo dài; có thể gây yếu cơ, chuột rút, liệt dương… ngoài ra lợi tiểu thiazid có thể làm xấu chức năng thận ở người suy thận. Tác dụng hạ kali của lợi tiểu thiazid phụ thuộc vào liều thuốc dùng như tuổi: tuổi càng cao, nguy cơ mất điện giải và hạ kali càng cao, liều càng nhỏ (1/2-1/4 liều duy trì) tỷ lệ hạ kali máu càng thấp. Trong số các lợi tiểu thiazid, indapamid ít gây mất điện giải nặng hoặc các rối loạn chuyển hóa. Lợi tiểu tác dụng trên quai là lợi tiểu mạnh làm mất kali và điện giải khác nhiều và có thể gây ngộ độc với tai. Lợi tiểu quai cải thiện được chức năng thận và không ảnh hưởng đến mỡ máu. Lợi tiểu giữ kali là lợi tiểu yếu và ít khi dùng đơn độc. Khi dùng phối hợp với một loại lợi tiểu thải kali làm tăng tác dụng lợi tiểu và ngăn ngừa được tác dụng phụ gây rối loạn điện giải máu, song có thể làm tăng kali máu cũng như tăng suy thận, nên cần chú ý theo dõi sát ở những bệnh nhân suy thận, suy tim nặng. Spironolacton có thể gây vú to ở nam giới.
Lợi tiểu có thể coi là một trong những lựa chọn hàng đầu để khởi đầu điều trị THA chưa có biến chứng hoặc tổn thương cơ quan đích. Lợi tiểu cũng là thuốc hàng đầu để phối hợp khi chưa kiểm soát được huyết áp bằng một loại thuốc. Nên cân nhắc phối hợp lợi tiểu kháng aldosterone đối với những trường hợp THA kháng trị không rõ nguyên nhân.
Bảng 2.10. Các thuốc nhóm D – Lợi tiểu
| Hoạt chất | Liều khởi đầu | Liều duy trì |
|---|---|---|
| Nhóm thuốc lợi tiểu thiazid | ||
| Chlorthalidon | 25 mg | 12,5-50 mg |
| Hydrochlorothiazid | 12,5 mg | 12,5-25 mg |
| Metolazon | 2,5 mg | 1,25-5 mg |
| Indapamid | 1,5 mg | 1,5-3 mg |
| Nhóm thuốc lợi tiểu tác động lên quai Henle | ||
| Bumetanid | 0,5 mg | 0,5-5,0 mg |
| Ethacrynic acid | 50 mg | 25-100 mg |
| Furosemid | 20 mg | 20-120 mg |
| Torsemid | 5 mg | 5-10 mg |
| Nhóm thuốc lợi tiểu giữ kali | ||
| Amilorid | 5 mg | 5-10 mg |
| Eplerenon | ||
| Spironolacton | 25 mg | 25-75 mg |
| Triamteren | 50 mg × 2 | 50-200 mg |
6.3.5. E – Các nhóm thuốc hạ huyết áp khác
Các nhóm thuốc hạ huyết áp khác bao gồm nhóm thuốc chẹn alpha giao cảm, nhóm tác động lên hệ giao cảm trung ương; nhóm giãn mạch trực tiếp. Các nhóm thuốc này không phải là lựa chọn ưu tiên hàng đầu để điều trị THA chưa có tổn thương cơ quan đích/biến chứng, song có thể phối hợp với các thuốc khác trong một số trường hợp cụ thể hoặc khi THA kháng trị dù đã phối hợp trên ba thứ thuốc hạ áp.
Các thuốc chẹn alpha giao cảm ức chế thụ thể α1 giao cảm làm bloc thụ thể alpha giao cảm hậu hạch, dẫn đến giãn động mạch và tĩnh mạch. Khi uống, thường gây hội chứng “liều đầu tiên” tức là tác dụng rất mạnh khi dùng liều đầu tiên, có thể dẫn đến tụt huyết áp, do đó khi dùng liều đầu tiên cần bắt đầu rất thấp và theo dõi chặt chẽ. Các thuốc này có thể gây tụt huyết áp tư thế, đau đầu, chóng mặt… Thuốc chọn lọc α1 giao cảm dùng lâu dài có thể cải thiện tình trạng rối loạn mỡ máu. Thuốc còn có tác dụng tốt chữa triệu chứng ở những bệnh nhân có phì đại tiền liệt tuyến lành tính.
