Bài 28
BÀNG QUANG, NIỆU ĐẠO VÀ HỆ SINH DỤC NAM
MỤC TIÊU1. Mô tả được vị trí, kích thước, hình thể – liên quan và cấu tạo của bàng quang và niệu đạo; sự cung cấp mạch và thần kinh cho những cơ quan này. 2. Mô tả được giải phẫu của các cơ quan sinh dục trong và ngoài của nam. 3. Nêu được các liên hệ chức năng và lâm sàng thích hợp. |
1. BÀNG QUANG
Bàng quang chỉ là một túi cơ chứa nước tiểu nên vị trí, kích thước, hình thể và liên quan của nó thay đổi theo lượng nước tiểu chứa bên trong và tình trạng của các cơ quan lân cận.
1.1. Vị trí, dung tích
Khi rỗng, bàng quang người lớn nằm dưới phúc mạc, trong chậu hông bé, sau xương mu, trước các tạng sinh dục và trực tràng. Điểm cao nhất của bàng quang không vượt quá bờ trên xương mu. Khi bàng bàng quang căng, nó vượt quá bờ trên xương mu và nằm sau thành bụng trước. Bàng quang trẻ mới sinh nằm sau thành bụng trước, kéo dài từ rốn tới xương mu như quả bầu, và chỉ tới sau tuổi dậy thì thì bàng quang mới hoàn toàn nằm trong chậu hông. Dung tích của bàng quang rất thay đổi, bình thường khi bàng quang chứa 250 – 300 ml nước tiểu thì ta cảm giác muốn đi tiểu. Khi bí đái, bàng quang có thể chứa tới 3 lít.

Hình 28.1. Thiết đồ đứng dọc chậu hông nam
1.2. Hình thể ngoài và liên quan
Ở người trưởng thành, bàng quang rỗng gần có hình tứ diện gồm một đỉnh ở trước, một đáy ở phía sau – dưới và một thân nằm giữa đỉnh và đáy. Thân bàng quang khi không chứa nước tiểu gồm 3 mặt: mặt trên và hai mặt dưới – bên. Nơi gặp nhau của đáy và các mặt dưới – bên của bàng quang là cổ bàng quang.
Mặt trên bàng quang có hình tam giác được giới hạn bởi ba bờ: hai bờ bên đi từ đỉnh tới chỗ niệu quản cắm vào bàng quang, bờ sau là bờ nối đầu sau của hai bờ bên. Ở nam, phúc mạc phủ toàn bộ mặt trên, mở rộng cả lên phần trên của đáy trước khi lật lên phủ bóng ống dẫn tinh và túi tinh rồi quật lên mặt trước trực tràng, tạo nên túi cùng trực tràng – bàng quang; phúc mạc từ mặt trên cũng mở rộng sang hai bên vào các hố cạnh bàng quang và ra trước vào nếp rốn giữa. Mặt trên bàng quang nam tiếp xúc với đại tràng sigma và các khúc hồi tràng cuối cùng. Ở nữ, phúc mạc phủ gần tới tới bờ sau của mặt trên thì lật lên phủ mặt bàng quang của tử cung, bắt đầu từ ngang chỗ nối giữa thân và cổ tử cung, tạo nên túi cùng bàng quang – tử cung. Tử cung đè lên mặt trên bàng quang và cách bàng quang bằng túi cùng này. Phần sau của mặt trên, tức phần không có phúc mạc phủ, được ngăn cách với cổ tử cung bằng mô liên kết.

Hình 28.2. Thiết đồ đứng dọc chậu hông nữ
Hai mặt dưới – bên của bàng quang gặp nhau ở phía trước. Mỗi mặt dưới – bên của bàng quang nam được ngăn cách với xương mu và dây chằng mu tiền liệt ở trước bởi khối mỡ chứa trong khoang sau mu. Đỉnh bàng quang là nơi các mặt dưới – bên và mặt trên hợp với nhau ở phía trước. Đây là nơi bám của dây chằng rốn giữa.
Đáy bàng quang có hình tam giác và hướng về phía sau – dưới. Ở nữ, nó liên quan mật thiết với thành trước âm đạo; ở nam giới, nó được ngăn cách với trực tràng bằng túi cùng trực tràng – bàng quang và ở dưới túi cùng này là các túi tinh và các bóng ống dẫn tinh. Vùng đáy bàng quang hình tam giác nằm giữa các bóng ống dẫn tinh được ngăn cách với trực tràng bằng vách trực tràng – bàng quang.
