BỆNH MÀNG NGOÀI TIM – NỘI KHOA Y HÀ NỘI

CHƯƠNG II. BÀI 9:

BỆNH MÀNG NGOÀI TIM

MỤC TIÊU

  1. Nắm được cách phân loại và nguyên nhân gây bệnh màng ngoài tim.
  2. Trình bày được chẩn đoán viêm màng ngoài tim cấp, ép tim cấp và viêm màng ngoài tim co thắt.
  3. Trình bày được điều trị viêm màng ngoài tim cấp, ép tim cấp và viêm màng ngoài tim co thắt.

1. ĐẠI CƯƠNG

Màng ngoài tim gồm hai lớp: lá thành và lá tạng. Giữa hai lớp là khoang màng ngoài tim, bình thường chứa từ 15 – 30 ml dịch, giúp hai lá không cọ vào nhau. Bệnh màng ngoài tim là một hội chứng lâm sàng gây ra do tình trạng viêm của màng ngoài tim, có hoặc không tràn dịch màng ngoài tim (TDMNT). Các nguyên nhân về bệnh màng ngoài tim rất đa dạng. Thường gặp nhất là viêm màng ngoài tim (VMNT) vô căn, VMNT do lao (đặc biệt ở các nước đang phát triển), do virus, nhồi máu cơ tim, ung thư, chấn thương, tăng urê máu.

2. PHÂN LOẠI BỆNH MÀNG NGOÀI TIM

Bảng 2.33. Phân loại bệnh màng ngoài tim

THEO LÂM SÀNG

I. Viêm màng ngoài tim cấp (dưới 6 tuần)

a. VMNT tiết fibrin

b. VMNT tràn dịch (máu hoặc thanh dịch)

II. Viêm màng ngoài tim bán cấp (từ 6 tuần – 6 tháng)

a. VMNT tràn dịch – co thắt

b. VMNT co thắt

III. Viêm màng ngoài tim mạn tính (trên 6 tháng)

a. VMNT co thắt

b. VMNT tràn dịch

c. VMNT dày dính (không co thắt)

THEO NGUYÊN NHÂN

I. Bệnh màng ngoài tim do nhiễm trùng

a. Virus (Coxsackie virus, Adenovirus, thủy đậu, quai bị, viêm gan…)

b. Vi khuẩn mủ (phế cầu, liên cầu, tụ cầu, Legionella, Neisseria)

c. Lao

d. Nấm

e. Loại khác: ký sinh trùng, giang mai.

II. Bệnh màng ngoài tim không do nhiễm trùng

a. Viêm màng ngoài tim vô căn

b. Nhồi máu cơ tim cấp

c. Tăng urê máu

d. Bệnh ác tính: nguyên phát hoặc thứ phát (phổi, vú, u lympho, bệnh bạch cầu di căn vào màng tim)

e. Phù niêm

f. Cholesterol cao

g. Dưỡng chấp

h. Chấn thương

i. Tách thành động mạch chủ

j. Sau xạ tia

k. Khác: sarcoidosis, bệnh Whipple.

III. Bệnh màng ngoài tim liên quan đến yếu tố quá mẫn, hoặc tự miễn

a. Thấp tim

b. Bệnh hệ thống: lupus ban đỏ, viêm khớp dạng thấp, xơ cứng bì, viêm đa cơ.

c. Do thuốc: procainamid, hydralazin, thuốc chống đông.

d. Sau tổn thương tim: Hội chứng Dressler gặp trong nhồi máu cơ tim, sau mổ màng ngoài tim, sau chấn thương.

3. VIÊM MÀNG NGOÀI TIM CẤP

3.1. Lâm sàng

3.1.1. Triệu chứng cơ năng

3.1.1.1. Đau ngực

Vị trí: thường ở giữa ngực, sau xương ức, có thể lan lên cổ hoặc ra sau lưng.

Tính chất: đau rát, hoặc đau nhói, đôi khi đau tức giống cơn đau thắt ngực nhưng xuất hiện không liên quan với gắng sức; cơn đau kéo dài, không đỡ khi dùng thuốc giãn động mạch vành; đau tăng lên khi ho, hít sâu; thay đổi theo tư thế (đau giảm ở tư thế ngồi dậy, người ra phía trước, đau tăng ở tư thế nằm ngửa).