Bảng 2.11. Các thuốc nhóm E – Các thuốc hạ áp khác
| Hoạt chất | Liều khởi đầu | Liều duy trì |
|---|---|---|
| Nhóm thuốc tác động lên hệ giao cảm trung ương | ||
| Clonidin | 0,1 mg | 0,1-0,8 mg |
| Methyldopa | 250 mg | 250-2000 mg |
| Nhóm thuốc tác động lên hệ giao cảm ngoại vi | ||
| Guanfacin | 1 mg | 1-3 mg |
| Guanethidin | 4 mg × 2 | 4-64 mg |
| Nhóm thuốc tác động hỗn hợp | ||
| Reserpin | 0,5 mg | 0,01-0,25 mg |
| Nhóm thuốc chẹn alpha giao cảm | ||
| Doxazosin | 1 mg | 1-16 mg |
| Prazosin | 1 mg × 2 | 1-20 mg |
| Terazosin | 1 mg | 1-20 mg |
| Nhóm thuốc giãn mạch trực tiếp | ||
| Hydralazin | 10 mg | 25-200 mg |
| Minoxidil | 5 mg | 2,5-100 mg |
Các thuốc tác động lên hệ giao cảm trung ương kích thích thụ thể α2 giao cảm tiền hạch trong hệ thần kinh trung ương, dẫn đến làm giảm trương lực giao cảm ngoại vi và làm giảm sức kháng mạch hệ thống, từ đó làm hạ huyết áp. Các thuốc nhóm này có nhiều tác dụng phụ như: nhịp chậm, chóng mặt, khô miệng, hạ huyết áp tư thế, rối loạn hoạt động tình dục. Thuốc có thể gây tăng men gan, giảm chức năng thất trái và đặc biệt là phản ứng THA bùng phát khi ngừng thuốc đột ngột (hội chứng cai thuốc).
Các thuốc khác tác động lên hệ giao cảm ngoại vi thông qua ngăn chặn giải phóng norepinephrin (noradrenalin) ở tận cùng thần kinh ngoại vi. Riêng reserpin còn có tác dụng trên hệ thần kinh trung ương, nó làm cạn kiệt nguồn dự trữ norepinephrin ở các neuron thần kinh dẫn đến hạ HA. Tác dụng phụ của các thuốc này khá nhiều như: gây trầm cảm, gây buồn ngủ, khô miệng, nghẹt mũi, hạ HA tư thế, các rối loạn tình dục hoặc rối loạn tiêu hóa.
Các thuốc giãn mạch trực tiếp gây giãn trực tiếp cơ trơn động mạch gây hạ huyết áp, song đồng thời có thể gây ra phản ứng tăng tải hậu thuẫn và natri và phản ứng tăng hoạt động hệ giao cảm gây nhịp nhanh. Thuốc có tác dụng hạ huyết áp mạnh, nhưng không phải là lựa chọn hàng đầu, rất có ích khi bệnh nhân có biểu hiện kháng các thuốc hạ huyết áp khác và có phụ nữ có thai; đồng thời có thể được phối hợp với nitrate để điều trị suy tim. Tác dụng phụ có thể gặp là: đau đầu, nôn, nhịp nhanh, hạ HA tư thế, hội chứng giống Lupus ban đỏ. Minoxidil có thể gây tăng cân, bất thường điện tim, tăng mọc lông tóc, tràn dịch màng tim.
6.3.6. Một số loại thuốc hạ áp dùng đường tĩnh mạch
Các thuốc hạ áp đường tĩnh mạch (TM) có thể đã được xếp loại trong các nhóm thuốc nói trên hoặc không. Sử dụng các thuốc hạ huyết áp đường tĩnh mạch trong các tình huống khẩn cấp như THA ác tính; lóc tách thành động mạch chủ; suy thận tiến triển nhanh, sản giật; THA có kèm nhồi máu cơ tim (NMCT) cấp hoặc suy tim trái cấp. Khi sử dụng cần dùng bơm tiêm điện hoặc máy truyền dịch để duy trì đúng liều và người bệnh phải được theo dõi tại đơn vị cấp cứu (tim mạch).
