Bài 25
SỰ TẠO MÁU VÀ ĐẶC ĐIỂM MÁU NGOẠI BIÊN Ở TRẺ EM
1. SỰ TẠO MÁU Ở TRẺ EM
1.1. Đặc điểm sự tạo máu ở trẻ em
Tạo máu ở người là đỉnh cao của sự tiến hóa, quá trình sinh sản các tế bào máu đạt tới mức hoàn thiện nhất với một cơ chế điều hòa tinh tế nhất. Có thể chia tạo máu ở người thành hai thời kỳ chính trong bào thai và sau khi sinh (Hình 5.1).
1.1.1. Sự tạo máu trong bào thai
Sự tạo máu trong thời kỳ phôi thai có rất sớm, vào tuần lễ thứ ba của phôi thai. Những tế bào máu trong phôi thai được sinh ra từ mô đệm (mesenchyma). Những tế bào sản sinh từ túi noãn hoàng (yolk sac) trở thành những hồng cầu đầu tiên. Cùng với sự hình thành và phát triển thai nhi, các bộ phận của hệ thống tạo máu hình thành và biệt hóa dần, từ mô giữa của phôi thai. Sự tạo máu ở phôi thai nhi được thực hiện ở nhiều bộ phận.
Vào tuần lễ thứ 5 thời kỳ phôi thai, một phần bọc tạng trong biệt hóa thành gan, bắt đầu có sự tạo máu ở gan. Gan là nơi tạo máu chủ yếu ở thời kỳ giữa của thai kỳ và dần dần giảm, rồi ngừng hẳn ở cuối thời kỳ thai. Lúc này, gan sản sinh các tế bào máu, bao gồm chủ yếu là hồng cầu, một ít bạch cầu và tiểu cầu.
Tủy xương bắt đầu được hình thành từ tháng thứ sáu của thời kì phôi thai, nhưng phải sau tháng thứ 4-5 của thời kì bào thai, khi sự tạo máu ở gan yếu đi, sự tạo máu ở tủy xương mới mạnh dần, cho tới cuối thời kì thai, lúc đẻ, sự tạo máu được thực hiện chủ yếu ở tủy xương.
Vào tháng thứ 3, thứ 4 của thời kì bào thai, có sự tham gia tạo máu ở lách. Lách sản sinh chủ yếu là tế bào lympho và một phần hồng cầu.
Vào tháng thứ 5, thứ 6, hạch lympho và một phần tuyến ức cũng tham gia tạo máu.
1.1.2. Sự tạo máu sau khi sinh
Sau khi sinh, ở trẻ đủ tháng, tủy xương là cơ quan chủ yếu sản sinh các tế bào máu chính.
Sự tạo máu ở trẻ em rất mạnh để đáp ứng sự phát triển nhanh của cơ thể. Ở trẻ nhỏ, tất cả tủy xương đều hoạt động sinh tế bào máu, tổ chức sinh máu (tủy đỏ) ở đầy các khoang tủy xương. Khi trẻ 4 tuổi, tủy đỏ ở các thân xương dài dần dần bị nhiễm mỡ biến thành tủy vàng. Hoạt động tạo máu ở trẻ lớn và người trưởng thành thực hiện tập trung ở xương cột sống, các xương dẹt như xương sườn, xương chậu, xương ức, xương sọ, xương bả vai, xương đòn và một phần ở đầu xương dài.
Sự tạo máu ở trẻ em tuy mạnh, song không ổn định. Nhiều nguyên nhân gây bệnh dễ ảnh hưởng đến sự tạo máu, trẻ dễ bị thiếu máu, nhưng đồng thời cũng có khả năng hồi phục. Hệ thống bạch huyết ở trẻ em cũng dễ phản ứng với các nguyên nhân gây bệnh.