Cổ bàng quang là nơi thấp nhất và cố định nhất của bàng quang. Ở đây bàng quang mở vào niệu đạo bởi một lỗ gọi là lỗ niệu đạo trong. Cổ bàng quang nam liên tiếp thẳng với đáy tuyến tiền liệt; cổ bàng quang nữ liên quan với phần mạc chậu bao quanh phần trên niệu đạo.
Bàng quang cũng có thể phình lên trên tới ổ bụng, đẩy phúc mạc lên cao bằng cách tách phúc mạc thành khỏi vùng trên mu của thành bụng; khi đó các mặt dưới – bên nằm ngay sau vùng trên mu của thành bụng mà không có phúc mạc ngăn cách và ta có thể tiếp cận ngoại khoa vào bàng quang mà không cần qua phúc mạc. Khi bàng quang căng, chỗ cao nhất của bàng quang không phải là đỉnh bàng quang mà là một điểm ở mặt trên bàng quang và ở giữa chỗ cao nhất này và thành bụng trước có một ngách phúc mạc – ngách trên bàng quang.

Hình 28.3. Thiết đồ đứng dọc qua bàng quang và niệu đạo
1.3. Cấu tạo và hình thể trong
Từ nông vào sâu, các lớp tạo nên thành bàng quang là áo thanh mạc, tấm dưới thanh mạc, áo cơ, tấm dưới niêm mạc và áo niêm mạc. Áo thanh mạc và tấm dưới thanh mạc là hai lớp của phúc mạc phủ mặt trên bàng quang; ở phần còn lại của bàng quang, các lớp này được thay bằng mô liên kết. Áo cơ trơn của thành bàng quang được gọi là cơ bức niệu, riêng cơ ở vùng tam giác bàng quang được gọi là các cơ tam giác. Cơ bức niệu cấu tạo bằng các bó cơ xếp như một lưới phức hợp (phần không phân tầng); ở cổ bàng quang, cơ bức niệu xếp thành một tầng dọc ngoài, một tầng dọc trong và một tầng vòng ở giữa (phần cổ bàng quang). Các cơ tam giác bao gồm cơ tam giác nông và cơ tam giác sâu. Áo niêm mạc của bàng quang không dính chặt vào áo cơ nên gấp nếp lại khi bàng quang rỗng, phẳng khi bàng quang căng. Có một vùng niêm mạc, gọi là tam giác bàng quang, dính chặt vào áo cơ và vì thế luôn luôn phẳng. Tam giác bàng quang nằm giữa ba lỗ: hai lỗ niệu quản ở hai bên, trên mặt đáy bàng quang, và lỗ niệu đạo trong ở dưới, tại cổ bàng quang. Ở giữa hai lỗ niệu quản có một gờ niêm mạc gọi là mào gian niệu quản.
1.4. Mạch máu và thần kinh
Động mạch: Bàng quang được cấp máu bởi các động mạch bàng quang trên và động mạch bàng quang dưới, đều là những nhánh của động mạch chậu trong.
Tĩnh mạch: Các tĩnh mạch bàng quang đổ về đám rối tĩnh mạch bàng quang rồi về tĩnh mạch chậu trong.
Thần kinh tách từ đám rối bàng quang, một chi nhánh của đám rối hạ vị dưới.
2. NIỆU ĐẠO
Niệu đạo là ống dẫn nước tiểu từ bàng quang ra ngoài. Niệu đạo nam có chiều dài lớn gấp nhiều lần niệu đạo nữ và còn là đường dẫn tinh.
2.1. Niệu đạo nam
Niệu đạo nam dài khoảng 18 – 20 cm, đi từ lỗ niệu đạo trong ở cổ bàng quang tới lỗ niệu đạo ngoài ở đỉnh quy đầu. Đường đi của niệu đạo được chia thành bốn đoạn: đoạn trước tiền liệt, đoạn tiền liệt, đoạn màng và đoạn xốp; niệu đạo có hai chiều cong khi dương vật mềm.
Đoạn trước tiền liệt còn được gọi là đoạn nội thành vì đoạn này nằm trong cổ bàng quang và chỉ tồn tại khi bàng quang đầy. Khi bàng quang đầy, cổ bàng quang đóng lại và lỗ niệu đạo trong ở cao hơn đáy tuyến tiền liệt, niệu đạo dài ra 1 – 1,5 cm. Khi bàng quang rỗng, cổ bàng quang mở ra thành hình phễu và lỗ niệu đạo trong đi xuống đến đáy tuyến tiền liệt, niệu đạo ngắn lại. Cơ trơn quanh cổ bàng quang và đoạn trước tiền liệt xếp thành một vòng cơ gọi là cơ thắt niệu đạo trong, hay cơ thắt trước tiền liệt, một cơ vừa có vai trò kiểm soát tiểu tiện vừa ngăn cản sự trào ngược của tinh dịch vào bàng quang lúc phóng tinh.
