Bài 17.1
SINH LÝ HỆ THẦN KINH VẬN ĐỘNG
CHỨC NĂNG VẬN ĐỘNG CỦA TỦY SỐNG VÀ THÂN NÃO
Hệ thống thần kinh kiểm soát vận động có ý thức của cơ thể bao gồm vỏ não, các trung tâm dưới vỏ, tủy sống. Vỏ não là nơi xuất phát của ý định, ra lệnh thực hiện và kiểm soát việc thực hiện động tác tùy ý. Các trung tâm dưới vỏ bao gồm các nhân xám trung ương, tiểu não, thân não chịu trách nhiệm điều hòa, phối hợp vận động để hoàn thành động tác. Tủy sống là nơi có “con đường chung cuối cùng” qua đó động tác được thực hiện, góp phần làm cho động tác được hoàn thiện. Các receptor đưa thông tin cảm giác bản thể và cảm giác có ý thức phản hồi về hệ thần kinh trung ương, giúp cho việc điều chỉnh động tác trong quá trình đang được thực hiện.
1. CHỨC NĂNG VẬN ĐỘNG CỦA TỦY SỐNG
1.1. Đơn vị vận động
1.1.1. Thành phần
1.1.1.1. Các neuron vận động
Các neuron vận động của tủy sống nằm ở sừng trước tủy và gồm có hai loại:
- Neuron vận động alpha: sợi trục lớn thuộc loại Aα (đường kính 9 – 20 µm), chi phối các sợi cơ vân lớn. Mỗi sợi trục khi kích thích gây co từ vài sợi đến hàng trăm sợi cơ vân. Sợi trục của neuron alpha và số sợi cơ vân do nó chi phối tạo thành một đơn vị vận động. Các xung động vận động từ các trung tâm phía trên tới tủy sống, được tích hợp trong các vòng neuron trung gian nằm trong chất xám của đoạn tủy sống rồi mới tới neuron vận động alpha ở sừng trước tủy sống. Từ sừng trước, sợi trục đi theo rễ trước dây thần kinh tủy sống tới chi phối cơ.
- Neuron vận động gamma: nhỏ hơn, nằm gần neuron alpha, có số lượng bằng khoảng một nửa số neuron alpha. Sợi trục thuộc loại Aγ (đường kính khoảng 5 µm) đi theo rễ trước tới chi phối các sợi cơ của suốt cơ. Neuron này hoạt động thường xuyên ở các mức độ khác nhau để duy trì trương lực cơ.
- Trong tủy sống còn có tế bào Renshaw: tế bào ức chế, truyền tín hiệu ức chế qua nhanh nối ngang đến các neuron vận động xung quanh neuron bị kích thích, tác dụng ức chế bên.
Xung động thần kinh của neuron alpha và neuron gamma theo sợi trục tới các đầu tận cùng, làm giải phóng chất dẫn truyền trung gian là acetylcholin, gây khử cực ở tế bào cơ và làm co cơ.
1.1.1.2. Sợi cơ
Tất cả các sợi cơ của một đơn vị vận động đều thuộc vào một loại được phân chia theo tính chất hóa học và đặc điểm co của sợi cơ. Có các loại sợi sau:
- Sợi cơ nhanh: sợi cơ (tế bào cơ) có kích thước lớn, tạo ra lực cơ mạnh. Tốc độ co nhanh do các cầu nối có hoạt tính ATPase mạnh và do mạng lưới nội cơ tương tái hấp thu ion Ca²⁺ nhanh. Sợi cơ loại này chóng mỏi vì có ít ty thể (mitochondria) nên không chuyển hóa theo con đường oxy hóa được. Năng lượng cho co cơ dựa vào việc phân giải glycogen để sinh ra ATP. Mỏi cơ xuất hiện khi dự trữ glycogen trong cơ giảm. Do sợi cơ không chuyển hóa theo con đường oxy hóa nên có ít mao mạch tới các sợi cơ này.
- Sợi cơ chậm: tế bào cơ có kích thước nhỏ, khi co không tạo ra lực lớn nhưng có khả năng co lâu. Kích thước tế bào nhỏ tạo điều kiện tốt để oxy vào sâu trong tế bào và các chất chuyển hóa dễ được đào thải khỏi tế bào. Tốc độ co chậm do các cầu nối có hoạt tính ATPase yếu và do màng lưới nội cơ tương tái hấp thu ion Ca²⁺ chậm. Do thời gian co của cơ dài nên kích thích cơ với tần số thấp có thể gây hiện tượng cộng kích thích và làm co cơ cứng. Co cơ lâu không bị mỏi là do nguồn ATP chủ yếu của cơ là từ chuyển hóa theo con đường oxy hóa. Hoạt tính ATPase yếu và tái hấp thu canxi chậm ở sợi cơ loại này không đòi hỏi phải có nhiều ATP. Do đòi hỏi nhiều oxy nên mao mạch đến các sợi cơ này nhiều.