Ngoài ra ở cơ quan tạo máu cũng dễ bị loạn sản khi bị một bệnh máu và cơ quan tạo máu; lúc đó gan, lách, hạch to lên, các bộ phận của hệ tạo máu sản sinh các tế bào máu loạn sản, giống như thời kỳ bào thai.
Hình 5.1. Vị trí tạo máu trong thời kỳ bào thai và sau sinh
(Nguồn: Theo Erlev AJ và cs. In: Williams WJ et al., eds, Hematology, New York: McGraw-Hill Book Co., 1972)
1.2. Sơ lược quá trình tạo máu ở tủy xương
1.2.1. Tổ chức tạo máu tủy xương
Tủy xương có hai thành phần chủ yếu đó là thành phần mạch máu và tạo máu:
- Thành phần mạch máu của tủy xương được nuôi dưỡng bởi hai nguồn: động mạch nuôi cho xương và lưới mao mạch từ vỏ xương sau đó chia thành nhiều nhánh nhỏ len vào trong các khoang tủy.
- Thành phần tạo máu nằm trong các khoang sinh máu tạo bởi mạng lưới ba chiều các sợi xương. Cấu trúc của khoang sinh máu này bao gồm: các bè xương tạo khung đỡ và bảo vệ, tổ chức đệm tạo ra vi môi trường tủy xương và các tế bào gốc tạo máu nằm trên nền xa-ma của mô đệm này. Trong cơ thể con người, chỉ duy nhất tủy xương có một vi môi trường sinh máu hoàn hảo. Vi môi trường tủy xương được cấu tạo bởi các tế bào đệm và chất đệm gian bào, được nuôi dưỡng bởi một hệ thống lưới mạch phong phú tương đối ổn định. Tại đây có sự tương tác tế bào đệm – tế bào gốc tạo máu – thể dịch để điều hòa quá trình sinh máu.
1.2.2. Quá trình tạo máu của tủy xương
Tủy xương sản sinh ra tất cả các tế bào đầu dòng (progenitor cells) của tất cả các dòng tế bào máu. Tủy xương cũng là nơi biệt hóa của tất cả các tế bào máu đến trưởng thành để cung cấp cho máu ngoại vi. Tuy nhiên, biệt hóa lympho, đặc biệt là lympho T lại chủ yếu xảy ra ở ngoài tủy xương (tuyến ức). Lách là nơi sinh ra lympho và chủ yếu sinh ra tương bào. Hạch là nơi dung nạp của các tế bào máu từ tủy xương, từ tuyến ức và từ máu ngoại vi đến, hạch chỉ sinh ra khoảng 5% các tế bào lympho.
Hình 5.2. Quá trình sinh sản và biệt hóa tế bào gốc tạo máu
CFU-S: Colony-forming unit-Spleen (Đơn vị tạo cụm tại lách); CFU-L: Colony-forming unit-Lymphoid (Tế bào gốc định hướng dòng lympho); CFU-GEMM: Colony-forming unit – Granulocyte/Erythrocyte/Megakaryocyte/Monocyte (Tế bào gốc định hướng dòng tủy); BFU-E: Burst-forming unit-Erythrocyte (Tế bào gốc dòng hồng cầu); CFU-GM: Colony-forming unit-Granulocyte/Macrophage (Tế bào gốc dòng bạch cầu hạt trung tính/mono); CFU-Meg: Colony-forming unit-Megakaryocyte (Tế bào gốc dòng tiểu cầu); CFU-E: Colony-forming unit-Erythrocyte (Tế bào gốc dòng hồng cầu); CFU-G: Colony-forming unit Granulocyte (Tế bào gốc dòng bạch cầu hạt trung tính); CFU-M: Colony-forming unit Macrophage (Tế bào gốc dòng mono); CFU-Ba: Colony-forming unit-Basophil (Tế bào gốc dòng bạch cầu hạt ưa base); CFU-Eo: Colony-forming unit-Eosinophil (Tế bào gốc dòng bạch cầu hạt ưa acid).