Bảng 2.12. Một số loại thuốc hạ áp dùng đường tĩnh mạch
| Tên thuốc | Bắt đầu tác dụng | Tác dụng kéo dài | Liều dùng |
|---|---|---|---|
| Nitroglycerin | 2-5 phút | 5-10 phút | Truyền TM 5-100 mcg/phút. Có thể gây đau đầu, nôn và giảm tác dụng nếu dùng lâu dài. |
| Nicardipin | 5-10 phút | 15-30 phút | Truyền TM khởi đầu 1-2 mg/giờ, tăng dần 0,5-2 mg/giờ sau 15 phút, liều truyền tối đa 15 mg/giờ. Có thể gây tụt huyết áp, đau đầu, nhịp nhanh, nôn. |
| Natri nitroprussid | Tức thì | 1-2 phút | Truyền TM 0,3 mcg/kg/phút, tăng dần 0,5 mcg/kg/phút sau 10 phút, liều truyền tối đa 10 mcg/kg/phút. Là thuốc lựa chọn ưu tiên, có thể gây tụt áp, nôn, nguy cơ ngộ độc cyanide ở bệnh nhân suy gan thận. Phải bọc kỹ tránh ánh sáng. |
| Esmolol | 1-5 phút | 10 phút | Tiêm TM 500 mcg/kg/phút trong phút đầu, truyền TM 50-100 mcg/kg/ph, liều truyền tối đa 300 mcg/kg/ph. Có thể gây tụt HA, bloc nhĩ thất, suy tim, co thắt phế quản. |
| Labetalol | 5-10 phút | 3-6 giờ | Tiêm TM chậm 10-20 mg trong vòng 2 phút, lặp lại sau 10-15 phút đến khi đạt tổng liều tối đa 300 mg hoặc truyền TM 0,5-2 mg/phút. Có thể gây tụt áp, bloc nhĩ thất, suy tim, co thắt phế quản, nôn, THA bùng lại khi ngừng. Có thể ít tác dụng ở bệnh nhân đã dùng chẹn beta. |
| Hydralazin | 5-10 phút | 4-6 giờ | Tiêm TM chậm 5-10 mg, lặp lại sau 4-6 giờ/lần. Ưu tiên dùng trong sản giật; thuốc có thể gây tụt áp, suy thai, nhịp nhanh, đau đầu, nôn, viêm tắc TM tại chỗ. |
| Enalaprilat | 5-15 phút | 1-6 giờ | Tiêm TM 0,625-1,25 mg, lặp lại 6 giờ/lần. Có thể gây tụt huyết áp. |
| Diazoxid | 1-5 phút | 6-12 giờ | Tiêm TM 50-100 mg, nhắc lại 5-10 phút, đến khi đạt tổng liều 600 mg hoặc truyền TM với liều 10-30 mg/phút. Thuốc có thể gây nhịp nhanh, tụt HA, nôn, tăng đường máu. Do vậy, thuốc có thể làm tăng thiếu máu cơ tim ở bệnh nhân NMCT, làm nặng bệnh suy tim, lóc tách thành ĐMC. |
| Phentolamin | 1-2 phút | 3-10 phút | Tiêm TM 5-10 mg mỗi 5-15 phút. Thuốc có thể gây ra tụt HA, tim nhanh, đau đầu, đau ngực, đáp ứng THA nghịch thường. |
6.4. Khởi đầu điều trị tăng huyết áp
– Đo huyết áp đúng theo quy trình chuẩn để xác định THA. Phát hiện tổn thương cơ quan đích ngay ở giai đoạn tiền lâm sàng, loại trừ các nguyên nhân gây tăng huyết áp thứ phát (Bảng 2.3). Đánh giá các yếu tố nguy cơ tim mạch, tổn thương cơ quan đích và biến cố tim mạch nếu có để phân tầng nguy cơ và lựa chọn chiến lược điều trị.
- Nên hạ huyết áp sớm bằng thuốc cho người THA độ 2 và 3 ở mọi mức nguy cơ tim mạch; vài tuần sau khi hoặc ngay đồng thời khi thay đổi lối sống. Nên hạ huyết áp sớm bằng thuốc khi nguy cơ tim mạch tổng thể cao do có đã có tổn thương cơ quan đích, có kèm đái tháo đường, đã mắc bệnh/có biến cố tim mạch, hoặc có kèm bệnh thận mạn ngay cả khi THA mới chỉ ở độ 1.
