CHƯƠNG VI. BÀI 5:
BỆNH VIÊM KHỚP TỰ PHÁT THIẾU NIÊN
MỤC TIÊU
|
1. ĐẠI CƯƠNG VỀ BỆNH VIÊM KHỚP TỰ PHÁT THIẾU NIÊN
Viêm khớp tự phát thiếu niên (Juvenile idiopathic arthritis) là một nhóm bệnh lý có biểu hiện viêm một hoặc nhiều khớp kéo dài trên 6 tuần, khởi phát trước 16 tuổi, không rõ nguyên nhân, có tính chất tự miễn. Viêm khớp tự phát thiếu niên trước kia có một số tên gọi khác như viêm khớp tự phát ở trẻ em (Idiopathic childhood arthritis), hoặc viêm khớp mạn tính thiếu niên (Juvenile chronic arthritis) hoặc viêm khớp dạng thấp thiếu niên (Juvenile rheumatoid arthritis). Nhóm này có bảy thể khác nhau với tỷ lệ mắc bệnh của mỗi thể khác nhau. Tỷ lệ chung dao động từ 0,8 – 22,6/100 000 trẻ em. Dưới đây tóm tắt các thể bệnh chính. Ngoài các hậu quả do bệnh gây nên tương tự ở người lớn, ảnh hưởng của bệnh đối với sự phát triển của trẻ em là vấn đề quan trọng. Do vậy, việc lựa chọn thuốc và các phương pháp điều trị cũng phải lưu ý đặc biệt. Những tiến bộ trong điều trị trong vòng 20 năm qua đã cải thiện tiên lượng cho trẻ em, đặc biệt là với sự ra đời các thuốc sinh học. Mục đích điều trị là đạt được sự ổn định bệnh lâu dài và tránh các độc tính của thuốc. Quản lý bệnh nhân, phục hồi chức năng, hướng nghiệp cũng đóng vai trò quan trọng.
2. NGUYÊN NHÂN VÀ CƠ CHẾ BỆNH SINH
Nguyên nhân gây bệnh và cơ chế bệnh sinh viêm khớp tự phát thiếu niên còn chưa rõ. Đây là một bệnh tự miễn với đặc trưng ở một nhóm gen, một gen hoặc nhiều gen. Các yếu tố môi trường và yếu tố gen đều đóng vai trò quan trọng trong nguyên nhân gây bệnh. Có nhiều yếu tố liên quan như môi trường (môi trường đô thị, phơi nhiễm của thai nhi với khói thuốc lá…), chấn thương thực thể ở ngọn chi; nhiễm trùng (Parvovirus B19, Mycoplasma pneumoniae, Chlamydia trachomatis…), yếu tố miễn dịch (vai trò của tế bào T, B… và sự có mặt của kháng thể kháng ANA, kháng thể kháng CCP trong huyết thanh bệnh nhi); yếu tố hormon, yếu tố gen (IL2RA/CD25), HLA-B27C, HLA-DR8, HLA-DQ4 (tùy theo thể lâm sàng).
Về cơ chế bệnh sinh, mỗi thể khác nhau cũng có các cơ chế gây viêm và hủy khớp tương tự ở người lớn. Năm 2001 việc phát hiện được tế bào màng hoạt dịch có chứa RNA truyền tín đối với yếu tố phát triển nội mạch (endothelial growth factor), angiopoietin-1, các cơ quan thụ cảm tiếp nhận các yếu tố này đã gợi ý quá trình tăng sinh mạch gây nên bởi sự thâm nhiễm lympho bào có thể là nguyên nhân khiến bệnh diễn biến kéo dài.
3. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG CÁC THỂ BỆNH VIÊM KHỚP TỰ PHÁT THIẾU NIÊN
3.1. Đặc điểm chung của viêm khớp khởi phát ở trẻ em
Viêm khớp ở trẻ em có những đặc điểm khác biệt với viêm khớp ở người lớn, một số trường hợp do biểu hiện khác người lớn, mặt khác, do trẻ chưa thể mô tả được triệu chứng nên khó xác định. Ngoài ra, còn có các triệu chứng gây ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ.