Tất cả các dòng tế bào máu đều xuất phát từ một tế bào gốc vạn năng (pluripotential stem cells) là CFU-S, theo thuyết một nguồn. Từ CFU-S sẽ sinh ra tất cả các tế bào gốc khác trong quá trình sinh máu: tế bào gốc tạo máu đa năng (multipotential stem cells) còn gọi là tế bào gốc tạo máu định hướng như CFU-GEMM và CFU-L, tiếp đó là tế bào gốc có khả năng sinh hai dòng tế bào (bipotential stem cells) như CFU-EM, CFU-GM và tế bào gốc chỉ có khả năng sinh ra một dòng tế bào (unipotential stem cells) như BFU-E, CFU-E, CFU-G, CFU-M, CFU-Eo, CFU-Ba, CFU-Meg – những tế bào này có khả năng biệt hóa thành các tế bào máu trưởng thành của các dòng hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu… (Hình 5.2).
Quá trình sinh máu được điều hòa nhờ hai cơ chế trái ngược nhau, đó là cơ chế kích thích và cơ chế ức chế.
Sự điều hòa tạo máu bằng cơ chế kích thích nhờ các yếu tố tăng trưởng tạo máu (hematopoietic growth factors) có mặt ở vi môi trường tạo máu. Các cytokine tạo máu này được sản sinh từ bạch cầu mono, đại thực bào, lympho, tế bào nội mô và nguyên bào xơ. Các cytokine có tác dụng kiểm soát quá trình tăng sinh, biệt hóa của tế bào nguồn thành các tế bào máu trưởng thành. Có thể phân loại các yếu tố tăng trưởng tạo máu theo vị trí tác động trên quá trình tạo máu như sau: yếu tố kích thích tạo cụm đa dòng (Multi Colony Stimulating Factor) IL-3, yếu tố tăng trưởng kích thích dòng BC hạt và mono GM-CSF, yếu tố kích thích tạo cụm dòng đại thực bào M-CSF, yếu tố kích thích dòng hạt G-CSF, yếu tố kích thích dòng hồng cầu erythropoietin, yếu tố kích thích dòng máu tiểu cầu thrombopoietin và các IL kích thích tạo máu khác như IL-7, IL-9, IL-10, IL-11, IL-12, IL-13…
Sự điều hòa tạo máu bằng cơ chế ức chế theo hai phương thức: cơ chế điều hòa ngược (feedback) khi tế bào máu tuần hoàn tăng quá mức bình thường làm quá trình tạo máu chậm lại và cơ chế tác động của các cytokine ức chế. Các yếu tố ức chế sinh máu như: yếu tố phát triển chuyển dạng P1, P2, P3 (Transforming growth factor P-TGFβ), H-subunit ferritin, Interferon α, β, γ và TNF α, β, prostaglandin E1 và E2 (PGE), lactoferrin, các chemokin như macrophage inflammatory protein-MIP-1α, MIP-2α, các chuỗi peptid nhỏ như pentapeptid, seraspenid…
Số lượng tế bào máu tuần hoàn luôn luôn giữ ở mức hằng định, do đó thường xuyên có sự cân bằng giữa hai quá trình kích thích tăng sinh và ức chế trong quá trình tạo máu. Ngoài ra sự cân bằng còn do hai quá trình: sinh sản tế bào mới và hủy tế bào già. Đời sống hồng cầu bình thường khoảng 100 – 120 ngày, bạch cầu hạt trung tính khoảng 3 – 5 ngày, tiểu cầu khoảng 5 – 7 ngày. Để điều chỉnh cân bằng mỗi giờ tủy xương cần sinh ra 10¹² hồng cầu, 10⁸ – 10⁹ bạch cầu hạt.