Đoạn tiền liệt dài khoảng 3 cm, chạy qua tuyến tiền liệt từ đáy tuyến cho tới sát trước đỉnh tuyến, tức là đi gần mặt trước tuyến hơn là mặt sau. Trên thành sau của đoạn này có một mào giữa, gọi là mào niệu đạo, nhô vào lòng niệu đạo. Ở mỗi bên của mào niệu đạo có một chỗ lõm nông gọi là xoang tiền liệt; sàn của xoang có lỗ của các ống tuyến tiền liệt. Ở khoảng giữa chiều dài của mào niệu đạo lại có một chỗ nhô lên gọi là gò tinh; tại đây có lỗ mở ra của túi bầu dục tuyến tiền liệt ở giữa và các lỗ của các ống phóng tỉnh ở hai bên. Ở đoạn trên gò tinh của niệu đạo tiền liệt, tầng cơ vòng của áo cơ cũng tạo nên cơ thắt liên tiếp với cơ thắt đã tả ở đoạn trước tiền liệt.
Đoạn màng còn được gọi là đoạn niệu đạo trung gian vì nó đi từ chỗ ra khỏi tuyến tiền liệt tới hành dương vật và không chỉ đi qua màng đáy chậu. Đoạn này chạy theo một đường cong lõm ra trước và xuyên qua màng đáy chậu ở sau dưới khớp mu khoảng 2,5 cm. Vì phần sau của hành dương vật dính sát màng đáy chậu trong khi phần trước lại chạy xa màng đáy chậu, phần dưới màng đáy chậu của thành trước của niệu đạo không tiếp giáp cả với màng đáy chậu và hành dương vật. Thành trước của niệu đạo màng dài 2 cm trong khi thành sau chỉ dài 1,2 cm. Ngoài áo cơ trơn mỏng, còn có lớp cơ vân bọc ở ngoài niệu đạo màng, tạo nên cơ thắt niệu đạo ngoài. Cơ thắt này còn lấn vào cả phần xa của niệu đạo tiền liệt. Đoạn màng là đoạn ngắn nhất, khó giãn nhất và hẹp nhất của niệu đạo (trừ lỗ niệu đạo ngoài).

Hình 28.4. Thiết đồ đứng dọc của niệu đạo nam
Đoạn xốp là phần niệu đạo nằm trong vật xốp dương vật, đi từ đầu dưới của đoạn màng tới lỗ niệu đạo ngoài và có thể dài tới 15 cm. Bắt đầu từ dưới màng đáy chậu, lúc đầu đoạn này tiếp tục đi theo chiều cong ra trước của niệu đạo màng tới trước bờ dưới khớp mu. Từ đây, khi dương vật mềm, niệu đạo cong xuống dưới ở phần tự do (di động) của dương vật. Nó giãn to ở chỗ bắt đầu như là hố nội hành rồi lại giãn rộng ở quy đầu thành hố thuyền. Tuyến hành niệu đạo đổ vào niệu đạo xốp ở dưới màng đáy chậu khoảng 2,5 cm. Niêm mạc niệu đạo màng có nhiều lỗ của các tuyến niệu đạo và các hốc niệu đạo. Lỗ của các hốc hướng ra trước và có thể chặn đầu của cathether. Hốc lớn nhất nằm ở thành trên của hố nội hành.
Về phương diện thực hành: Niệu đạo còn được chia làm 2 đoạn: đoạn di động là đoạn nằm trong thân dương vật, đoạn cố định là phần còn lại.
Hình thể trong và cấu tạo: Như đã mô tả ở từng đoạn, niệu đạo có ba chỗ phình là xoang tiền liệt, hố nội hành và hố thuyền. Những chỗ hẹp của niệu đạo là lỗ niệu đạo ngoài và đoạn màng. Thành niệu đạo được cấu tạo bằng hai lớp áo: áo niêm mạc và áo cơ. Những đặc điểm của các lớp áo này đã được nêu ở trên. Mô chun nằm dưới niêm mạc niệu đạo làm cho nó có khả năng chun giãn lớn.