3.1.1.2. Sốt

Tùy thuộc vào từng nguyên nhân, bệnh nhân thường có sốt nhẹ.

Sốt có thể nằm trong bệnh cảnh của hội chứng cúm với các biểu hiện toàn thân khác như viêm đường hô hấp, đau đầu, đau mỏi cơ toàn thân.

3.1.2. Khám lâm sàng

Tiếng cọ màng tim: là dấu hiệu quan trọng, gặp ở khoảng 85% bệnh nhân bị viêm màng ngoài tim: tiếng cọ màng tim nghe rõ nhất ở vùng cạnh ức trái, âm sắc “như tiếng lụa xát vào nhau”. Theo kinh điển tiếng cọ màng tim có 3 thành phần: tiền tâm thu (tâm nhĩ thu), tâm thu (tâm thất thu), đầu tâm trương, tuy nhiên trên lâm sàng thường chỉ nghe thấy 2 thành phần tiền tâm thu và tâm thu, do vậy nhiều khi khó phân biệt với thổi tâm thu.

Tiếng cọ màng tim thay đổi theo tư thế (rõ hơn khi cúi người ra trước), và thời gian (có thể xuất hiện rồi biến mất một vài giờ, vài ngày, sau đó xuất hiện lại).

Khác với cọ màng phổi, tiếng cọ màng tim vẫn tồn tại khi bệnh nhân nín thở.

3.2. Cận lâm sàng

3.2.1. Điện tâm đồ

Điện tâm đồ điển hình biến đổi ST theo thời gian:

– Đoạn ST chênh lên đồng hướng ở tất cả các chuyển đạo (đôi khi trừ aVR và V1): cong lõm lên phía trên, không cứng, không có dấu hiệu soi gương (khác với ST chênh lên trong thiếu máu cục bộ cơ tim).

– Đoạn ST trở về đường đẳng điện với sóng T dẹt.

– Sóng T âm, tròn, không đối xứng.

– Sóng T trở về dạng bình thường.

Trong trường hợp TDMNT số lượng dịch nhiều, có thể thấy dấu hiệu điện thế thấp lan tỏa (ở các chuyển đạo ngoại biên), và hiện tượng “sọt lệch nhịp”. Ngoài ra, có thể xuất hiện những rối loạn nhịp trên thất như ngoại tâm thu nhĩ, rung nhĩ.

Hình 2.59. Điện tâm đồ trong viêm màng ngoài tim với hình ảnh ST chênh lên đồng hướng lan tỏa ở DI, DII, V2-V6, trừ aVR

3.2.2. X-quang tim phổi

Chỉ trong TDMNT nhiều mới thấy hình ảnh bóng tim to, đối xứng (hình “quả bầu tròn”), bờ tim rõ, không có hiện tượng ứ huyết ở phổi.

X-quang tim phổi có thể giúp phát hiện một số bất thường ở phổi như: tổn thương lao, đám mờ ở phổi kiểu ung thư, tràn dịch màng phổi…

3.2.3. Siêu âm Doppler tim

Siêu âm tim là một thăm dò quan trọng giúp phát hiện TDMNT, biểu hiện dưới dạng “khoảng trống siêu âm” ở màng ngoài tim. Tuy nhiên, trong giai đoạn sớm, hoặc viêm màng ngoài tim “khô” sẽ không thấy được dịch màng tim.

Siêu âm tim còn giúp ước lượng số lượng dịch màng tim, tìm dấu hiệu ép tim (cấp cứu tim mạch), dày dính màng tim…

Hình 2.60. Dịch màng ngoài tim ở sau thành sau thất trái và phía trước thất phải (hình bên trái), và dấu hiệu ép thất phải trên siêu âm (hình bên phải)

3.2.4. Các xét nghiệm cận lâm sàng khác

Xét nghiệm máu thường chỉ ra tình trạng viêm với bạch cầu tăng, máu lắng và CRP tăng.

Xét nghiệm men tim bình thường, hoặc có thể tăng nếu có viêm cơ tim kèm theo. Đặc biệt dù không viêm cơ tim nhưng Troponin I có thể tăng, trong khi CK, CK-MB bình thường (cơ chế chưa rõ ràng).