1.2.3. Hình ảnh máu tủy xương
Chọc hút tủy xương, nghiên cứu tế bào ở máu tủy (tủy đỏ) giúp ích cho việc đánh giá sự tạo máu trong tủy xương. Giới hạn của từng loại tế bào máu trong tủy thay đổi trong phạm vi khá rộng; tùy theo từng lứa tuổi trẻ. Số lượng tế bào tủy bình thường từ 30 x 10⁹/l đến 100 x 10⁹/l. Tỷ lệ các loại tế bào tủy ở trẻ bình thường được trình bày trong bảng sau:
Bảng 5.1. Tỷ lệ tế bào máu tủy xương ở trẻ em
| Tế bào (%) | Dưới 1 tuổi | 2 tuổi | 3 tuổi | Trẻ lớn |
| Tế bào liên võng
Huyết tổ chức bào Nguyên huyết bào |
0,8 | 0,5 | 0,2 | 0 – 1
0 – 0,02 0 – 0,1 |
| Nguyên tủy bào
Tiền tủy bào Tủy bào: – Trung tính – Ưa eosin – Ưa base Hậu tủy bào: – Trung tính – Ưa eosin – Ưa base Bạch cầu đũa: – Trung tính – Ưa eosin – Ưa base Bạch cầu đoạn: – Trung tính – Ưa eosin – Ưa base |
8,4
4,05
22,3 0 0
19,1 0,9 0
15,7 0,8 0,2
3,8 0,3 0,08 |
7,2
3,6
24,0 0 0
19,3 0,9 0,5
16,0 0,8 0,2
4,0 0,7 0,1 |
6,2
3,1
25,5 0 0
21,5 1,3 0,8
14,5 1,7 0
4,2 1,4 0,16 |
0,5 – 1,5
1,0 – 3,0
7,0 – 15,0 0,5 – 3,0 0
6,0 – 15,0 0,5 – 1,0 0
5 – 15 0 – 0,3 0
10 – 30 1 – 4 0,5 – 1 |
| Nguyên bào lympho
Tiền lympho Lympho Nguyên bạch cầu đơn nhân to Bạch cầu đơn nhân to Nguyên tương bào Tương bào |
0,6
0 14,1 0,45 4,7 0 1,3 |
0,3
0 13,3 0,3 4,4 0 0,8 |
0,3
0 10,9 0,2 3,2 0 0,7 |
0 – 0,1
0 – 0,1 5 – 12 0 0 – 2 0 0,1 |
| Tiền nguyên hồng cầu
Nguyên hồng cầu ưa base Nguyên hồng cầu đa sắc Nguyên hồng cầu ưa acid Nguyên hồng cầu khổng lồ |
0,3
7,1 13,5 4,6 0,25 |
0,6
5,0 15,0 4,0 0,56 |
0,6
6,2 15,1 4,6 0,52 |
0 – 0,5
1 – 7 3 – 14 10 – 20 0 |
| Nguyên mẫu tiểu cầu
Mẫu tiểu cầu ưa base Mẫu tiểu cầu có hạt chứa sinh tiểu cầu Mẫu tiểu cầu có hạt đang sinh tiểu cầu Nhân trơ |
0,9
0
0,53 |
1,2
0
0,6 |
1,25
0
0,64 |
0 – 0,5 Mẫu tiểu cầu
5 – 20 40 – 50 10 – 30 5 – 10 |
| Tỷ lệ hồng cầu/bạch cầu | 1/3 | 1/3,9 | 1/3,9 | 1/3 |
(Nguồn: Từ Nhi khoa. Bộ môn Nhi Trường Đại học Y Hà Nội, Y học 1983; 68)
2. ĐẶC ĐIỂM MÁU NGOẠI BIÊN TRẺ EM
2.1. Hồng cầu, hemoglobin và các chỉ số hồng cầu
Số lượng hồng cầu thay đổi tùy theo tuổi. Trẻ sơ sinh đủ tháng lúc mới sinh, số lượng hồng cầu rất cao, từ 4,5 – 6,0 × 10¹²/l. Nhưng sau đó, số lượng hồng cầu bắt đầu giảm rất nhanh, vào ngày thứ 2 – 3 sau sinh bắt đầu có hiện tượng vàng da sinh lý, là lúc bị vỡ một số hồng cầu, số lượng hồng cầu giảm dần, đến hết thời kỳ sơ sinh, hồng cầu còn khoảng 4,0 – 4,5 × 10¹²/l.