- Luôn kết hợp điều trị thuốc hạ huyết áp với thay đổi lối sống tích cực và kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ tim mạch chính khác (nếu có).
- Khuyến khích người bệnh tự theo dõi huyết áp của mình bằng máy đo tự động có băng quấn tay để giúp người bệnh tham gia chủ động, tích cực vào quá trình điều trị, tăng tuân thủ điều trị. Nâng cao nhận thức và tích cực thay đổi lối sống tốt cho tim mạch góp phần kiểm soát tốt, toàn diện huyết áp và các yếu tố nguy cơ tim mạch khác.
– Chọn thuốc khởi đầu: tùy theo các bệnh lý phối hợp để xác định hay không các chỉ định ưu tiên hay chỉ định bắt buộc dùng các thuốc hạ huyết áp nhất định.
- Nếu có chỉ định ưu tiên thì lựa chọn thuốc hạ áp khởi đầu phù hợp. Tối ưu hóa phác đồ điều trị tăng huyết áp; dựa vào các chỉ định bắt buộc hoặc ưu tiên của từng nhóm thuốc hạ huyết áp trong các thể bệnh cụ thể.
- Nếu không có chỉ định ưu tiên thì có thể lựa chọn thuốc khởi đầu là một trong số các nhóm thuốc ABCDE nếu không có chống chỉ định: chẹn kênh calci loại tác dụng kéo dài; ức chế men chuyển hoặc ức chế thụ thể AT1 của angiotensin II, lợi tiểu thiazid liều thấp; chẹn beta giao cảm. Ưu tiên lựa chọn nhóm A hoặc C tùy theo tuổi.
- Nếu huyết áp tâm thu > 20 mmHg hoặc huyết áp tâm trương > 10 mmHg so với huyết áp mục tiêu cần đạt, thì nên phối hợp thuốc để tăng hiệu quả và khả năng kiểm soát huyết áp thành công, giảm tác dụng phụ và tăng việc tuân thủ điều trị của người bệnh thay vì chỉ tăng liều đơn thuần (Hình 2.5). Lưu ý không nên phối hợp ƯCMC và UCTT do làm tăng nguy cơ kali máu cao và suy thận trừ khi bệnh nhân có protein niệu quá nhiều không đáp ứng với một trong hai loại thuốc ƯCMC hoặc ƯCTT.
– Nên quản lý người bệnh ngay tại tuyến cơ sở để đảm bảo bệnh nhân được uống thuốc đúng, đủ và đều; đồng thời giám sát quá trình điều trị, tái khám, phát hiện sớm các biến chứng và tác dụng phụ của thuốc theo 4 bước quản lý tăng huyết áp ở tuyến cơ sở. Nếu chưa đạt huyết áp mục tiêu: chỉnh liều tối ưu hoặc bổ sung thêm một loại thuốc khác cho đến khi đạt mục tiêu. Nếu vẫn không đạt HA mục tiêu hoặc xuất hiện biến cố nặng: cần chuyển tuyến trên hoặc gửi khám chuyên khoa tim mạch. Cần nhắc chuyển đến các đơn vị quản lý THA tuyến trên hoặc chuyển khoa tim mạch trong các trường hợp sau:
- Tăng huyết áp tiến triển.
- THA đe dọa có biến chứng hoặc THA đã có các biến cố tim mạch (như TBMN thoáng qua, đột quỵ não cấp, suy tim trái cấp, hội chứng vành cấp, suy thận cấp, lóc tách thành động mạch chủ cấp, tiền sản giật…).
- Nghi ngờ tăng huyết áp thứ phát hoặc THA ở người trẻ hoặc khi cần đánh giá các tổn thương cơ quan đích.
- Tăng huyết áp kháng trị mặc dù đã dùng nhiều loại thuốc phối hợp (≥ 3 thuốc, trong đó ít nhất có 1 thuốc lợi tiểu) hoặc không thể dung nạp với các thuốc hạ áp, hoặc có quá nhiều bệnh nặng phối hợp.
- THA ở phụ nữ có thai hoặc một số trường hợp đặc biệt khác.