Mạch và thần kinh
Động mạch: Niệu đạo được nuôi dưỡng bởi nhiều nhánh nhỏ xuất phát từ động mạch bàng quang dưới, động mạch trực tràng giữa, động mạch hành dương vật…
Tĩnh mạch: Máu tĩnh mạch ở niệu đạo đổ về tĩnh mạch thẹn trong.
Bạch mạch: Bạch mạch từ niệu đạo tiền liệt và niệu đạo màng đổ vào các hạch dọc động mạch thẹn trong rồi vào các hạch dọc theo động mạch chậu trong. Bạch mạch phần xốp đổ vào hạch bẹn sâu.
Thần kinh: Niệu đạo do các nhánh từ đám rối tiền liệt và thần kinh thẹn chi phối.
2.2. Niệu đạo nữ
2.2.1. Đường đi
Niệu đạo nữ ngắn hơn so với niệu đạo nam, dài khoảng 3 – 4 cm, đi từ cổ bàng quang qua đáy chậu tới tận hết ở lỗ niệu đạo ngoài ở tiền đình âm đạo.
2.2.2. Phân đoạn và liên quan
Niệu đạo nữ hoàn toàn cố định, tương ứng phần cố định ở nam giới, gồm 2 đoạn là đoạn chậu hông và đoạn đáy chậu.
Đoạn chậu hông: cũng có cơ thắt trơn niệu đạo.
Đoạn đáy chậu: chọc qua màng đáy chậu và có cơ thắt vẫn niệu đạo. Lỗ niệu đạo ngoài ở tiền đình âm đạo là nơi hẹp nhất của niệu đạo, nằm sau âm vật khoảng 2,5 cm và trước lỗ âm đạo.
3. CÁC CƠ QUAN SINH DỤC NAM
Các cơ quan sinh dục nam bao gồm các cơ quan sinh dục trong và các cơ quan sinh dục ngoài.
3.1. Các cơ quan sinh dục trong
Các cơ quan sinh dục trong của nam là những cơ quan sinh dục nằm trong chậu hông, bao gồm tinh hoàn, mào tinh hoàn, ống dẫn tinh, tuyến tinh, tuyến tiền liệt và tuyến hành niệu đạo.

Hình 28.5. Thiết đồ đứng ngang qua tinh hoàn, ống dần tinh và mào tinh
3.1.1. Tinh hoàn
Tinh hoàn là một cơ quan sinh tinh trùng và tiết ra nội tiết tố nam testosteron.
Hình thể ngoài
Có hai tinh hoàn nằm trong bìu, tinh hoàn trái thường thấp hơn tinh hoàn phải khoảng 1 cm. Tinh hoàn của thai nằm trên thành bụng sau; chúng đi xuống tới ống bẹn vào tháng thứ bảy rồi nhanh chóng đi vào bìu. Nếu một tinh hoàn chưa đi vào bìu sau khi sinh, nó có thể vẫn nằm trong ổ bụng, hoặc trong ống bẹn, hoặc đã di chuyển đến một nơi khác (lạc chỗ).
Tinh hoàn có hình elip, hơi dẹt theo hướng trong – ngoài. Nó có hai mặt là mặt trong và mặt ngoài, hai cực là cực trên và cực dưới và hai bờ là bờ trước và bờ sau. Mào tinh hoàn nằm dọc theo bờ sau – bên tinh hoàn. Cực dưới tinh hoàn được cột vào bìu bằng dây bìu. Ở người lớn, tinh hoàn dài 4,5 cm, dày (chiều giữa – bên) 2,5 cm và rộng (chiều trước – sau) 3 cm, nặng 10,5 – 14 gam.
Cấu tạo
Tinh hoàn được bọc bằng ba lớp áo, tính từ ngoài vào trong là: áo bọc tinh hoàn, áo trắng và áo mạch.
Áo bọc tinh hoàn: Lớp này là đầu dưới của mỏm bọc phúc mạc, một cấu trúc được hình thành trước khi diễn ra sự đi xuống của tỉnh hoàn thai từ bụng tới bìu; sau sự đi xuống của tinh hoàn, phần gần của mỏm bọc, đoạn từ lỗ bẹn sâu tới tỉnh hoàn, co lại và tắc, để lại một túi kín ở xa mà tinh hoàn lồng vào để tạo nên áo bọc của nó. Áo bọc gồm lá thành và lá tạng. Lá tạng phủ kín tinh hoàn, trừ bờ sau, rồi từ tinh hoàn lật lên phủ một phần mào tinh trước khi liên tiếp với lá thành; lá thành che phủ lớp sâu nhất của bìu.