Ở trẻ nhỏ dưới 1 tuổi, số lượng hồng cầu còn giảm, nhất là lúc 6 – 12 tháng, số lượng hồng cầu khoảng 3,2 – 3,5 × 10¹². Nguyên do là ở thời kỳ này, trẻ lớn nhanh, sự tạo máu tủy mạnh nhưng chưa đáp ứng được, trong khi đó, hệ tiêu hóa còn kém, có thể gây thiếu một số yếu tố tạo máu. Vì thế, thiếu máu nhẹ lúc 6 – 12 tháng còn gọi là thiếu máu sinh lý.
Từ trên 1 tuổi, số lượng hồng cầu ổn định dần, trên 2 tuổi số lượng hồng cầu trên 4,0 × 10¹²/l.
Số lượng hemoglobin (Hb) cũng thay đổi nhiều ở trẻ nhỏ. Lúc mới sinh, lượng Hb có thể từ 170 – 190 g/l, sau đó giảm dần. Ở trẻ dưới một tuổi, lượng hemoglobin tiếp tục giảm, nhất là lúc 6 – 12 tháng tuổi, lượng Hb có thể chỉ còn 100 – 120 g/l. Lúc này, trẻ có hiện tượng thiếu sắt do dự trữ sắt có được trong thai kỳ đã sử dụng hết và khả năng hấp thu sắt của trẻ lúc này còn yếu, trong khi cơ thể đang lớn nhanh. Ở trẻ trên 1 tuổi, lượng Hb lại tăng dần, trên 3 – 6 tuổi lượng Hb ổn định từ 120 – 140 g/l.
Thể tích trung bình hồng cầu (MCV) ở trẻ sơ sinh tương đối lớn, trên 100 fl. Hình thái hồng cầu máu ngoại biên không đồng đều, hồng cầu to nhỏ khác nhau, nhiều hồng cầu to, nhất là ở thời kỳ sơ sinh. Đường kính trung bình hồng cầu lúc sơ sinh khá lớn, khoảng 8,6 µm, lúc 10 ngày là 8,3 µm, 1 tháng là 8,1 µm, 3 tháng là 7,2 µm.
Lượng Hb trung bình hồng cầu (MCH) ở trẻ sơ sinh tương đối cao (36 pg), lúc 6 – 12 tháng thì thấp hơn (28 pg), hồng cầu lúc này hơi nhược sắc, từ trên 1 tuổi thì ổn định (khoảng 30 pg).
Nồng độ Hb trung bình hồng cầu (MCHC) thay đổi ít hơn, từ 300 – 330 g/l (Bảng 5.2).
Hồng cầu lưới ở trẻ sơ sinh khá cao. Bình thường ở trẻ ngoài tuổi sơ sinh, tỷ lệ hồng cầu lưới ở máu ngoại biên từ 0,5 – 1%.
Ở trẻ sơ sinh 1 – 3 ngày, tỷ lệ hồng cầu lưới có thể 8 – 10%. Ở trẻ sơ sinh 4 ngày, tỷ lệ hồng cầu lưới có thể 0,5 – 2%.
Dựa vào tỷ lệ hồng cầu lưới và hematocrit để tính chỉ số hồng cầu lưới, là chỉ số phản ánh khá chính xác sự sinh hồng cầu.