- Sợi có tính chất của cả hai loại sợi trên.
1.1.2. Đặc điểm của đơn vị vận động
- Trong một cơ có nhiều đơn vị vận động; có đơn vị chỉ có một vài sợi cơ, có đơn vị có tới hàng nghìn sợi cơ. Đơn vị vận động ở cơ thực hiện các động tác chính xác (ví dụ, các cơ duỗi ngón tay, cơ vận nhãn,…) nhỏ hơn ở các cơ lớn thực hiện các động tác của một phần rộng của cơ thể hay để giữ tư thế.
- Khi neuron alpha của đơn vị vận động hưng phấn thì tất cả các sợi cơ của đơn vị vận động đó đều co.
- Các sợi cơ của một đơn vị vận động được phân bố rải rác trong cả khối cơ nên lực cơ do chúng tạo ra cũng được phân bố rải rác.
1.1.3. Huy động đơn vị vận động trong cơ
Thứ tự huy động các đơn vị vận động tham gia co cơ giúp cho việc kiểm soát vận động. Khi thực hiện co cơ, các đơn vị vận động nhỏ được huy động trước các đơn vị vận động lớn do dễ bị kích thích hơn. Số lượng các neuron vận động được huy động tùy thuộc vào tính chất của động tác. Ví dụ, để thực hiện các động tác chính xác, không đòi hỏi lực cơ lớn thì vỏ não chỉ kích thích tối thiểu đến các neuron vận động và chỉ gây hưng phấn ở các đơn vị vận động nhỏ do vậy cơ sẽ lâu bị mỏi.
1.2. Chức năng vận động của tủy sống và các phản xạ tủy
Ngoài chức năng dẫn truyền cảm giác lên các trung tâm phía trên, các xung động vận động từ các trung tâm phía trên xuống, tủy sống còn là trung tâm của những phản xạ đơn giản. Chất xám tủy là trung tâm của các phản xạ và các chức năng vận động khác của tủy sống. Các thông tin cảm giác về tủy sống theo rễ sau của dây thần kinh tủy. Vào trong tủy sống, thông tin được truyền đi theo hai đường: một đường dừng lại ở chất xám tủy sống và gây nên các phản xạ do đốt tủy đó chi phối; một đường tiếp tục lên các trung tâm cao hơn của trục não – tủy (lên các đốt tủy sống cao hơn, lên vỏ não). Trong tủy sống có rất nhiều sợi đi lên và đi xuống từ đốt tủy sống này tới đốt tủy sống khác. Các sợi này là các đường dẫn truyền của các phản xạ liên đốt tủy, trong đó có các phản xạ phối hợp vận động của mặt trước và mặt sau chi. Các phản xạ của tủy sống góp phần phối hợp động tác. Cung phản xạ của tủy tương đối đơn giản.
1.2.1. Phản xạ căng cơ
Phản xạ này có tác dụng làm co cơ khi cơ bị kéo giãn ra. Ví dụ, gõ búa phản xạ vào gân cơ tứ đầu gây phản xạ cơ này nên cẳng chân đang gấp sẽ duỗi ra. Cơ gấp và cơ duỗi đều có phản xạ này nên phản xạ căng cơ được ứng dụng rất thường quy trong thăm khám thần kinh (phản xạ đầu gối, các phản xạ duỗi).
1.2.1.1. Receptor của phản xạ căng cơ là suốt cơ (hình 17.1)
Số lượng suốt trong mỗi cơ phụ thuộc vào từng loại cơ: những cơ thực hiện động tác tinh tế, chính xác có nhiều suốt hơn là các cơ chỉ dùng để duy trì tư thế. Ví dụ, số lượng suốt cơ ở bàn tay (khoảng 80 suốt), bằng 20% số suốt ở các cơ lưng trong khi khối lượng các cơ lưng gấp 100 lần khối lượng các cơ ở bàn tay. Trong suốt cơ có các sợi cơ nội suốt chỉ có khả năng co ở 2 đầu (dưới tác dụng của neuron vận động gamma) còn phần trung tâm thì có các sợi thần kinh cảm giác và thần kinh vận động.