Xét nghiệm dịch màng tim trong trường hợp có chọc hút dịch màng tim: phải làm ít nhất 4 xét nghiệm: ly tâm tìm tế bào, xét nghiệm Rivalta và protein, PCR lao và cấy dịch.

Tóm lại, chẩn đoán xác định viêm màng ngoài tim dựa vào sự có mặt của ít nhất 2 trong số 4 tiêu chuẩn sau:

  • Đau ngực.
  • Cọ màng ngoài tim.
  • Biến đổi điện tâm đồ.
  • Dịch màng ngoài tim phát hiện trên siêu âm.

4. CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT

Trên lâm sàng chủ yếu cần phân biệt viêm màng ngoài tim với các nguyên nhân khác cũng gây ra đau ngực, đặc biệt là các cấp cứu tim mạch:

  • Nhồi máu cơ tim cấp: sốt, cọ màng ngoài tim có thể có nhưng xuất hiện muộn hơn đau ngực; biến đổi điện tâm đồ với dấu hiệu trực tiếp (ST chênh lên, sóng Q hoại tử) ở vùng nhồi máu, hình ảnh soi gương ở vùng đối diện, tăng men tim.
  • Tách thành động mạch chủ cấp: chụp cắt lớp lồng ngực, siêu âm tim cấp.
  • Thuyên tắc mạch phổi cấp: hoàn cảnh lâm sàng dễ có nguy cơ tắc phổi (sau phẫu thuật, nằm lâu, ung thư), trên lâm sàng có thể phối hợp với huyết khối tĩnh mạch chi dưới; chụp cắt lớp vi tính động mạch phổi giúp chẩn đoán xác định.
  • Viêm phổi, tràn khí màng phổi: X-quang tim phổi.

5. CHẨN ĐOÁN NGUYÊN NHÂN

5.1. Viêm màng ngoài tim do lao

Các dấu hiệu lâm sàng thường muộn và ít cấp tính hơn các loại viêm màng ngoài tim khác, do vậy rất khó chẩn đoán nếu viêm màng ngoài tim đơn độc, trừ khi đó là một biểu hiện của bệnh cảnh toàn thân.

Chẩn đoán dựa vào:

  • Thể trạng chung suy giảm: bệnh nhân thường sốt, khó thở, ớn lạnh, toát mồ hôi về chiều.
  • Yếu tố lây nhiễm, cơ địa dễ nhiễm lao (không tiêm phòng lao, người già, suy giảm miễn dịch, sau ghép tạng).
  • X-quang tim phổi, chụp cắt lớp phổi tìm tổn thương lao.
  • Xét nghiệm tìm vi khuẩn lao (soi, cấy) trong dịch dạ dày, đờm, dịch màng phổi, nước tiểu, dịch màng tim.

Đây là nguyên nhân hàng đầu gây biến chứng VMNT co thắt.

5.2. Viêm mủ màng ngoài tim

Diễn biến lâm sàng thường nặng, với các biểu hiện của nhiễm trùng toàn thể.

Biến chứng nặng nề nhất là ép tim cấp và viêm màng ngoài tim co thắt.

Bệnh nhân thường ở trong bệnh cảnh có ổ nhiễm trùng lân cận (áp xe phổi, áp xe trung thất), nhiễm trùng máu. Lấy dịch màng tim làm xét nghiệm vi khuẩn, kháng sinh đồ để điều trị kháng sinh đường toàn thân kết hợp với bơm rửa màng tim hoặc dẫn lưu bằng phẫu thuật.

5.3. Viêm màng ngoài tim do thấp tim

Đối tượng: trẻ, tiền sử viêm họng, cũng có thể có tiền sử thấp tim, múa vờn, tinh hồng nhiệt.

Sưng đau khớp nhỏ (đầu gối, cổ chân, cổ tay), tính chất di chuyển, có thể tự khỏi sau vài ngày.

Xét nghiệm có tăng bạch cầu, máu lắng tăng. Điện tâm đồ có thể gặp blốc nhĩ thất cấp I.

Chẩn đoán dựa vào ngoáy họng tìm liên cầu bêta tan máu nhóm A, xét nghiệm ASLO (Anti-streptolysin O).