Chỉ số hồng cầu lưới = Tỷ lệ hồng cầu lưới × Hct bệnh nhân / Hct bình thường
(Ví dụ: Tỷ lệ hồng cầu lưới là 6%, Hct là 15%, chỉ số hồng cầu lưới = 6 × 15/45 = 2%).
Bệnh nhân có chảy máu hay tan máu chỉ số hồng cầu lưới ít nhất là 3%, trường hợp thiếu máu do giảm sinh hồng cầu, chỉ số này dưới 3%, thường dưới 1,5%.
Nguyên hồng cầu có thể thấy ở máu sơ sinh, nhất là ở trẻ sơ sinh non tháng, từ 3 – 6%. Hiện tượng tăng hồng cầu lưới và nguyên hồng cầu ở máu ngoại biên trẻ sơ sinh chứng tỏ sự tạo máu ở trẻ lúc này rất mạnh.
Bảng 5.2. Các chỉ số hồng cầu theo tuổi (theo Hằng số sinh học người Việt Nam, 1975 và (*) các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ 90 – thế kỷ XX)
| Lứa tuổi | Hồng cầu (10¹²/l) | Hemoglobin (g/l) | MCH (pg) | MCHC (g/l) | MCV (fl) |
| Sơ sinh 1 – 3 ngày | 5,1 ± 0,36 | ||||
| Sơ sinh 4 – 6 ngày | 4,9 ± 0,38 | 108 ± 18 | 36,9 | ||
| Sơ sinh > 7 ngày | 4,7 ± 0,49 | 170 ± 14 | 36,1 | ||
| Sơ sinh (*) | 4,24 ± 0,46 | 149 ± 59 | 36 ± 1 | 336 ± 21 | |
| 3 – 6 tháng | 4,2 ± 0,65 | 118 ± 5,6 | 28,1 | 328 ± 30 | |
| 6 – 12 tháng | 3,9 ± 0,66 | 111,8 ± 11 | 28,4 | 296 ± 40 | |
| 12 – 18 tháng | 3,87 ± 0,12 | 115,3 ± 9,7 | 30,3 | 326 ± 29 | |
| 18 – 24 tháng | 3,9 ± 0,41 | 120,3 ± 11,6 | 30,8 | 338 ± 45 | |
| 24 – 30 tháng | 4,04 ± 0,38 | 124,5 ± 10 | 31,1 | 342 ± 20 | |
| 30 – 36 tháng | 4,03 ± 0,51 | 120,8 ± 10 | 30,2 | 336 ± 23 | |
| 2 – 6 tuổi (*) – Nam | 4,88 ± 0,38 | 126 ± 10 | 25 ± 2 | 332 ± 18 | 79 ± 5 |
| 2 – 6 tuổi (*) – Nữ | 4,85 ± 0,44 | 127 ± 10 | 26 ± 2 | 333 ± 36 | 80 ± 5 |
| 7 – 17 tuổi (*) – Nam | 4,78 ± 0,44 | 128 ± 10 | 26 ± 2 | 332 ± 5 | 81 ± 6 |
| 7 – 17 tuổi (*) – Nữ | 4,80 ± 0,49 | 128 ± 9 | 26 ± 3 | 329 ± 5 | 81 ± 6 |
Thành phần huyết sắc tố:
Sau khi sinh thành phần hemoglobin khác hẳn trong thai kỳ bào thai, thay đổi rất nhanh trong năm đầu tiên sau khi sinh do có sự thay đổi sinh tổng hợp mạch globin trong thời kỳ phát triển trẻ em (Hình 5.3). Lúc mới sinh lượng HbF (α₂γ₂) rất cao, tới 60 – 80% Hb toàn phần, sau đó giảm nhanh, đến lúc 1 tuổi lượng HbF còn khoảng dưới 1% Hb toàn phần. Ngược lại Hb trưởng thành là HbA1 (α₂β₂) lúc mới sinh chỉ có khoảng 20 – 40% Hb toàn phần, sau đó tăng nhanh, thay thế HbF giảm nhanh, đến lúc 1 tuổi HbA1 khoảng 97 – 98% Hb toàn phần. Còn HbA2 (α₂δ₂) bắt đầu được tổng hợp ở cuối thai kỳ, lúc sinh chỉ có 0,03 – 0,6% Hb toàn phần, sau sinh tăng dần, cho đến 1 tuổi trở đi chỉ có một lượng nhỏ, từ 2 – 3% Hb toàn phần. Từ trên 1 tuổi thành phần Hb ổn định giống người lớn (Bảng 5.3).
