Hen Phế Quản Ở Trẻ Em

Bài 24

HEN PHẾ QUẢN Ở TRẺ EM

 

1. ĐẠI CƯƠNG

1.1. Định nghĩa

Hen phế quản: là bệnh không đồng nhất, thường đặc trưng bởi viêm mạn tính đường thở. Hen phế quản có hai đặc điểm cơ bản là: Có tiền sử có các triệu chứng về hô hấp như khò khè, thở gấp, nặng ngực và ho thay đổi theo thời gian, cường độ và giới hạn luồng khí thở ra dao động.

1.2. Dịch tễ học

Hen phế quản là bệnh hô hấp mạn tính phổ biến nhất ở trẻ em. Trên thế giới có 300 triệu người mắc bệnh hen, với khoảng 20 vạn ca tử vong do hen. Theo Nghiên cứu về hen và dị ứng ở trẻ em – ISAAC (International Study of Asthma and Allergies in Children) tỷ lệ mắc hen phế quản ở trẻ em thay đổi tùy theo từng nước, dao động từ 3 – 20%. Các nước nói tiếng Anh, các nước vùng ven biển, vùng ôn đới có tỷ lệ trẻ mắc hen cao nhất. Ngược lại, những nước đang phát triển hoặc các nước nhiệt đới, tỷ lệ trẻ mắc hen phế quản thường thấp hơn.

Tỷ lệ mắc hen phế quản thay đổi tùy theo lứa tuổi. Theo ISAAC, tỷ lệ mắc hen ở nhóm trẻ 6 – 7 tuổi dao động từ 4 – 32% tùy theo từng nước. Tỷ lệ mắc hen cao ở các nước nói tiếng Anh và châu Mỹ – Latinh, trong khi lại thấp ở các nước khác.

Nghiên cứu tỷ lệ mắc hen ở trẻ em nhóm 13 – 14 tuổi cũng cho kết quả tương tự, tỷ lệ mắc hen dao động từ 2% – 26%. Tỷ lệ hen phế quản thấp ở các Đông Âu, và cao ở các nước châu Mỹ – Latinh và các nước nói tiếng Anh. Sự khác biệt về chủng tộc cũng không thể lý giải hết sự khác biệt về tỷ lệ mắc hen phế quản. Người ta thấy rằng trẻ từ các nước có tỷ lệ hen phế quản thấp nhập cư vào các nước có tỷ lệ hen phế quản cao sẽ tăng tỷ lệ mắc hen tương tự như tỷ lệ mắc hen ở nước sở tại. Điều này dẫn tới giả thiết rằng yếu tố môi trường đóng vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh trong hen phế quản.

Ở Việt Nam: Khảo sát tỷ lệ mắc hen trên cả nước thấy độ lưu hành hen phế quản là 3,9%; trẻ em là 3,2%; người lớn là 4,3%. Tỷ lệ nam/nữ ở trẻ em là 1,63/1 và ở người lớn là 1,24/1. Độ lưu hành hen cao nhất ở Nghệ An là 6,9% và thấp nhất ở Bình Dương là 1,5%. Tỷ lệ mắc hen phế quản đã tăng gấp đôi trong hơn 20 năm, từ 2,5% năm 1981 đến 5% vào năm 2011.

2. CÁC YẾU TỐ KHỞI PHÁT CƠN HEN PHẾ QUẢN CẤP

Cơn hen phế quản cấp có thể xảy ra vào các thời điểm khác nhau trong năm, gây ra bởi các yếu tố kích thích khác nhau và gây ra các phản ứng viêm khác nhau.

2.1. Nhiễm virus đường hô hấp

Nhiễm virus đường hô hấp là nguyên nhân chủ yếu gây khởi phát cơn hen cấp. Nhiễm virus gặp ở 80% các trường hợp có giảm dung lượng đỉnh trong hen phế quản. Virus hợp bào hô hấp và cúm là nguyên nhân chủ yếu gây khò khè ở trẻ nhỏ, Rhinovirus và cúm là nguyên nhân thường gặp gây cơn hen cấp ở trẻ lớn. Nhiễm Rhinovirus là nguyên nhân chủ yếu gây khò khè ở trẻ lớn và người lớn, chiếm tới 60% trong các giai đoạn khò khè. Những nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng Rhinovirus là nguyên nhân chủ yếu gây cơn hen cấp ngay cả ở trẻ nhỏ.