Áo trắng là lớp bọc màu trắng xanh cấu tạo bằng các bó sợi collagen; nó được phủ ở ngoài bằng lá tạng của áo bọc tinh hoàn, trừ ở bờ sau tinh hoàn, nơi có các mạch máu và thần kinh đi vào. Tại bờ sau tinh hoàn, áo trắng nhỏ vào trong tinh hoàn như một vách dày nằm thẳng đứng gọi là trung thất tinh hoàn. Từ mặt trước và các mặt bên của trung thất tinh hoàn, nhiều vách tinh hoàn toả về phía bề mặt của tỉnh hoàn và gắn vào mặt sâu của áo trắng, chia tinh hoàn thành các tiểu thuỳ hình nón với nền của chúng ở bề mặt và đỉnh hội tụ về trung thất tinh hoàn.
Áo mạch: Áo này chứa một đám rối mạch máu trải trên mặt trong của áo trắng và bao bọc các vách tinh hoàn, tức là vây quanh tất cả các tiểu thuỳ tinh hoàn.
Tinh hoàn có 200 – 400 tiểu thùy. Mỗi tiểu thùy chứa 1 – 3 hoặc hơn ống sinh tinh xoắn, mỗi ống là một quai khép kín mà hai đầu đổ vào ống sinh tinh thẳng rồi vào lưới tinh hoàn. Mô liên kết giữa các ống sinh tinh chứa các tế bào kẽ (tế bào Leydig tiết testosteron). Mỗi tinh hoàn có 400 – 600 ống sinh tinh xoắn, mỗi ống dài 70 – 80 cm. Các ống sinh tinh thẳng là 20 – 30 ống lớn nhưng ngắn đi vào mô sợi của trung thất tinh hoàn; mạng lưới tiếp nối giữa các ống thẳng trong trung thất tinh hoàn gọi là lưới tinh hoàn. Ở cực trên của trung thất tinh hoàn, có 12 – 20 ống xuất xuyên qua áo trắng để đi vào mào tinh.
3.1.2. Mào tinh hoàn
Mào tinh hoàn là đoạn đầu tiên của đường dẫn tinh trùng ra khỏi tinh hoàn. Nó là một ống dài nhưng được gấp và cuộn lại thành một khối hình chữ C gắn vào bờ sau – trên tinh hoàn. Mào tinh có ba phần: một đầu phình to ở trên gắn với cực trên của tỉnh hoàn bằng các ống xuất; một thân ở giữa ngăn cách với tinh hoàn bằng một túi bịt gọi là xoang mào tinh; và một đuôi dính vào tinh hoàn bởi các thớ sợi và chỗ lật ra của áo bọc tinh hoàn. Ở bên trong mào tinh, các ống xuất cuộn lại thành hình các nón dài gọi là tiểu thuỳ mào tinh; các tiểu thuỳ này tạo nên đầu mào tinh. Tại nền các tiểu thuỳ mào tinh, các ống xuất đổ vào một ống đơn của mào tinh hoàn gọi là ống mào tinh. Ống mào tinh dài 6 m, có đường kính lớn dần về phía đuôi mào tinh; nó gấp khúc thành các quai và các quai này tạo nên thân và đuôi mào tinh. Tinh trùng chưa có khả năng thụ tinh khi ra khỏi tinh hoàn. Chúng trưởng thành tại mào tinh hoàn và khi rời khỏi đây thì có khả năng thụ tinh.
3.1.3. Ống dẫn tinh
Ống dẫn tinh đi từ đuôi mào tinh đến mặt sau bàng quang thì kết hợp với ống tiết của túi tinh để tạo thành ống phóng tinh. Nó dài khoảng 40 cm, đường kính từ 2 – 3 mm nhưng lòng ống chỉ rộng khoảng 0,5 mm. Thành rất dày của ống dẫn tinh do ba lớp áo tạo nên: áo ngoài bằng mô liên kết, áo cơ dày và áo niêm mạc; có thể dễ dàng sờ thấy ống dẫn tinh nhờ áo cơ dày của nó.