Hình 5.3. Vị trí tạo hồng cầu và sinh tổng hợp mạch globin trong thời kỳ phát triển trẻ em
(Nguồn: Theo Weatherall DG. và Clegg JB. The Thalassemia Syndrome, Blackwell Sc Publ, 1981: 54)
Bảng 5.3. Thành phần huyết cầu tố ở trẻ em bình thường
| Tuổi | HbA1 (%) | HbA2 (%) | HbF (%) |
| Sơ sinh | 20 – 40 | 0,03 – 0,6 | 60 – 80 |
| 2 tháng | 40 – 70 | 0,9 – 1,6 | 30 – 60 |
| 4 tháng | 80 – 90 | 1,8 – 2,9 | 10 – 20 |
| 6 tháng | 93 – 97 | 2,0 – 3,0 | 1,0 – 5,0 |
| 12 tháng | 97 | 2,0 – 3,0 | 0,4 – 2,0 |
| 5 tuổi và người lớn | 97 | 2,0 – 3,0 | 0,4 – 2,0 |
(Nguồn: Begemann 1975, Kleihaner 1978)
2.2. Bạch cầu
Số lượng bạch cầu thay đổi nhiều theo tuổi. Nhìn chung số lượng bạch cầu máu ngoại biên ở trẻ nhỏ cao hơn ở trẻ lớn.
Ở trẻ sơ sinh lúc mới sinh số lượng bạch cầu rất cao và thay đổi từ 10 × 10⁹/l đến 100 × 10⁹/l. 24 giờ sau khi sinh, số lượng bạch cầu bắt đầu giảm, 7 – 15 ngày sau khi sinh, số lượng bạch cầu giảm xuống còn 10 – 12 × 10⁹/l, giống số lượng bạch cầu ở thời kỳ bú mẹ. Ở trẻ trên 1 tuổi, số lượng bạch cầu mới ổn định, trung bình từ 6 – 8 × 10⁹/l.
Công thức bạch cầu cũng thay đổi nhiều theo tuổi (Bảng 5.4).
Bạch cầu trung tính ở trẻ sơ sinh trong những giờ đầu sau sinh (6 – 8 giờ) giống như ở người lớn, chiếm tỷ lệ 60 – 65% số lượng bạch cầu. Sau đó bạch cầu trung tính bắt đầu giảm, vào ngày thứ 7 sau sinh khoảng 45% bạch cầu. Trong năm đầu và năm thứ hai, bạch cầu trung tính tiếp tục giảm, lúc 9 – 10 tháng giảm nhiều nhất, còn khoảng 30% bạch cầu. Lúc trên 1 – 2 tuổi, bạch cầu trung tính tăng dần, vào lúc 5 – 7 tuổi khoảng 45%, sau đó tiếp tục tăng, đến lúc trên 14 tuổi giống như người lớn (60 – 65%).
Ngược lại, bạch cầu lympho khi mới sinh chỉ chiếm khoảng 20 – 30% số bạch cầu. Cùng thời gian bạch cầu trung tính giảm và tăng, tỷ lệ bạch cầu lympho ngược lại tăng và giảm, lúc 5 – 7 ngày, bạch cầu lympho tăng lên 45%, lúc 9 – 10 tháng tăng tới 60%, sau đó giảm dần, lúc 5 – 7 tuổi khoảng 45%, và 14 tuổi giảm còn 30% và ổn định.