2.2. Tiếp xúc với dị nguyên đường hít

  • Dị nguyên trong nhà: Các dị nguyên trong nhà thường gặp là mạt nhà, lông các súc vật nuôi trong nhà như chó, mèo, chim…, gián hay bào tử nấm. Dị nguyên trong nhà đóng vai trò quan trọng trong khởi phát cơn hen cấp. Khi tiếp xúc với một lượng lớn mạt nhà, cơn hen cấp có thể xảy ra. Có mối liên quan rất chặt chẽ giữa nồng độ mạt nhà và mức độ tăng mẫn cảm đường thở, tăng triệu chứng cơn hen, giảm dung lượng đỉnh ở trẻ hen phế quản có tăng mẫn cảm với mạt nhà. Giảm nồng độ mạt nhà liên quan đến cải thiện triệu chứng hen phế quản, dung lượng đỉnh, FEV1, giảm tính mẫn cảm đường thở, giảm cả IgE toàn phần và IgE đặc hiệu.
  • Dị nguyên ngoài nhà: Bằng chứng dị nguyên bên ngoài gây cơn hen cấp không rõ ràng. Có mối liên quan chặt chẽ khi tiếp xúc với phấn hoa, bào tử nấm và tần suất hen nhập viện ở Mexico City. Người hen phế quản tiếp xúc với bào tử nấm gây cơn hen cấp, giảm chức năng hô hấp và tăng sử dụng thuốc cắt cơn hen. Tuy nhiên, sự khác nhau về nồng độ dị nguyên môi trường gây cơn hen phế quản khác nhau giữa các nghiên cứu.

2.3. Hen do gắng sức (Exercise induced asthma – EIA)

Gắng sức gây các triệu chứng hen phế quản và tắc nghẽn đường thở có hồi phục. Hen do gắng sức hay gặp ở trẻ em và thanh thiếu niên. Gắng sức gây co thắt phế quản gặp ở 40% – 90% trẻ hen. Chất trung gian gây viêm đóng vai trò chính trong hen do gắng sức. Chẩn đoán hen do gắng sức không khó, tuy nhiên một số người triệu chứng không điển hình. Hầu hết trẻ với hen do gắng sức đáp ứng tốt với thuốc giãn phế quản tác dụng nhanh (short acting beta agonists) nhưng một số cần các thuốc hen khác hỗ trợ, bao gồm cả corticosteroid dạng hít (ICS).

2.4. Khói thuốc lá

Khói thuốc lá từ bố mẹ, anh chị em, đồng nghiệp, khách hàng liên quan chặt chẽ đến cơn hen cấp, độ mẫn cảm đường thở, nhiễm khuẩn đường hô hấp và tần suất nhập viện ở trẻ hen phế quản. Hen không kiểm soát hay gặp ở trẻ thường xuyên tiếp xúc với khói thuốc lá. Trẻ có bố mẹ hút lá có tăng tần số khò khè, khò khè khi gắng sức, ho về đêm, và các triệu chứng viêm mũi trong vòng 12 tháng. Triệu chứng hen giảm khi tiếp xúc với khói thuốc lá giảm đi.

2.5. Ô nhiễm môi trường

Ô nhiễm môi trường liên quan đến cơn hen cấp ở trẻ em. Nghiên cứu chỉ ra rằng chức năng hô hấp giảm, tăng mẫn cảm đường thở và tăng triệu chứng của đường hô hấp ở người tiếp xúc với khí ozone cho dù người đó có bị hen hay không. Một nghiên cứu ở 5 thành phố tại Úc và 2 thành phố ở New Zealand cho thấy mối liên quan giữa ô nhiễm môi trường và tăng số lần nhập viện trong thời gian ngắn bởi cơn hen cấp ở trẻ 5 – 14 tuổi.