5.4. Viêm màng ngoài tim sau nhồi máu cơ tim cấp

Tràn dịch, tràn máu màng ngoài tim có thể xuất hiện sớm sau vài giờ, vài ngày: chú ý nguyên nhân do biến chứng can thiệp, biến chứng của điều trị chống đông, cần phát hiện sớm và dẫn lưu dịch màng tim nếu có chỉ định.

Viêm màng ngoài tim có thể đến muộn sau vài tuần (Hội chứng Dressler): kèm theo đau khớp, tràn dịch màng phổi, hội chứng viêm.

5.5. Viêm màng ngoài tim trong ung thư

Đa phần viêm màng ngoài tim là thứ phát do ung thư di căn. Hay gặp nhất là u lympho, bệnh bạch cầu, ung thư phổi, ung thư vú. Ung thư nguyên phát tại màng ngoài tim hiếm gặp, có thể là sarcome, mesotheliome, teratome, fibrome.

5.6. Viêm màng ngoài tim vô căn hay do virus

Là nguyên nhân thường gặp nhất của viêm màng ngoài tim, thường gặp ở nam nhiều hơn nữ.

Diễn biến lành tính, hiếm khi gây biến chứng ép tim cấp, nhưng có thể tái phát.

Trên lâm sàng thường có triệu chứng khá điển hình với đau ngực xuất hiện đột ngột, cọ màng ngoài tim, trước đó có biểu hiện của hội chứng cúm hoặc viêm long đường hô hấp trên.

Xét nghiệm cận lâm sàng chỉ ra hội chứng viêm. Men tim bình thường (men tim tăng là do viêm cơ tim – màng ngoài tim).

Không cần các xét nghiệm tìm virus đặc hiệu. Tuy nhiên cần loại trừ các nguyên nhân khác gây viêm màng ngoài tim, đặc biệt là lao.

5.7. Các nguyên nhân khác

Viêm màng ngoài tim do urê máu tăng, viêm màng ngoài tim do dùng thuốc, viêm màng ngoài tim trong bệnh cảnh bệnh hệ thống….

6. TIẾN TRIỂN VÀ BIẾN CHỨNG

6.1. Ép tim cấp

Ép tim cấp là biến chứng nguy hiểm nhất của viêm màng ngoài tim và tràn dịch màng tim.

6.1.1. Nguyên nhân

Tất cả các loại VMNT đều có thể dẫn tới ép tim cấp. Nhưng trên thực tế, những nguyên nhân hay gặp nhất là:

  • Viêm màng ngoài tim do ung thư: chiếm khoảng 30% ép tim cấp.
  • Viêm màng ngoài tim cấp lành tính do virus hoặc vô căn.
  • Viêm màng ngoài tim do tăng urê máu.
  • Tràn máu màng ngoài tim sau tách thành động mạch chủ cấp, nhồi máu cơ tim cấp (đặc biệt sau dùng tiêu sợi huyết), chấn thương ngực, phẫu thuật tim mạch, một số can thiệp tim mạch (thăm dò điện sinh lý, nong van hai lá, đặt máy tạo nhịp).

6.1.2. Sinh bệnh học

Khi dịch màng ngoài tim tăng nhanh, hoặc số lượng dịch màng tim quá nhiều, sẽ gây ra bệnh cảnh ép tim cấp. Áp lực trong khoang màng tim tăng nhanh, vượt quá áp lực trong buồng tim phải và tim trái, gây chèn ép làm tim không thể giãn ra được, cản trở sự đổ đầy thất trong thì tâm trương (vô tâm trương cấp), do đó giảm thể tích tống máu và giảm huyết áp động mạch.

Trên lâm sàng có thể phát hiện thấy dấu hiệu mạch đảo. Cơ chế xuất hiện mạch đảo là do hít sâu làm tăng lượng máu tĩnh mạch trở về tim phải, nhưng dịch màng tim làm thất phải không thể giãn ra được, buộc vách liên thất phải giãn nở về phía thất trái, gây cản trở sự đổ đầy thất trái, dẫn đến giảm huyết áp và mạch chìm. Mạch đảo được xác định là giảm huyết áp tâm thu trên 10 mmHg khi bệnh nhân hít vào sâu. Không chỉ có ép tim cấp mới gây ra mạch đảo, mà trong một số tình huống lâm sàng khác như nhồi máu phổi diện rộng, suy hô hấp cấp cũng có thể xuất hiện mạch đảo.