3.1.1. Các đặc điểm lâm sàng
– Triệu chứng tại khớp: sưng đau và cứng khớp là những triệu chứng rất phổ biến của trẻ bị viêm khớp tự phát thiếu niên, nhưng có thể trẻ không nhận ra, không nói được là chúng bị đau khớp. Tình trạng sưng và cứng khớp thường biểu hiện rõ về buổi sáng hoặc sau giấc ngủ trưa.
Do giảm vận động vì sưng đau và cứng khớp, giảm biên độ hoạt động của khớp nên trẻ thường yếu và hoạt động khó khăn.
Đi lại khập khiễng gặp trong những trường hợp viêm khớp mức độ nặng nhưng cần loại trừ nguyên nhân chấn thương. Đi lại khập khiễng vào buổi sáng, các cử động gắng sức vào buổi sáng cho thấy có dấu hiệu cứng khớp buổi sáng và trẻ phải cố vận động để vượt qua tình trạng này. Biến dạng khớp thường không đối xứng và gây ra biến dạng chi.
– Triệu chứng toàn thân: sụt cân là triệu chứng phổ biến gặp ở trẻ mắc bệnh viêm khớp tự phát thiếu niên. Nguyên nhân do trẻ ốm mệt không ăn được hoặc do trẻ bị tiêu chảy.
– Chậm phát triển: trẻ mắc bệnh viêm khớp tự phát thiếu niên thường phát triển chậm hơn trẻ khác. Đặc biệt ở chi có khớp viêm, do quá trình viêm mạn tính hoặc do điều trị bằng glucocorticoid gây rối loạn phát triển, dẫn đến một tay hoặc một chân dài hoặc ngắn hơn bên đối diện.
– Các biến chứng
- Viêm màng bồ đào: có khoảng 10% trẻ mắc bệnh viêm khớp tự phát thiếu niên thể vài khớp và nhiều khớp có triệu chứng. Thể hệ thống hiếm gặp tổn thương viêm màng bồ đào. Viêm màng bồ đào cấp tính gặp ở các trẻ trai (trước hoặc ở tuổi trưởng thành), thường có kháng thể kháng nhân âm tính.
Viêm màng bồ đào mạn tính thường không triệu chứng, cần phải khám chuyên khoa mắt định kỳ. Đôi khi biểu hiện bởi hiện tượng trẻ sợ ánh sáng, thường biểu hiện ở cả hai mắt. Biến chứng thường gặp nhất, hậu quả của viêm màng bồ đào mạn âm thầm là dính mống mắt (H.6.4).

Hình 6.4. Biến chứng dính mống mắt do viêm màng bồ đào mạn tính
- Viêm màng ngoài tim: khó thở có thể là biểu hiện của viêm màng ngoài tim ở trẻ em viêm thể hệ thống. Cần chẩn đoán phân biệt với các bệnh như Lupus ban đỏ hệ thống hoặc viêm màng ngoài tim do virus. Viêm cơ tim xảy ra ở thể hệ thống.
- Các biến chứng do thuốc cũng rất phổ biến. Thường gặp nhất là ảnh hưởng do các thuốc chống viêm (nhóm không steroid và steroid) đối với quá trình phát triển của trẻ.
3.1.2. Các đặc điểm xét nghiệm
– Xét nghiệm biểu hiện phản ứng viêm (hội chứng viêm sinh học):
- Tốc độ máu lắng tăng.
- Protein phản ứng C (CRP- C reactive protein) tăng.
- Điện di protein: globulin tăng.
– Các xét nghiệm miễn dịch trong huyết thanh
- Yếu tố dạng thấp dương tính.
- Kháng thể kháng nhân ANA, kháng AKA, APF, kháng CCP dương tính.
– Các xét nghiệm dịch khớp:
Về đại thể: dịch khớp tăng khối lượng, thường màu vàng nhạt, giảm độ nhớt, lượng mucin giảm rõ rệt. Về tế bào học: số lượng bạch cầu trong dịch khớp tăng cao, chủ yếu là bạch cầu đa nhân trung tính, không có tế bào thoái hóa. Về miễn dịch học: có thể thấy tế bào hình nho (Ragocytes) ở hơn 10% trường hợp. Đây được coi là những bằng chứng thực bào của phức hợp miễn dịch tại màng hoạt dịch. Sự có mặt của yếu tố dạng thấp trong dịch khớp có tỷ lệ cao và sớm hơn trong huyết thanh.