Đường đi của ống dẫn tinh được chia thành nhiều đoạn: đoạn bìu đi dọc bờ sau tinh hoàn, đoạn thừng tinh nằm trong thừng tinh, đoạn bẹn nằm trong ống bẹn và đoạn chậu hông đi trong chậu hông. Ở đoạn chậu hông, lúc đầu nó nó uốn quanh mặt ngoài động mạch thượng vị dưới rồi đi ra sau và xuống dưới bắt chéo các mạch châu ngoài để đi vào chậu hông bé, nơi nó nằm ngoài phúc mạc. Trong chậu hông bé, nó tiếp tục đi ra sau ở thành bên chậu hông cho tới khi bắt chéo trước niệu quản để tới mặt sau bàng quang. Ở sau bàng quang, nó đi xuống ở sát dọc bờ trên – trong của túi tinh, dần tiến gần lại ống bên đối diện, và phình to ra thành bóng ống dẫn tinh. Cuối cùng ống dẫn tinh thu nhỏ lại và kết hợp với ống tiết của túi tinh tạo nên ống phóng tinh.
Thừng tinh: Khi tinh hoàn đi xuống qua thành bụng tới bìu, nó kéo theo ống dẫn tinh và các mạch máu và thần kinh của nó. Các thành phần này tập hợp tại lỗ bẹn sâu để tạo nên thừng tinh. Thừng tinh đi từ lỗ bẹn sâu tới bờ sau tinh hoàn và là cấu trúc treo tinh hoàn trong bìu. Khi tinh hoàn và thừng tinh đi qua ống bẹn, các lớp của thành bụng bị kéo theo chúng và trở thành các lớp vỏ bọc của thừng tinh rồi thành các lớp của thành bìu. Từ nông vào sâu, ba lớp vỏ bọc đó cùng nguồn gốc của chúng là: (i) mạc tinh ngoài bắt nguồn từ cân cơ chéo bụng ngoài, (ii) cơ bìu và mạc cơ bìu bắt nguồn từ cơ chéo bụng trong và (iii) mạc tinh trong bắt nguồn từ mạc ngang.
Các thành phần của thừng tinh nằm trong ba lớp vỏ nói trên và bao gồm ống dẫn tinh, động mạch, tĩnh mạch, thần kinh của ống dẫn tinh; động mạch tinh hoàn, đám rối tĩnh mạch hình dây leo, bạch huyết và thần kinh của tinh hoàn; và di tích mỏm bọc tinh hoàn.

Hình 28.6. Ống dẫn tinh
3.1.4. Tuyến tinh
Tuyến tinh, vốn vẫn thường được gọi là túi tinh, đóng góp tới 70% lượng tinh dịch. Nó đóng vai trò quan trọng trong sinh sản vì, ngoài tác động tới sự trưởng thành và khả năng di chuyển của tinh trùng, nó còn có khả năng ức chế miễn dịch ở đường sinh dục nữ. Hai tuyến tinh nằm giữa bàng quang và trực tràng. mỗi tuyến gần có hình tháp, với kích thước khoảng 5 cm dài và 2 cm rộng, nền hướng lên trên, ra sau và sang bên. Tuyến tinh là một ống đơn gấp khúc. Khi ruỗi thẳng, nó là một ống dài 10 – 15 cm với đường kính 3 – 4 mm. Đầu dưới của tuyến tinh thu hẹp vào một ống thẳng gọi là ống tiết. Ông này kết hợp với ống dẫn tinh cùng bên tạo thành ống phóng tinh. Mặt sau tuyến tinh liên quan với trực tràng, được ngăn cách với trực tràng bằng vách trực tràng – tiền liệt. Phúc mạc trùm lên khối bàng quang – túi tinh – bóng ống dẫn tinh rồi lật lên trực tràng tạo nên túi cùng bàng quang – trực tràng.
3.1.5. Ống phóng tinh
Ống phóng tỉnh ở mỗi bên do ống dẫn tinh và ống tiết của tuyến tỉnh hợp nên. Với chiều dài khoảng 2 cm, mỗi ống từ nền tuyến tiền liệt chạy về phía trước – dưới ở giữa thuỳ giữa và một thuỳ bên của tuyến để tận cùng bằng một lỗ nhỏ trên gò tỉnh. ngay bên ngoài lỗ của túi bầu dục tuyến tiền liệt. Càng gần đến chỗ tận cùng, nó càng tiến gần lại ống bên đối diện và đường kính của nó càng giảm.
Ống mào tinh, ống dẫn tinh, ống phóng tỉnh và niệu đạo nam hợp thành đường dẫn tinh.