Tiếp xúc với ô nhiễm môi trường trong thời gian dài làm tăng tình trạng ho mạn tính và giảm chức năng phổi. Trẻ hen phế quản tiếp xúc với nồng độ cao ozone và ô nhiễm môi trường sẽ làm nặng thêm các cơn hen cấp tính và tăng sử dụng thuốc điều trị hen.

2.6. Thay đổi thời tiết

Thay đổi thời tiết thường liên quan đến tần suất nhập viện của trẻ hen phế quản. Cơn hen cấp tính thường xảy ra sau cơn giông bão. Triệu chứng hen hay xuất hiện khi nhiệt độ thấp.

2.7. Yếu tố tâm lý

Yếu tố tâm lý được cho là có ảnh hưởng đến sự bùng phát của hen phế quản. Cơn hen cấp thường liên quan đến tâm trạng và lo sợ. Qua xúc động làm tăng sức đề kháng tại đường thở ở người hen phế quản.

Yếu tố tâm lý như cười, stress, buồn bực cũng liên quan đến cơn hen cấp. Liangas thấy rằng 42% trẻ hen phế quản có khởi phát cơn hen bởi tiếng cười. Cười được xem là yếu tố kích thích khởi phát cơn hen cấp, thường gặp ở người kiểm soát hen kém, cơ chế khởi phát hen còn chưa rõ.

3. CƠ CHẾ SINH BỆNH HỌC CỦA HEN PHẾ QUẢN

Hen là một bệnh phức tạp được đặc trưng bởi viêm mạn tính đường hô hấp, tăng mẫn cảm đường thở, đường thở bị tắc nghẽn ở các mức độ khác nhau, và có tái tạo lại đường thở. Trong đó, viêm tại đường hô hấp là đặc tính cơ bản của hen phế quản.

*Viêm đường thở

Viêm đường thở gặp cả ở hen dị ứng và hen không dị ứng, với tất cả các mức độ nặng nhẹ của bệnh.

Viêm đường thở trong hen được mô tả với sự tập trung bất thường của các tế bào viêm tại đường thở như bạch cầu ái toan, bạch cầu đa nhân trung tính, bạch cầu lympho, dưỡng bào, bạch cầu ưa kiềm, đại thực bào, tế bào gai và tế bào xơ tại đường thở. Đồng thời, có sự tăng lên cơ trơn đường thở, tăng nhầy quanh trong lòng phế quản, tăng sản tế bào trụ của biểu mô, bong tế bào nội mô, dày lên màng đáy, giãn rộng các tuyến nhầy và dày lên thành phế quản.

*Tăng mẫn cảm đường thở (Airway hyperresponsiveness – AHR)

Cơ chế tăng mẫn cảm đường thở trong hen phế quản chưa rõ. Cơ chế tăng mẫn cảm đường thở âm ỉ hay dai dẳng có thể có khác biệt.

– Viêm đường thở

Viêm tại đường thở và tăng mẫn cảm đường thở là cơ chế chính trong hen.

Nghiên cứu chỉ ra rằng kích thích tăng mẫn cảm đường thở làm tăng phản ứng viêm tại đường thở. Cải thiện tình trạng viêm tại đường thở bằng điều trị giúp cải thiện tăng mẫn cảm đường thở. Mối liên quan giữa viêm và tăng mẫn cảm đường thở giả định rằng viêm tại đường thở góp phần vào cơ chế tăng mẫn cảm đường thở trong hen.

– Cơ học

Trẻ có tăng mẫn cảm đường thở thì đường kính đường thở bị thu hẹp, tăng độ dày thành khi phế quản, tăng tính thấm đường thở. Quan sát này giả thiết rằng cơ chế tăng mẫn cảm đường thở liên quan đến giảm đường kính đường thở.