– Điều trị các bệnh mạn tính phối hợp, đồng thời kiểm soát chặt các yếu tố nguy cơ kèm theo và điều trị dự phòng biến cố tim mạch ở nhóm có nguy cơ tim mạch tổng thể cao hoặc rất cao. Cân nhắc điều trị dự phòng bằng thuốc hạ huyết áp để đạt HA mục tiêu < 140/90 và phối hợp với:
- Aspirin liều thấp (nhất là ở người đã có tiền sử biến cố NMCT hoặc TBMMN).
- Statin để đạt LDLC mục tiêu lần lượt < 1,82 mmol/L (70 mg/dL); 2,58 mmol/L (100 mg/dL) hoặc 3,36 mmol/L (130 mg/dL) phụ thuộc vào việc đã có bệnh mạch vành, nguy cơ bệnh mạch vành cao (> 20%/10 năm) hoặc nguy cơ trung bình (< 20%/10 năm).
- Kiểm soát đường huyết chặt chẽ để đạt HbA1c < 7%.
- Tránh béo phì/quá cân.
- Bỏ hoàn toàn hút thuốc lá/thuốc lào, kết hợp với vận động thể lực và thay đổi chế độ ăn.
Bảng 2.13. Chỉ định ưu tiên lựa chọn thuốc hạ áp khi có biến cố đích hoặc bệnh phối hợp
| Tình trạng | Thuốc ưu tiên | |
|---|---|---|
| Tổn thương cơ quan đích chưa có triệu chứng | Dày thất trái | ƯCMC, chẹn kênh calci, ƯCTT |
| Xơ vữa ĐM không triệu chứng | Chẹn kênh calci, ƯCMC | |
| Vi đạm niệu | ƯCMC, ƯCTT | |
| Rối loạn chức năng thận | ƯCMC, ƯCTT | |
| Biến cố tim mạch trên lâm sàng | TBMMN cũ | Bất kỳ thuốc nào hạ HA hiệu quả |
| NMCT cũ | Chẹn beta, ƯCMC, ƯCTT | |
| Đau thắt ngực | Chẹn beta, chẹn kênh calci | |
| Suy tim | Lợi tiểu, chẹn beta, ƯCMC/ƯCTT, kháng aldosterone | |
| Phình ĐMC | Chẹn beta | |
| Rung nhĩ, phòng biến cố | ƯCTT, ƯCMC, chẹn beta, kháng aldosterone | |
| Rung nhĩ, kiểm soát tần số thất | Chẹn beta, chẹn kênh calci không DHP | |
| Suy thận giai đoạn cuối/Đạm niệu | ƯCMC, ƯCTT | |
| Bệnh ĐM ngoại vi | ƯCMC, chẹn kênh calci | |
| Các bệnh lý đặc thù khác | THA tâm thu đơn độc (cao tuổi) | Lợi tiểu, chẹn kênh calci |
| Hội chứng chuyển hóa | ƯCMC, ƯCTT, chẹn kênh calci | |
| Đái tháo đường | ƯCMC, ƯCTT | |
| THA ở phụ nữ có thai | Methyldopa, chẹn beta, chẹn kênh calci | |
| Người da đen | Lợi tiểu, chẹn kênh calci |
6.5. Chiến lược và quy trình điều trị THA

Hình 2.16. Chiến lược tiếp cận điều trị THA

Hình 2.17. Quy trình điều trị THA
Điều trị huyết áp theo khuyến cáo NICE 2011

Hình 2.18. Gợi ý lựa chọn thuốc hạ áp đầu tiên
Phối hợp thuốc hạ huyết áp như thế nào?

Hình 2.19. Gợi ý phối hợp thuốc hạ huyết áp

Hình 2.20. Quy trình 4 bước điều trị tăng huyết áp tại tuyến cơ sở
6.6. Một số tình huống lâm sàng của tăng huyết áp
THA ở người trẻ
Cần chú ý tìm nguyên nhân. Đặc điểm THA ở người trẻ tuổi là có sự tăng trương lực hệ giao cảm và tăng nồng độ renin huyết thanh: nhìn chung dễ lựa chọn các thuốc hạ áp cho người trẻ.
THA người cao tuổi.
– Đặc điểm là thường kèm theo tăng trở kháng hệ mạch máu, giảm nồng độ renin máu, thường kèm tăng khối lượng cơ thất trái. THA hay có các bệnh lý khác kèm theo, nên khi cho thuốc hạ HA phải cân nhắc các chống chỉ định và tác dụng phụ.