Hình 28.7. Thiết đồ đứng ngang và đứng dọc qua tuyến tiền liệt
3.1.6. Tuyến tiền liệt
Tuyến tiền liệt là một khối hỗn hợp của mô tuyến và mô xơ – cơ rắn vây quanh đoạn đầu của niệu đạo nam. Nó nằm ở phần dưới của chậu hông bé, sau bờ dưới khớp mu và cung mu và trước trực tràng; có thể sờ thấy nó qua bóng trực tràng. Dịch tiết của tuyến tiền liệt được đổ vào xoang tiền liệt qua các ống tiền liệt; dịch này chiếm khoảng 25% lượng tinh dịch và góp phần vào sự vận động và sức sống của tỉnh trùng.
Tuyến trông tựa một hình nón mà đáy ở trên, đỉnh ở dưới; các mặt nằm giữa đỉnh và đáy là mặt trước, mặt sau và các mặt dưới – bên. Nền liên tiếp với cổ bàng quang; niệu đạo đi vào nền ở gần bờ trước của nó. Mặt trước được ngăn cách với khớp mu bởi mô mỡ lỏng lẻo chứa một đám rối tĩnh mạch và được nối với các xương mu (ở gần bờ trên của mặt trước) bằng dây chằng mu tiền – liệt; niệu đạo thoát ra khỏi tuyến ở mặt này, ở trước – trên đỉnh tuyến. Mặt sau được ngăn cách với trực tràng bởi vách trực tràng – tiền liệt. Các mặt dưới – bên liên quan với với cơ nâng hậu môn và được ngăn cách với cơ này bằng đám rối tĩnh mạch tiền liệt vùi trong mô liên kết. Các mô liên kết chứa mạch máu vây quanh các mặt của tuyến tiền liệt được xem như bao mạc riêng của nó. Nhu mô tuyến tiền liệt được bao bọc bởi một bao xơ chắc gọi là bao tiền liệt. Vùng tuyến tiền liệt nằm giữa niệu đạo và các ống phóng tinh được gọi là thuỳ giữa. Phần tuyến còn lại là các thuỳ bên phải và trái nối với nhau bằng eo tiền liệt; eo là vùng ít mô tuyến nằm trước niệu đạo. Nền tuyến tiền liệt có bề ngang 4 cm; tuyến có đường kính khoảng 3 cm ở chiều thẳng đứng và 2 cm ở chiều trước – sau. Trọng lượng của tuyến là 8 gam.

Hình 28.8. Tuyến tiền liệt, túi tinh (nhìn sau) và thiết đồ ngang qua tuyến tiền liệt
3.1.7. Tuyến hành niệu đạo
Hai tuyến hành niệu đạo là hai khối tròn có đường kính khoảng 1 cm nằm trên màng đáy chậu, ở hai bên niệu đạo màng, và được vây quanh bởi các sợi của cơ thắt niệu đạo. Mỗi tuyến có một ống tiết dài khoảng 3 cm chạy chếch xuống dưới và ra trước, xuyên qua màng đáy chậu rồi đổ vào sàn của niệu đạo xốp.
3.1.8. Mạch và thần kinh của các cơ quan sinh dục trong
Các động mạch
Động mạch tinh hoàn tách từ động mạch chủ bụng ngang đốt sống thắt lưng II hoặc III. Nó chạy xuống ở sau phúc mạc và, từ lỗ bẹn sâu, đi trong thừng tinh vào bìu cấp máu cho tinh hoàn và mào tinh hoàn.
Động mạch ống dẫn tinh là nhánh của động mạch rốn. Nó cấp máu cho ống dẫn tinh, túi tinh và ống phóng tinh.
Tuyến tiền liệt được cấp máu bởi nhánh của các động mạch bàng quang dưới và trực tràng giữa.
Các tĩnh mạch: Các tĩnh mạch của tinh hoàn, ống dẫn tinh và cơ bìu đi kèm các động mạch. Trong thừng tinh, các tĩnh mạch này tạo nên đám rối tĩnh mạch hình dây leo. Các tĩnh mạch của tuyến tiền liệt tạo nên đám rối tĩnh mạch tiền liệt.
Thần kinh: Thần kinh tự chủ của tinh hoàn tách ra từ đám rối liên mạc treo tràng và đám rối thận; chúng tạo thành đám rối tinh hoàn. Đám rối thần kinh của ống dẫn tinh là chi nhánh của đám rối hạ vị dưới. Đám rối tiền liệt tách ra từ đám rối hạ vị,
3.2. Các cơ quan sinh dục ngoài
Dương vật, niệu đạo và bìu là các cơ quan sinh dục ngoài của nam.