– Hình ảnh X-quang quy ước
Với mục đích chẩn đoán thì chụp X-quang khớp chỉ giúp loại trừ nguyên nhân chấn thương hoặc u xương. Những thay đổi sớm trên X-quang ở bệnh nhân viêm khớp tự phát thiếu niên bao gồm sưng nề mô mềm quanh khớp (phổ biến nhất trong thể viêm ít khớp) và sự mở rộng khe khớp do dịch trong ổ khớp gia tăng; sự phì đại của màng hoạt dịch; sự mất chất khoáng ở vùng đầu xương của khớp tổn thương; xương phát triển không bình thường… Giai đoạn muộn hơn có hình ảnh hẹp khe khớp, hình ảnh bào mòn, có thể trật khớp mức độ nhẹ và dính khớp. Hình ảnh bào mòn thường không được phát hiện trong hai năm đầu của bệnh và thường được phát hiện trong thể viêm nhiều khớp và viêm khớp hệ thống. Có thể trẻ em có sụn khớp dày hơn, quá trình sửa chữa những tổn thương viêm tốt hơn cùng với sự phát triển của trẻ đang lớn khiến sự hủy khớp ít hơn so với người lớn. Sự cứng khớp ở trẻ em xảy ra sớm hơn người lớn và điển hình là ở khớp cổ tay, cổ chân và cột sống.
– Siêu âm: là phương pháp tốt nhất để phát hiện dịch trong khớp và sự phì đại của màng hoạt dịch. Các tác giả khuyến nên đặc biệt chú trọng chỉ định siêu âm khi trẻ đau khớp háng, khớp cổ chân nhằm phát hiện tình trạng viêm ngay từ giai đoạn đầu của bệnh.
– Cộng hưởng từ (MRI): có vai trò quan trọng để phát hiện những tổn thương ở giai đoạn sớm khi triệu chứng lâm sàng còn nghèo nàn và X-quang chưa phát hiện được tổn thương. Cộng hưởng từ cho biết hình ảnh của sụn khớp, hiện tượng phù tủy xương, sự phì đại của màng hoạt dịch, sự tưới máu của vỏ xương, tủy xương, cấu trúc sụn, đặc biệt có giá trị phát hiện sớm sự bào mòn nhỏ ở khớp. Có thể đánh giá đáp ứng điều trị tại chỗ (đặc biệt với glucocorticoid) và phát hiện những biến chứng nhỏ hình ảnh cộng hưởng từ.
3.2. Các thể bệnh trong viêm khớp tự phát thiếu niên
3.2.1. Thể hệ thống
– Lâm sàng: tuổi khởi phát thường gặp nhất là 2 tuổi, tỷ lệ trai và gái như nhau. Sốt kéo dài ít nhất 2 tuần, trong đó có 3 ngày liên tục. Đặc điểm của sốt là thường xảy ra một lần hoặc hai lần mỗi ngày, tại cùng một thời điểm trong ngày, sau đó nhiệt độ trở lại bình thường hoặc thấp hơn bình thường. Đặc điểm này rất hữu ích vì có thể phân biệt với sốt do bệnh lý nhiễm khuẩn, bệnh Kawasaki hoặc bệnh ác tính. Kèm theo có ban cánh bướm, hoặc hồng ban màu cá hồi tại thân hoặc ngọn chi, tồn tại một vài giờ, không ngứa. Ban ở thân hoặc ngọn chi thường có dạng sợi (H.6.5) xuất hiện khi sốt. Đôi khi có những ban rất ngứa và triệu chứng ngứa không đáp ứng với thuốc kháng histamin.

Hình 6.5. Hồng ban gặp trong thể hệ thống
– Viêm khớp (một hoặc vài khớp) thành đợt, ít nhất tồn tại trong hai tuần, sau đó thường biến mất. Đôi khi chỉ có đau khớp đơn thuần mà không có biểu hiện viêm. Có thể thường theo đau cơ. Tổn thương nội tạng (gan, lách, hạch to, viêm màng ngoài tim hoặc viêm các thanh mạc khác) có thể gặp. Hiếm khi có ép tim.
– Xét nghiệm: có hội chứng viêm sinh học. Hội chứng miễn dịch (yếu tố dạng thấp – RF, kháng thể kháng nhân) thường âm tính.