– Biến đổi cơ trơn đường thở

Cơ trơn đường thở có vai trò trong đáp ứng với các kích thích khác nhau thông qua những con đường khác nhau. Sự thay đổi cấu trúc hoặc chức năng của cơ trơn đường thở ảnh hưởng đến đáp ứng đường thở. Sự co thắt quá mức của cơ trơn đường thở khi tiếp xúc với các kích thích mẫn cảm thường gặp ở bệnh nhân hen. Sự chít hẹp đường thở bởi tái tạo lại cơ trơn đường thở bao gồm phì đại cơ trơn (tăng kích thước cơ trơn), tăng sinh cơ trơn (tăng số lượng tế bào cơ trơn) góp phần vào tăng mẫn cảm đường thở.

*Tắc nghẽn đường thở

Viêm đường thở, tắc nghẽn đường thở và tăng mẫn cảm đường thở là đặc tính cơ bản của hen. Trên lâm sàng, tắc nghẽn đường thở có thể hồi phục hoặc không hồi phục. Ở trẻ em, tắc nghẽn đường thở thường hồi phục, tuy nhiên một số trẻ lớn và người lớn tắc nghẽn đường thở thường khó hồi phục.

*Tái tạo lại đường thở

Ở bệnh nhân hen phế quản, chức năng hô hấp giảm dần theo thời gian. Thay đổi về tế bào học và mô bệnh học cấu trúc đường thở giải thích sự giảm chức năng hô hấp ở bệnh nhân hen phế quản. Sự tái tạo lại đường thở bao gồm sự tăng sinh tế bào cơ trơn, xơ hóa dưới biểu mô, tăng kích thước và số lượng vi mạch dưới niêm mạc, tăng sinh và phì đại cơ trơn đường thở, phì đại các tuyến dưới niêm mạc.

Sự thay đổi cấu trúc đường thở xảy ra ở tất cả các mức độ của hen. Khi sự tăng sinh tế bào có chân và sự lắng đọng collagen ở lớp dưới biểu mô có thể xuất hiện thậm chí ở hen rất nhẹ, sự tăng sinh tế bào cơ trơn đường thở và thể tích tuyến thường xảy ra ở hen nặng, hậu quả làm dày lên thành đường hô hấp và làm hẹp đường thở. Cho dù mức độ dày của thành phế quản khác nhau, nhưng vẫn tăng cao ở bệnh nhân hen phế quản so với người bình thường.

Quá trình tái tạo lại đường thở kết hợp với sự thâm nhiễm của viêm mạn tính góp phần làm hạn chế lưu thông khí trong hen phế quản. Giảm khẩu kính đường thở dẫn tới tăng kháng trở tại đường thở. Tái tạo lại đường thở ảnh hưởng đến chức năng hô hấp trong hen, góp phần làm tăng mẫn cảm đường thở và tắc nghẽn đường thở có hồi phục.

4. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG CỦA CƠN HEN CẤP

Cơn hen cấp: là đợt cấp tính hoặc bán cấp xấu đi của triệu chứng lâm sàng và chức năng hô hấp so với tình trạng thông thường của bệnh nhân. Cơn hen cấp có thể xảy ra ngay cả khi bệnh nhân đang điều trị dự phòng hen. Cơn hen cấp thường xảy ra vào nửa đêm hoặc vào sáng sớm hoặc sau gắng sức.

*Triệu chứng cơ năng

Ho: khởi đầu là ho khan, sau xuất tiết nhiều đàm dãi, ho dai dẳng, ho nhiều nửa đêm về sáng, nhất là khi thay đổi thời tiết.

Khạc đàm: đàm trắng, bóng, dính. Soi dưới kính hiển vi thấy nhiều bạch cầu ái toan.

Khó thở: chủ yếu khó thở thì thở ra, thì thở ra kéo dài. Trường hợp nhẹ khó thở xuất hiện khi gắng sức, khi ho, khi cười, thay đổi cảm xúc.

Khò khè: khò khè lan tỏa, chủ yếu nửa đêm về sáng. Trước khi khò khè thường xuất hiện một số dấu hiệu báo trước như hắt hơi, ngứa mũi, ngạt mũi, chảy nước mũi, hoặc một số triệu chứng khác như chán ăn, đau bụng, nặng ngực…

Nặng ngực: hay gặp dấu hiệu này ở trẻ lớn.