3.2.1. Dương vật
Hình thể ngoài: Dương vật gồm rễ, thân và quy đầu dương vật. Rễ dương vật nằm ở đáy chậu và dính vào xương mu bởi dây chằng treo dương vật. Thân dương vật hình trụ; khi cương, mặt trên của nó gọi là mu dương vật và mặt dưới gọi là mặt niệu đạo. Qui đầu dương vật được bao bọc trong một nếp nửa da nửa niêm mạc có thể di động được gọi là bao qui đầu. Bao qui đầu ở trẻ em dài; ở người lớn có trường hợp bao qui đầu hẹp không thể trật lên được gọi là bệnh hẹp bao qui đầu. Ở đỉnh quy đầu có lỗ niệu đạo ngoài. Đáy của qui đầu lồi lên gọi là vành qui đầu. Rãnh nằm giữa thân dương vật và vành qui đầu là cổ qui đầu.
Cấu tạo: Dương vật do ba khối mô cương và các lớp bọc tạo nên. Hai khỏi mô cương hình trụ nằm song song ở trên là các vật hang. Khối còn lại nằm trong rãnh ở mặt dưới hai vật hang là vật xốp. Bên trong vật xốp chứa niệu đạo xốp. Phần sau vật xốp phình to thành hành dương vật còn đầu trước của nó liên tiếp với mô xốp của qui đầu. Cắt ngang thấy trong lòng vật hang và vật xốp như tổ ong, khi chứa đầy máu làm cho dương vật cương lên nên gọi là các tạng cương. Phần sau của các vật hang dính vào ngành dưới xương mu và được gọi là trụ dương vật. Các lớp bọc dương vật bọc quanh ba khối mỏ cương, bao gồm mạc dương vật, tấm dưới da dương vật và da.
Mạch và thần kinh dương vật
Động mạch: Các động mạch nông có nguồn gốc từ động mạch thẹn ngoài: các động mạch sâu (động mạch mu dương vật, động mạch sâu dương vật) tách từ động mach then trong.
Tĩnh mạch: Các tĩnh mạch dương vật đổ về tĩnh mạch mu sâu dương vật.
Thần kinh: Dương vật được chi phối bởi các nhánh thần kinh tách ra từ thần kinh thẹn và các nhánh từ đám rối thần kinh tự chủ trong chậu hông.

Hình 28.9. Cấu tạo của dương vật
3.2.2. Bìu và các lớp bọc tinh hoàn
Bìu là một túi da rất sẫm màu do thành bụng trĩu xuống tạo thành. Nó được chia thành hai ngăn, mỗi ngăn chứa một tinh hoàn, một mào tinh và đầu tinh hoàn của một thừng tỉnh. Bìu nằm dưới khớp mu, sau dương vật, bìu trái thường xuống thấp hơn bìu phải.

Hình 28.10. Bìu, tinh hoàn và các cấu trúc xung quanh
Cấu tạo
Bìu cấu tạo bằng hai lớp: lớp da và lớp mạc nông dưới da; lớp mạc nông chứa cơ trơn dartos.
Ở dưới mạc nông là bốn lớp bọc tinh hoàn, trong đó ba lớp ngoài liên tiếp với ba lớp vỏ bọc của thừng tinh (mạc tinh ngoài, cơ bìu và mạc cơ bìu và mạc tinh trong). Trong cùng là áo bọc tinh hoàn (hay tinh mạc) do phúc mạc trĩu xuống tạo nên. Áo bọc tinh hoàn gồm 2 lá: lá thành áp sát vào lớp mạc tinh trong, lá tạng áp sát vào tỉnh hoàn. Giữa hai lá là một khoang tiềm tàng; khi tinh hoàn bị viêm hay bị chạm thương, khoang này có thể có nước, máu hoặc mủ.

Hình 28.11. Thiết đồ ngang qua bìu và tinh hoàn
Mạch máu và thần kinh
Động mạch là các nhánh động mạch thẹn ngoài, động mạch thừng tinh.
Tĩnh mạch: Các tĩnh mạch bìu trước đổ về tĩnh mạch đùi, tĩnh mạch bìu sau đổ về tĩnh mạch chậu trong.
Thần kinh tách từ các dây thần kinh chậu bẹn và thần kinh thẹn.
Bạch huyết đổ về chuỗi hạch bẹn nông.
Cập nhật thông tin mới nhất về kiến thức y học và test y học tại facebook TEST Y HỌC
Tham gia nhóm zalo: Tài Liệu Y Học Tổng Hợp
Ôn thi nội trú, sau đại học Giải Phẫu TẠI ĐÂY