6.1.3. Chẩn đoán xác định

Ép tim cấp là một cấp cứu tim mạch, đòi hỏi chẩn đoán nhanh và điều trị kịp thời.

6.1.3.1. Triệu chứng cơ năng

Bệnh nhân phải ngồi dậy vì khó thở nhiều, lo lắng, vật vã kích thích hoặc lơ mơ ngủ gà, vã mồ hôi.

6.1.3.2. Triệu chứng thực thể

  • Thở nhanh.
  • Nhịp tim nhanh, tiếng tim mờ.
  • Mạch đảo: đo huyết áp thấy HA tâm thu giảm trên 10 mmHg khi hít vào sâu. Bắt mạch khi hít sâu thì mạch chìm (mạch Kussmaul).
  • Các dấu hiệu suy tim phải: tĩnh mạch cổ nổi, gan to, tiểu ít…

6.1.3.3. Điện tâm đồ

  • Hình ảnh điện thế thấp ở các chuyển đạo ngoại biên.
  • Dấu hiệu luân phiên điện học: biên độ của phức bộ QRS xen kẽ không đều nhau, đây là dấu hiệu khá đặc hiệu nhưng không hằng định.

6.1.3.4. Siêu âm tim

Là thăm dò quan trọng nhất, cần được làm cấp cứu, để chẩn đoán, và hướng dẫn điều trị.

Siêu âm tim phát hiện thấy dịch trong khoang màng tim nhiều, gần như ôm trọn quả tim, tạo thành hình ảnh tim “bơi trong dịch”.

Dấu hiệu ép nhĩ phải cuối thì tâm trương, và ép thất phải đầu thì tâm trương trên siêu âm là những dấu hiệu có giá trị chẩn đoán ép tim cấp. Những dấu hiệu này có thể xuất hiện trước khi có triệu chứng ép tim trên lâm sàng.

6.1.3.5. Thông tim phải

Hiện nay hầu như không còn được chỉ định trên lâm sàng. Thông tim phải giúp đánh giá những hậu quả huyết động của TDMNT.

6.1.4. Chẩn đoán phân biệt

Tràn dịch màng tim có ép tim cấp cần phải phân biệt với một số cấp cứu tim mạch khác:

  • Nhồi máu cơ tim cấp, đặc biệt nhồi máu cơ tim thất phải: điện tâm đồ, men tim.
  • Tách thành động mạch chủ cấp: chụp cắt lớp vi tính ngực, siêu âm tim.
  • Suy tim toàn bộ: siêu âm tim.

6.2. Viêm màng ngoài tim co thắt

Viêm màng ngoài tim co thắt là hậu quả mạn tính của viêm màng ngoài tim (từ 3 tháng trở lên) gây xơ hóa, dày và dính màng ngoài tim.

6.2.1. Nguyên nhân

Các nguyên nhân thường gặp gây ra VMNT co thắt:

  • VMNT mủ.
  • VMNT do lao.
  • Hoặc sau xạ trị.

6.2.2. Sinh bệnh học

Màng ngoài tim dày, dính, vôi hóa làm cản trở khả năng giãn nở của cả hai tâm thất. Khả năng đổ đầy thất đầu tâm trương không bị ảnh hưởng, nhưng sau đó giảm đột ngột khi vượt quá giới hạn đàn hồi của màng ngoài tim. Chức năng tâm trương của tim suy giảm, trong khi khả năng co bóp vẫn bình thường.

6.2.3. Chẩn đoán

6.2.3.1. Lâm sàng

  • Mệt, khó thở khi gắng sức, có thể khó thở khi nằm, nhưng thường không có khó thở kịch phát.
  • Các dấu hiệu của suy tim phải: tĩnh mạch cổ nổi, gan to, cổ chướng, phù chi dưới, có thể lách to…
  • Khám tim: tiếng tim thường mờ, nhịp tim nhanh, có thể loạn nhịp hoàn toàn. Đôi khi có thể nghe thấy tiếng gõ màng ngoài tim đầu tâm trương do tâm thất giãn đột ngột.