– THA ở người cao tuổi cần được quan tâm với cái nhìn tổng thể, điều trị hợp lý THA ở người cao tuổi mang lại lợi ích rõ ràng (giảm đáng kể tử vong và biến chứng tim mạch. Huyết áp mục tiêu là < 140/90 mmHg ở người < 80 tuổi nếu dung nạp được. Ở người > 80 tuổi: điều trị khi HA tâm thu > 160 mmHg và mục tiêu điều trị ở mức < 150/90 mmHg.
– Các thuốc hạ áp đều có thể điều trị THA ở người cao tuổi, ưu tiên lợi tiểu và chẹn kênh calci cho THA tâm thu đơn độc. Liều ban đầu và chỉnh liều hết sức thận trọng, thấp và tăng từ từ (đặc biệt ở người rất già). Nên tránh dùng các thuốc có thể gây hạ HA tư thế hoặc các thuốc tác động hệ thần kinh trung ương vì tăng nguy cơ gây trầm cảm. Dùng và chỉnh thuốc nên theo tình trạng bệnh lý đi kèm; chú ý việc hạ huyết áp tư thế (cần đo huyết áp ở các tư thế).
THA ở người béo phì.
– Đặc điểm là tăng trở kháng mạch, tăng cung lượng tim, và tăng khối lượng tuần hoàn.
– Giảm cân nặng là mục tiêu quan trọng nhất. Thuốc đầu tiên nên lựa chọn là lợi tiểu.
THA ở người đái tháo đường.
– Đặc điểm thường có kèm theo bệnh lý thận do đái tháo đường. Người bệnh đái tháo đường thường có nhiều yếu tố nguy cơ tim mạch và tổn thương cơ quan đích nên thường phải phối hợp thuốc sớm mới có thể kiểm soát được huyết áp. Quan điểm mới cho rằng ở người đái tháo đường mới phát hiện (dưới 8-10 năm), nguy cơ xuất hiện biến cố tim mạch chưa cao tương đương ngay như người đã có NMCT mà thấp hơn và phụ thuộc vào chùm các yếu tố nguy cơ tim mạch kèm theo trừ phi người bệnh đã có biến cố tim mạch, có protein niệu hoặc đã giảm mức lọc cầu thận. Do vậy, trong ở người mới mắc đái tháo đường, điều trị THA không những nhằm vào việc giảm nguy cơ tim mạch tổng thể mà còn cần ngăn ngừa hoặc hạn chế tối đa sự xuất hiện của protein niệu hay sự suy giảm mức lọc cầu thận.
– Huyết áp mục tiêu cần đạt là 140/90 mmHg. Thuốc lựa chọn hàng đầu là ƯCMC/ƯCT. Có thể cân nhắc hạ HA mục tiêu hơn nữa nếu có protein niệu dai dẳng với điều kiện theo dõi được chức năng thận (MLCT) với điều kiện không tăng quá gánh nặng điều trị.
THA có suy thận mạn tính.
– Phụ thuộc nhiều vào khối lượng tuần hoàn.
– Lợi tiểu là thuốc ưu tiên, trong đó lợi tiểu quai đặc biệt có tác dụng khi mà creatinin > 2,5 mg/dl, nó cải thiện được chức năng cầu thận.
THA có phì đại thất trái.
– Phì đại thất trái làm tăng nguy cơ đột tử, NMCT. Chế độ giảm muối, giảm cân nặng, và các thuốc hạ HA (trừ thuốc giãn mạch trực tiếp) có thể làm giảm phì đại thất trái. Thuốc ƯCMC là loại làm giảm phì đại thất trái mạnh nhất.
THA có kèm theo bệnh mạch vành.
– Chẹn beta giao cảm nên được lựa chọn hàng đầu nếu không có các chống chỉ định.
– Chẹn beta giao cảm làm giảm tỷ lệ tử vong do NMCT, làm giảm nguy cơ dẫn đến NMCT ở bệnh nhân đau ngực không ổn định. Còn làm giảm nguy cơ tái NMCT ở bệnh nhân sau NMCT và làm tăng tỷ lệ sống sót sau NMCT.
– ƯCMC có ích nhất là khi bệnh nhân có giảm chức năng thất trái kèm theo.