*Triệu chứng thực thể

Gõ phổi: có thể thấy vang hơn bình thường, lồng ngực như bị giãn ra.

Nghe phổi: nghe chủ yếu ran rít, ran ngáy, tiếng khò khè, thì thở ra mạnh và kéo dài. Trong trường hợp nặng, thông khí phế nang giảm thì nghe giảm hoặc mất thông khí phổi (phổi câm).

Trường hợp hen phế quản kéo dài, lồng ngực có thể bị nhô ra phía trước, biến dạng.

*Cận lâm sàng

  • Máu: Công thức máu thường bình thường.

Có thể có tăng bạch cầu ái toan, thường trên 5%. Nồng độ IgE thường tăng.

  • X-quang tim phổi: Giai đoạn đầu phim chụp phổi thường bình thường, sau đó xuất hiện hiện tượng khí phế thũng, lồng ngực giãn rộng, có hiện tượng ứ khí. Nếu bệnh nhân ho khạc nhiều đàm có thể thấy các biến chứng tắc nghẽn trên phim X-quang, có thể thấy hình ảnh rối loạn thông khí, xẹp phổi.
  • Khí máu: được làm khi bệnh nhân có suy hô hấp.

Trường hợp hen nặng, có hiện tượng tắc nghẽn đường thở, pH có thể giảm do nhiễm toan. PaO₂ giảm, PaCO₂ tăng. Độ bão hòa oxy giảm theo mức độ nặng của cơn hen cấp, cơn hen càng nặng, độ bão hòa oxy càng giảm.

  • Đo lưu lượng đỉnh (Peak Flow meter): là phương tiện gọn nhẹ, đơn giản, dễ đo lưu lượng khí thở ra (PEF), phương pháp này giúp chẩn đoán, đánh giá mức độ nặng của hen. Lưu lượng đỉnh giảm theo độ nặng cơn hen cấp.
  • Thăm dò chức năng hô hấp: đánh giá mức độ nặng của hen, độ tắc nghẽn đường thở cũng như hiệu quả điều trị.

FEV1 giảm
FVC giảm

Tỷ lệ FEV1/FVC giảm
Dung tích cặn tăng (RV).

5. CHẨN ĐOÁN MỨC ĐỘ NẶNG CỦA CƠN HEN CẤP

Do chức năng hô hấp thường chỉ đo được ở trẻ trên 5 tuổi, trên lâm sàng phân độ cơn hen cấp được chia thành 2 nhóm. Trẻ trên 5 tuổi dựa vào triệu chứng lâm sàng và chức năng hô hấp. Trẻ dưới 5 tuổi chủ yếu dựa vào triệu chứng lâm sàng.

Trẻ trên 5 tuổi

Dấu hiệu Nhẹ Trung bình Nặng Đe dọa tính mạng
Ý thức Tỉnh Tỉnh, ít kích thích Kích thích U ám, lơ mơ
Nói Nói câu dài Nói câu ngắn Nói từng cụm từ Không nói được
Tư thế Có thể nằm được Thích tư thế ngồi hơn nằm Ngồi gập mình về phía trước
Nhịp thở Tăng Tăng >30 lần/phút
Khò khè Trung bình Nặng Nặng Phổi câm
Co kéo cơ hô hấp phụ Không Không Có kéo cơ hô hấp phụ Di động ngực bụng bất thường
Bão hòa oxy >95% 90 – 95% <90%
Mạch (lần/phút) <100 100 – 120 >120 Mạch chậm
PEF >50% giá trị dự đoán hoặc tốt hơn >50% giá trị dự đoán hoặc tốt hơn ≤50% giá trị dự đoán hoặc tốt hơn