6.2.3.2. Điện tim

  • Điện thế thấp lan tỏa, sóng T dẹt, ngoại tâm thu nhĩ, rung nhĩ.

6.2.3.3. Siêu âm Doppler tim

  • Màng ngoài tim dày, vôi hóa.
  • Giãn các buồng nhĩ, trong khi kích thước các buồng thất bình thường. Giãn tĩnh mạch chủ dưới và các tĩnh mạch trên gan.
  • Biến đổi dòng chảy theo hô hấp của phổ Doppler qua van hai lá và ba lá.

6.2.3.4. Chụp cắt lớp vi tính hoặc chụp cộng hưởng từ

Là thăm dò có giá trị phát hiện dày, vôi hóa màng ngoài tim. Tuy nhiên lại không chẩn đoán được sự co thắt màng tim.

6.2.3.5. Thông tim phải

Là thăm dò quan trọng chẩn đoán VMNT co thắt, và phân biệt với bệnh cơ tim hạn chế. Các dấu hiệu giúp phân biệt bệnh cơ tim hạn chế với viêm màng ngoài tim co thắt là áp lực động mạch phổi tâm thu > 50 mmHg, chênh lệch áp lực cuối tâm trương thất trái – thất phải > 5 mmHg, tỷ lệ áp lực cuối tâm trương/cuối tâm thu thất phải > 0,3.

Hình 2.61. Khác biệt giữa bệnh cơ tim hạn chế với viêm màng ngoài tim co thắt trên thông tim thăm dò huyết động

7. ĐIỀU TRỊ

Nguyên tắc điều trị

Trong điều trị viêm màng ngoài tim cấp, mục tiêu là giảm đau, giảm viêm, giảm tràn dịch và phòng tái phát.

– Điều trị nội trú so với ngoại trú: phần lớn các bệnh nhân viêm màng ngoài tim cấp nguy cơ thấp có thể được theo dõi và điều trị ngoại trú. Các bệnh nhân nguy cơ cao nên nhập viện để điều trị và tiếp tục chẩn đoán nguyên nhân chính xác, bao gồm các triệu chứng lâm sàng:

  • Sốt > 38 độ C.
  • Có triệu chứng chèn ép tim cấp, rối loạn huyết động.
  • TDMNT lượng nhiều (khoảng trống siêu âm ở cuối thì tâm trương > 20 mm).
  • Bệnh tự miễn.
  • Tiền căn đang điều trị thuốc kháng vitamin K hoặc chống đông thế hệ mới.
  • Chấn thương cấp.
  • Triệu chứng lâm sàng không cải thiện sau 7 ngày điều trị với thuốc chống viêm không steroid và colchicine.
  • Tăng men tim, gợi ý viêm cơ tim, viêm cơ màng ngoài tim.

– Hạn chế hoạt động thể lực: vận động nặng có thể làm khởi phát tình trạng bệnh. Do đó, bệnh nhân cần được hướng dẫn để hạn chế hoạt động thể lực gắng sức cho đến khi hết triệu chứng và dấu ấn sinh học về bình thường.

– Điều trị ban đầu:

  • Đối với gần như tất cả các bệnh nhân bị viêm màng ngoài tim cấp tính hoặc viêm màng ngoài tim do virus nên điều trị kết hợp colchicin với NSAID.
  • Đối với bệnh nhân có nguyên nhân được xác định không phải do virus, cần chỉ định điều trị cụ thể theo từng nguyên nhân.
  • Glucocorticoids nên được sử dụng để điều trị ban đầu viêm màng ngoài tim cấp tính ở những bệnh nhân chống chỉ định với NSAID, hoặc trong các chỉ định cụ thể (ví dụ, bệnh lý viêm toàn thân, mang thai, suy thận) và nên được sử dụng ở liều thấp nhất có hiệu quả.

– Điều trị xuống thang: sau khi các triệu chứng đã đỡ dần, giảm liều thuốc chống viêm trong vài tuần để giảm tỷ lệ tái phát sau đó. Colchicine nên được tiếp tục trong tổng thời gian ba tháng.