– Chẹn kênh calci có thể dùng khi THA nhiều nhưng hết sức thận trọng, và chỉ nên dùng khi không có suy giảm chức năng thất trái.
THA có suy tim.
ƯCMC và lợi tiểu là thuốc lựa chọn hàng đầu. Có thể dùng phối hợp giữa nitrate với hydralazin trong trường hợp THA khó trị, tránh dùng hydralazin vì thuốc làm tăng nhịp tim phản xạ có thể làm xấu đi tình trạng thiếu máu cục bộ ở bệnh nhân suy vành kèm theo.
THA và thai nghén.
– Phân loại THA ở phụ nữ có thai (theo Trường môn Sản Phụ khoa Hoa Kỳ 1996) gặp ở các tình huống sau: (1) tiền sản giật hoặc sản giật: là tình trạng THA khi có thai kèm theo protein niệu, phù và có thể có rối loạn chức năng gan thận; (2) THA mạn tính do bất kể nguyên nhân nào: là tình trạng THA xuất hiện trước tuần thứ 20 thai kỳ; (3) THA mạn tính do hậu quả của tiền sản giật hoặc sản giật. Trong khi đó, THA thoáng qua hoặc muộn: là dạng THA không liên quan đến protein niệu và không có ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương. THA trở lại bình thường vài ngày sau đẻ.
– Nên bắt đầu điều trị khi HA tối thiểu > 100 mmHg. Không áp dụng chế độ giảm cân nặng và tập luyện quá sức. Methyldopa là thuốc nên được lựa chọn hàng đầu, hydralazin có thể được dùng thay thế.
THA kháng trị.
– THA điều trị bằng thuốc hạ áp được gọi là THA kháng trị khi (1) huyết áp sau điều trị vẫn lớn hơn huyết áp mục tiêu (140/90 mmHg) cho dù đã phối hợp 3 thuốc hạ huyết áp với liều tối đa còn dung nạp (trong đó đã gồm 1 thuốc lợi tiểu) và đã tuân thủ kiểm soát chế độ ăn và thay đổi tích cực lối sống hoặc khi (2) đạt được huyết áp mục tiêu nhưng cần trên ≥ 4 thuốc hạ huyết áp.
– Đối với THA kháng trị, cần tiến hành theo dõi huyết áp liên tục 24 giờ (Holter HA) để loại trừ THA áo choàng trắng, đồng thời tìm kiếm các nguyên nhân THA thứ phát (nhất là xơ vữa gây hẹp ĐM thận tiến triển). Khi xử trí cần lưu ý khảo sát xem người bệnh có tuân thủ tốt chế độ điều trị hay không, đã thay đổi tích cực lối sống hay chưa (ăn nhạt, hạn chế rượu và trong phác đồ điều trị nên phối hợp với một thuốc lợi tiểu). Dùng đầy lợi tiểu kháng aldosterone cho thấy có hiệu quả góp phần kiểm soát tốt HA khi phối hợp với các thuốc hạ áp khác (Hình 2.21).
Các bước xử trí tăng huyết áp kháng trị

Hình 2.21. Các bước xử trí tăng huyết áp kháng trị
– Nếu vẫn chưa kiểm soát được huyết áp sau khi đã điều chỉnh phối hợp thuốc, có thể xem xét triệt phá thần kinh giao cảm ĐM thận qua đường động thông bằng năng lượng sóng có tần số radio hoặc siêu âm, kiểm soát bằng nhiệt độ, định vị dưới màn tăng sáng và trở kháng tiếp xúc, trung bình đốt từ 4-6 ổ trên mỗi ĐM, cách nhau ≥ 5 mm xoáy trôn ốc từ đầu xa về phía lỗ xuất phát ĐM thận. Mặc dù còn đang triển khai nghiên cứu, biện pháp này hứa hẹn thể hiện là biện pháp có hiệu quả để kiểm soát huyết áp, giảm số lượng thuốc cần dùng, tăng dung nạp với điều trị, hạn chế biến cố ở cơ quan đích.
Cập nhật thông tin mới nhất về kiến thức y học và test y học tại facebook TEST Y HỌC
Tham gia nhóm zalo: Tài Liệu Y Học Tổng Hợp
Ôn thi nội trú, sau đại học TẠI ĐÂY