Trẻ bằng hoặc dưới 5 tuổi

Dấu hiệu Nhẹ hoặc trung bình Nặng hoặc đe dọa tính mạng (Có một trong các dấu hiệu dưới đây)
Ý thức Tỉnh hoặc kích thích Li bì hoặc u ám, không uống hoặc không nói được
Hô hấp Khó thở Rút lõm lồng ngực hoặc rút lõm khoảng liên sườn
Bão hòa oxy ≥92% <92%
Tim Không Tim trung ương
Khò khè Thay đổi Phổi câm
Mạch Mạch ≤ 200 lần/phút (0 – 3 tuổi) hoặc

≤ 180 lần/phút (4 – 5 tuổi)

Mạch > 200 lần/phút (0 – 3 tuổi) hoặc

> 180 lần/phút (4 – 5 tuổi)

6. CHẨN ĐOÁN

6.1. Chẩn đoán hen phế quản ở trẻ trên 5 tuổi

– Bằng chứng trẻ có tiền sử có các triệu chứng ở đường hô hấp:

+ Các triệu chứng điển hình như ho, khò khè, khó thở, nặng ngực.

+ Bệnh nhân hen phế quản thường có nhiều hơn một triệu chứng + Triệu chứng xảy ra thay đổi theo thời gian và về mức độ nặng.

+ Các triệu chứng thường xảy ra hoặc xấu đi về đêm hoặc về sáng khi thức giấc.

+ Triệu chứng thường khởi phát do gắng sức, cười to, hít phải dị nguyên gây dị ứng hay nhiễm lạnh.

+ Triệu chứng thường xảy ra hoặc xấu đi sau nhiễm virus đường hô hấp.

– Bằng chứng của hạn chế luồng không khí thở ra dao động.

+ Ít nhất trong quá trình chẩn đoán có 1 lần FEV1 thấp, FEV1/FVC thấp. FEV1/FVC ở trẻ em bình thường trên 85%.

+ Dao động của chức năng hô hấp lớn hơn trẻ khỏe mạnh:

  • FEV1 tăng trên 12% sau dùng thuốc giãn phế quản (test phục hồi phế quản dương tính).
  • Giá trị trung bình cung lượng đỉnh trong ngày dao động trên 13%.
  • FEV1 tăng trên 12% sau 4 tuần điều trị bằng thuốc chống viêm.

+ Dao động chức năng hô hấp lớn, nhiều lần giúp chẩn đoán xác định hen phế quản.

+ Test cần nhắc lại khi có triệu chứng, vào buổi sáng sớm và sau khi ngừng dùng thuốc giãn phế quản.

+ Test phục hồi phế quản có thể không dương tính trong cơn hen cấp nặng hay sau nhiễm virus. Nếu test phục hồi phế quản không dương tính trong lần đầu tiên, cần dựa vào các triệu chứng trong cơn hen cấp và các xét nghiệm thăm dò khác.

6.2. Chẩn đoán hen phế quản ở trẻ dưới 5 tuổi

Chủ yếu dựa vào triệu chứng lâm sàng và chẩn đoán phân biệt.

– Triệu chứng lâm sàng như khò khè, ho, thở gấp (gây hạn chế hoạt động) hay xảy ra về đêm hoặc sáng sớm.

– Trẻ có các yếu tố nguy cơ để mắc hen phế quản.

– Đáp ứng với điều trị với các thuốc dự phòng hen.

– Đặc điểm các triệu chứng hen phế quản:

  • Ho: ho khan dai dẳng hoặc tái đi tái lại thường nặng lên về đêm hoặc kết hợp khò khè hoặc khó thở.
  • Ho thường xuất hiện sau gắng sức, cười, khóc, tiếp xúc với khói thuốc lá hoặc ô nhiễm môi trường.
  • Khò khè: tái đi tái lại, thường xảy ra khi ngủ hoặc sau tiếp xúc với các yếu tố kích thích như gắng sức, cúm, khóc, tiếp xúc với khói thuốc lá hoặc ô nhiễm môi trường.
  • Khó thở hoặc thở gấp: xảy ra sau gắng sức, sau cười hoặc khóc.
  • Hạn chế vận động: không có khả năng chạy, chơi, cười đùa như các trẻ bình thường khác.
  • Tiền sử gia đình: mắc các bệnh dị ứng như viêm da cơ địa hoặc viêm mũi dị ứng. Bố và/hoặc mẹ mắc hen phế quản.
  • Điều trị thử bằng corticosteroid dạng hít: Triệu chứng lâm sàng cải thiện sau 2 – 3 tháng điều trị và xấu đi khi ngừng thuốc.