– Điều trị duy trì: hầu hết các bệnh nhân có triệu chứng xấu đi hoặc tái phát sau quá trình điều trị ban đầu vẫn có thể được điều trị hiệu quả chỉ bằng thuốc, đồng thời vẫn có thể quản lý ngoại trú trong hầu hết các trường hợp.

7.1. Điều trị viêm màng ngoài tim cấp vô căn

Nghỉ ngơi tại giường, tránh mọi hoạt động gắng sức nặng tới khi triệu chứng lâm sàng và xét nghiệm về bình thường.

Điều trị thuốc chống viêm không steroid (như ibuprofen 600 mg x 3 lần/ngày x 1-2 tuần sau đó giảm dần liều), hoặc aspirin 750-1000 mg x 3 lần/ngày x 1-2 tuần sau đó giảm dần liều. Thời gian điều trị có thể kéo dài tới khi hết hội chứng viêm (khoảng 1 tháng).

Có thể điều trị bằng colchicin 0,5 mg x 1 lần/ngày x 3 tháng, đặc biệt khi điều trị thuốc chống viêm không steroid thất bại.

Chống chỉ định điều trị thuốc chống đông do nguy cơ tràn máu màng tim.

Bảng 2.34. Các thuốc chống viêm thường sử dụng trong viêm màng ngoài tim cấp

Thuốc Liềua Thời gianb Liều xuống thang
Aspirin 750-1000 mg mỗi 8 giờ 1-2 tuần Giảm 250-500 mg mỗi 1-2 tuần
Ibuprofen 600 mg mỗi 8 giờ 1-2 tuần Giảm 200-400 mg mỗi 1-2 tuần
Colchicin 0,5 mg x 1 lần (< 70 kg) hoặc 0,5 mg x 2 lần/ngày (> 70 kg) 3 tháng Không bắt buộc, có thể thay bằng 0,5 mg cách ngày (< 70 kg) hoặc 0,5 mg x 1 lần (> 70 kg) trong những tuần cuối

a Nên xem xét giảm liều đối với aspirin và chống viêm không steroid.

b Thời gian sử dụng thuốc phụ thuộc vào triệu chứng và CRP nhưng thường 1-2 tuần đối với trường hợp không biến chứng. Nên dùng các thuốc bảo vệ dạ dày. Thêm colchicin kết hợp với aspirin hoặc ibuprofen.

7.2. Điều trị viêm màng ngoài tim theo nguyên nhân

Viêm màng ngoài tim mủ: điều trị kháng sinh đường tĩnh mạch. Có thể phải phẫu thuật dẫn lưu mủ màng tim và bơm rửa màng ngoài tim.

Viêm màng ngoài tim do lao: điều trị bằng phác đồ chống lao với thời gian kéo dài 12 tháng.

Viêm màng ngoài tim sau nhồi máu cơ tim: nên điều trị bằng aspirin hơn là thuốc chống viêm không steroid.

Viêm màng ngoài tim do urê máu tăng: chạy thận nhân tạo khi có chỉ định.

7.3. Điều trị ép tim cấp

Chọc dẫn lưu dịch màng ngoài tim bằng catheter dưới hướng dẫn của siêu âm: đây là phương pháp được lựa chọn hàng đầu, giúp cứu sống bệnh nhân. Trong khi chờ dẫn lưu màng tim có thể truyền dịch và sử dụng các thuốc vận mạch nếu cần để nâng huyết áp. Chống chỉ định dùng lợi tiểu hay thuốc giãn mạch.

Nong màng ngoài tim bằng bóng qua da: với những trường hợp TDMNT do ung thư, có nguy cơ tái phát cao.

Phẫu thuật dẫn lưu màng ngoài tim hoặc mở cửa sổ màng ngoài tim với những trường hợp TDMNT phức tạp hoặc sau mổ.

7.4. Điều trị viêm màng ngoài tim co thắt

Phương pháp điều trị hiệu quả duy nhất là phẫu thuật cắt bỏ màng ngoài tim.

Cập nhật thông tin mới nhất về kiến thức y học và test y học tại facebook TEST Y HỌC

Tham gia nhóm zalo: Tài Liệu Y Học Tổng Hợp

Ôn thi nội trú, sau đại học TẠI ĐÂY

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Content is protected !!
All in one