Các loại bạch cầu khác ít thay đổi, bạch cầu ưa eosin 1 – 2%, bạch cầu ưa base 0,1 – 1%; bạch cầu đơn nhân to từ 0,5 – 1,0 × 10⁹/l, thay đổi từ 4 – 8% bạch cầu (Bảng 5.4).
Bảng 5.4. Số lượng và công thức bạch cầu (theo Hằng số sinh học người Việt Nam 1975 và (*) các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ 90 – thế kỷ XX)
| Tuổi | Bạch cầu (10⁹/l) | BC trung tính (%) | BC lympho (%) | BC ưa eosin (%) | BC ưa base (%) | BC đơn nhân to (%) |
| 1 – 3 ngày | 15,4 ± 9,5 | 63 ± 10 | 29 ± 4 | 2 ± 2 | 1,2 ± 0,5 | 5 ± 4,7 |
| 4 – 6 ngày | 11,2 ± 2,5 | 48 ± 15 | 38 ± 14 | 3,2 ± 2 | 1,1 ± 0,5 | 5 ± 4,2 |
| > 7 ngày | 11,0 ± 1,9 | 43 ± 13 | 47 ± 12 | 3,0 ± 2 | 1,1 ± 0,5 | 6 ± 4,2 |
| Sơ sinh (*) | 14,9 (8,2 – 27,5) | 49 | 40 | 11 | ||
| 2 – 6 tuổi (*) – Nam | 10,4 ± 3,0 | 45 ± 11 | 44,6 ± 9,5 | 7,5 ± 5 | 12,9 | |
| 2 – 6 tuổi (*) – Nữ | 10,1 ± 4,5 | 42,7 ± 10 | 46,6 ± 9,0 | 8,7 ± 5 | 12,5 | |
| 7 – 17 tuổi (*) – Nam | 9,7 ± 2,4 | 45,9 ± 8,9 | 43,8 ± 7,9 | 9,2 ± 5,7 | 12,3 | |
| 7 – 17 tuổi (*) – Nữ | 9,2 ± 2,1 | 47,1 ± 9,4 | 45,9 ± 8,0 | 8,3 ± 5,4 | 11,3 |
2.3. Tiểu cầu
Trẻ sơ sinh, số lượng tiểu cầu từ 100 – 400 × 10⁹/l. Ngoài tuổi sơ sinh, số lượng tiểu cầu từ 150 – 300 × 10⁹/l.
2.4. Khối lượng máu
Khối lượng máu tuần hoàn cũng thay đổi theo tuổi. So với cân nặng, khối lượng máu/kg cân nặng ở trẻ em nhiều hơn người lớn.
Khối lượng máu tuần hoàn:
Trẻ sơ sinh khoảng 14% trọng lượng cơ thể.
Trẻ dưới 1 tuổi khoảng 11% trọng lượng cơ thể. Trẻ lớn khoảng 7 – 8% trọng lượng cơ thể.
Ở trẻ mới sinh, khối lượng máu tuần hoàn còn phụ thuộc vào thời gian cặp cuống rốn, cặp cuống rốn chậm và đúng lúc có thể nhận thêm 100 ml máu so với trẻ cặp và cắt cuống rốn quá sớm.
2.5. Các yếu tố đông máu
Lúc mới sinh, các yếu tố II, VII, X, IX, XI, XII đều thấp hơn bình thường, tỷ lệ prothrombin chỉ bằng 65 ± 20,4%, thấp nhất vào ngày thứ 3 – 4 sau sinh, đạt mức bình thường sau 1 tuần (80 – 100%).
Cập nhật thông tin mới nhất về kiến thức y học và test y học tại facebook TEST Y HỌC
Tham gia nhóm zalo: Tài Liệu Y Học Tổng Hợp
Ôn thi nội trú, sau đại học TẠI ĐÂY