– Chẩn đoán phân biệt: Chẩn đoán xác định hen phế quản ở trẻ nhỏ dưới 5 tuổi là một thách thức vì có một số bệnh cũng gây triệu chứng lâm sàng như ho, khò khè, khó thở giống hen phế quản.

– Một số bệnh cần chẩn đoán phân biệt:

  • Nhiễm virus đường hô hấp tái đi tái lại
  • Trào ngược dạ dày thực quản
  • Dị vật đường thở bỏ quên
  • Nhuyễn khí quản
  • Lao
  • Tim bẩm sinh
  • Vòng mạch
  • Loạn sản phổi
  • Suy giảm miễn dịch bẩm sinh

7. ĐIỀU TRỊ CƠN HEN CẤP TÍNH

7.1. Nguyên tắc

Điều trị theo mức độ nặng của cơn hen cấp.

Nếu trẻ đang có cơn hen nặng, dùng oxygen và giãn phế quản tác dụng ngắn (SABA) ngay lập tức sau hỏi tiền sử và khám lâm sàng.

SABA có thể sử dụng qua buồng đệm hoặc khí dung.

Giám sát điều trị và nhắc lại SABA đến khi hen được kiểm soát.

Sử dụng thuốc chống viêm toàn thân hay tại chỗ tùy theo độ nặng của cơn hen cấp.

Trẻ đang dùng thuốc dự phòng cần tiếp tục dùng thuốc ngay trong cơn hen cấp.

7.2. Điều trị cơn hen cấp theo khuyến cáo của GINA

7.2.1. Cơn hen cấp mức độ nhẹ

– SABA: 2,5 – 5 mg khí dung/lần.

Hoặc SABA 2 – 4 nhát/lần ở trẻ ≤ 5 tuổi hoặc 4 – 10 nhát/lần ở trẻ >5 tuổi qua bình xịt định liều (pMDI) hoặc buồng đệm.

– Nhắc lại sau mỗi 20 phút trong giờ đầu tiên, đánh giá lại sau mỗi lần khí dung.

– Nếu bệnh nhân hen phế quản có một trong các dấu hiệu cảnh báo cơn hen cấp nặng trong tương lai dưới đây (*):

  • Có tiền sử gần như tử vong đòi hỏi phải đặt nội khí quản và thở máy do cơn hen nặng.
  • Nằm viện hoặc phải cấp cứu vì hen trong 12 tháng qua.
  • Hiện không sử dụng ICS, hoặc không tuân thủ điều trị với ICS.
  • Hiện đang sử dụng hoặc mới ngừng sử dụng corticosteroids đường uống (điều này cho thấy mức độ nghiêm trọng gần đây).
  • Sử dụng quá mức SABA, đặc biệt là hơn 1 bình xịt/tháng.
  • Thiếu kế hoạch hành động về điều trị và xử trí hen phế quản.
  • Tiền sử có bệnh tâm lý hoặc các vấn đề tâm lý xã hội.
  • Dị ứng thức ăn được xác định.

– Cần điều trị ngay từ đầu: SABA kết hợp corticosteroid khí dung: 0,5 – 1 mg/lần hoặc prednisolone đường uống 1 – 2 mg/kg/ngày (tối đa 40 mg/ngày). Đánh giá lại bệnh nhân sau 1 giờ.

7.2.2. Cơn hen cấp mức độ trung bình

  • SABA: 2,5 – 5 mg khí dung/lần.

Hoặc SABA 2 – 4 nhát/lần ở trẻ ≤ 5 tuổi hoặc 4 – 10 nhát/lần ở trẻ >5 tuổi qua bình xịt định liều (pMDI) hoặc buồng đệm.