– Tiến triển: một số trẻ có biểu hiện hệ thống trong vài tháng tới vài năm. Một số khác luôn biểu hiện các triệu chứng hệ thống. Các thể biểu hiện vài khớp lành tính hơn biểu hiện nhiều khớp.
3.2.2. Thể viêm nhiều khớp RF âm tính hoặc dương tính

Hình ảnh X-quang: tại các khớp tổn thương có thể có hình ảnh hẹp khe khớp, hình bào mòn, mất chất khoáng đầu xương, trật khớp hoặc bán trật khớp; gặp ở các khớp quay – cổ tay; trụ – cổ tay; khối xương cổ tay, các khớp bàn – ngón tay, khớp ngón gần… Thể nhiều khớp thường có tiên lượng nặng.
Một số hiếm các trường hợp có thể tổn thương cột sống cổ, có thể dẫn đến tình trạng bán trật khớp, thường là đốt sống C2-C3 (H.6.9).

Sự hiện diện của yếu tố dạng thấp phân biệt hai thể: loại RF dương tính hoặc âm tính:
+ Loại RF dương tính (ít nhất hai lần xét nghiệm trong vòng 3 tháng cho kết quả dương tính): Thường gặp ở các trẻ gái trên 10 tuổi với thể viêm khớp dạng thấp điển hình như ở người lớn. Một số trường hợp tiến triển nặng, gặp ở các khớp nhỏ với hình bào mòn trên X-quang. Thể nhiều khớp thường có tiên lượng nặng.
+ Loại RF âm tính: có ít nhất 5 khớp tổn thương. Có thể gặp ở mọi lứa tuổi, song có hai lứa tuổi có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất là 2 tuổi và trước khi trưởng thành, nam giới chiếm đa số. Viêm màng bồ đào mạn tính chiếm 5-10% số trẻ này. Kháng thể kháng nhân thường âm tính.
3.2.3. Thể viêm một vài khớp (Oligoarticular – pauciarticular)
– Lâm sàng: đặc trưng bởi khởi phát viêm từ một đến bốn khớp. Thể điển hình thường xuất hiện ở các trẻ gái từ 2-5 tuổi (3 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất). Tổn thương điển hình là tại các khớp lớn, chủ lực (ví dụ: khớp gối, khớp cổ chân, cổ tay…). Trường hợp viêm một khớp hiếm gặp; cần xem xét các nguyên nhân nhiễm khuẩn, bệnh ác tính… bệnh Legg – Calvé-Perthes.
Thể viêm một vài khớp có hai kiểu diễn biến: loại cố định – chỉ tổn thương dưới 4 khớp; và loại lan tỏa – trong vòng 6 tháng đầu, xuất hiện thêm tổn thương, trên 4 khớp. Loại tổn thương lan tỏa có tiên lượng như thể nhiều khớp. Loại vài khớp tiên lượng tốt, thường thuyên giảm sau 4-5 năm.
– Xét nghiệm: kháng thể kháng nhân có thể âm tính hoặc dương tính. Loại kháng thể kháng nhân dương tính thường có nguy cơ cao viêm màng bồ đào mạn tính (10-20%).

Hình 6.10. Viêm khớp tự phát thiếu niên thể một khớp
3.2.4. Viêm khớp có viêm điểm bám tận (viêm điểm bám gân)
Viêm điểm bám tận có thể gặp trong các thể vài khớp hoặc nhiều khớp hoặc nằm trong bệnh cảnh bệnh lý cột sống (spondyloarthropathy). Bệnh lý cột sống là một bệnh mạn tính đặc trưng bởi viêm gân và dây chằng, đặc biệt là tại vị trí bám tận của gân trên xương (entheses). Thường gặp ở trẻ trai từ 6 tuổi, viêm khớp không đối xứng ở chi dưới có kèm viêm điểm bám tận của các gân, nơi bám vào xương. Bản thân bệnh lý cột sống có biểu hiện viêm khớp trong khi viêm khớp có biểu hiện viêm điểm bám tận, gây khó khăn khi phân biệt các phân nhóm. Mặc dù biểu hiện viêm điểm bám tận có thể gặp ở viêm khớp tự phát thiếu niên thể vài khớp hoặc nhiều khớp nhưng đa số các trường hợp, viêm khớp kèm viêm điểm bám tận là bệnh thuộc nhóm bệnh lý cột sống.