  • Nhắc lại sau mỗi 20 phút trong giờ đầu tiên, đánh giá lại sau mỗi lần khí dung.
  • Sau khi dùng SABA lần 1, bệnh nhân không cải thiện triệu chứng lâm sàng (thất bại), chuyển sang phác đồ SABA + Ipratropium bromide + Prednisolone đường uống 1 – 2 mg/kg/ngày (tối đa 40 mg/ngày) hoặc:

SABA + Ipratropium bromide + Corticosteroid khí dung liều cao 1 mg/lần.

Khi có một trong các yếu tố nguy cơ lên cơn hen nặng trong tương lai (*) dùng SABA + Corticosteroid ngay từ đầu.

  • SABA kết hợp corticosteroid khí dung: 0,5 – 1 mg/lần hoặc corticosteroid đường uống 1 – 2 mg/kg/ngày (tối đa 40 mg/ngày).
  • Nhắc lại corticosteroid khí dung lần hai: 1 mg sau 30 – 60 phút nếu triệu chứng lâm sàng không cải thiện.
  • Đánh giá lại bệnh nhân sau 1 giờ.

7.2.3. Cơn hen mức độ nặng

  • Phối hợp SABA + Ipratropium bromide khí dung mỗi 20 phút/lần trong giờ đầu, đánh giá lại sau mỗi lần khí dung.
  • Kết hợp corticosteroid khí dung liều cao 1 mg. Nhắc lại corticosteroid khí dung lần 2 sau 30 – 60 phút.
  • Phối hợp corticosteroid đường tĩnh mạch 2 mg/kg.
  • Nếu có điều kiện nên sử dụng khí dung liên tục SABA.

7.2.4. Cơn hen nặng đe dọa tính mạng

  • Phối hợp SABA + Ipratropium bromide khí dung mỗi 20 phút/lần trong giờ đầu, đánh giá lại sau mỗi lần khí dung.
  • Kết hợp corticosteroid khí dung liều cao 1 mg. Nhắc lại corticosteroid khí dung lần 2 sau 30 – 60 phút nếu lâm sàng không cải thiện.
  • Phối hợp corticosteroid đường tĩnh mạch 2 mg/kg.
  • Nếu có điều kiện nên sử dụng khí dung liên tục SABA.

Chú ý: Không dùng corticosteroid đường toàn thân (uống, tiêm tĩnh mạch) khi bệnh nhân đang có các bệnh đi kèm sau: lao, sởi, thủy đậu, tay chân miệng, nhiễm trùng nặng, xuất huyết tiêu hóa, cao huyết áp, tiểu đường.

7.2.5. Theo dõi sau điều trị cắt cơn

  • Tiếp tục cho SABA, cho thuốc 3 – 4 giờ sau liều cuối cùng.
  • Duy trì corticosteroid khí dung 1 mg × 2 lần/ngày trong 5 ngày. Nếu sử dụng corticosteroid toàn thân dạng tiêm chuyển sang uống prednisolon 1 – 2 mg/kg/ngày trong 5 ngày.

8. PHÒNG BỆNH

Khuyến khích đẻ thường, hạn chế mổ đẻ.

Bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng có thể phòng các bệnh dị ứng như viêm mũi dị ứng, hen và viêm da cơ địa ở trẻ em.

Hạn chế sử dụng kháng sinh phổ rộng, thuốc hạ sốt nhóm paracetamol.

Hạn chế hút thuốc lá chủ động và bị động.

Chế độ ăn hợp lý, tránh thừa cân béo phì.

Hạn chế thuốc chống viêm nhóm non-steroid.

Tôi muốn thêm mở đầu ngắnTôi muốn trình bày thành gạch đầu dòng

Cập nhật thông tin mới nhất về kiến thức y học và test y học tại facebook TEST Y HỌC

Tham gia nhóm zalo: Tài Liệu Y Học Tổng Hợp

Ôn thi nội trú, sau đại học TẠI ĐÂY

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Content is protected !!
All in one