- Các sợi cơ nội suốt: sợi nội suốt là các sợi cơ vân rất mảnh, phần giữa có rất ít hoặc không có xơ actin và xơ myosin nên chỉ có hai đầu sợi là có khả năng co rút. Có hai loại sợi chính là sợi có túi nhân và sợi có chuỗi nhân. Sợi có túi nhân dài 7 mm, đường kính 30 µm, các nhân tập trung ở vùng giữa làm chỗ này phồng lên như một cái túi, mỗi suốt có 2 – 5 sợi loại này. Sợi có chuỗi nhân dài 4 mm, đường kính 15 µm, các nhân xếp nối nhau thành một hàng, trong mỗi suốt có khoảng 6 – 10 sợi. Mô liên kết bao quanh suốt liên tục với mô liên kết của sợi ngoại suốt. Khi sợi ngoại suốt co thì sợi nội suốt ngắn lại, khi sợi ngoại suốt bị kéo căng thì sợi nội suốt dài ra. Như vậy, chiều dài của suốt thay đổi theo chiều dài của cơ.
- Thần kinh ở suốt: Có hai loại sợi cảm giác xuất phát từ suốt thần kinh cơ. Loại thứ nhất còn gọi là sợi sơ cấp là một sợi to (thuộc nhóm Ia) có các nhánh tới tất cả mọi sợi cơ nội suốt ở phần trung tâm. Loại thứ hai còn gọi là sợi thứ cấp là các sợi nhóm II, nhỏ hơn, chỉ tới và tận cùng ở hai đầu các sợi có chuỗi nhân. Phần nhận cảm giác của suốt nằm ở phần trung tâm suốt. Sợi vận động đi tới suốt là sợi gamma, sợi trục thuộc nhóm Aγ. Có hai loại sợi gamma. Sợi gamma động chi phối sợi có túi nhân và làm tăng độ nhạy cảm của sợi Ia khi cơ bị kéo căng. Sợi gamma tĩnh chi phối các sợi có chuỗi nhân và làm tăng hoạt tính trương lực của sợi Ia ở mọi độ dài của cơ.

Hình 17.1. Sơ đồ cấu tạo suốt thần kinh cơ
1.2.1.2. Cung phản xạ căng cơ
Khi cả khối cơ bị kéo dài hoặc khi hai đầu của sợi nội suốt co lại sẽ kích thích phần trung tâm của suốt. Xung động đi theo sợi Ia vào tủy sống qua rễ sau tới kích thích neuron alpha, rồi xung động từ neuron alpha đi theo rễ trước tới cơ vân tương ứng, gây co cơ (hình 17.2). Cạnh neuron alpha có tế bào Renshaw. Tế bào này nhận tín hiệu từ neuron alpha tới kích thích và khi hưng phấn lại quay lại ức chế neuron alpha. Neuron alpha càng hưng phấn mạnh thì sự ức chế của tế bào Renshaw lên nó càng mạnh. Đây là cơ chế điều hòa tại chỗ hoạt động của neuron alpha. Như vậy, cơ vân bị kéo dài ra một cách đột ngột sẽ gây ra phản xạ co để ngăn không cho nó bị dài thêm. Khi cơ đã đạt đến một độ dài mới thì phản xạ căng cơ chấm dứt. Khi cơ bị ngắn lại đột ngột thì các hiện tượng xảy ra hoàn toàn ngược lại do các xung động được truyền về tủy sống từ các thụ cảm thể Golgi ở đầu gân. Kết quả là các sợi cơ vân không bị kích thích và giãn ra. Phản xạ căng cơ âm này có tác dụng chống lại sự rút ngắn chiều dài cơ. Tóm lại, phản xạ căng cơ có tác dụng giữ cho cơ có một độ dài không thay đổi. Cung phản xạ căng cơ là cung phản xạ đơn synap nên đáp ứng chấm dứt ngay và không có hiện tượng lan tỏa. Neuron vận động alpha chính là con đường chung cuối cùng, vừa có vai trò tích hợp, vừa có vai trò ly tâm. Do tốc độ dẫn truyền của sợi Ia lớn và cung phản xạ chỉ có một synap nên thời gian tiềm tàng của phản xạ rất ngắn. Đứt rễ sau dây thần kinh tủy sống làm giảm thông tin theo sợi Ia về tủy, làm tế bào alpha không bị kích thích nên làm giảm mức độ tăng trương lực.

Hình 17.2. Sơ đồ cung phản xạ căng cơ và tế bào Renshaw ức chế neuron vận động α
1.2.1.3. Vai trò của neuron gamma
Nếu hệ vận động gamma tăng kích thích lên sợi nội suốt làm co sợi nội suốt sẽ làm tăng tính chịu kích thích của suốt và do đó làm phản xạ căng cơ mạnh lên, động tác được mềm mại và liên tục. Ngược lại, nếu hệ gamma giảm kích thích lên sợi nội suốt thì phản xạ căng cơ sẽ bị giảm, các động tác được thực hiện rất nhanh. Trong số các sợi thần kinh vận động tới cơ có 31 phần trăm là các sợi gamma tới chi phối các suốt cơ. Xung động từ vùng vận động của vỏ não hoặc từ vùng nào của não đến neuron alpha thì cũng kích thích cả neuron gamma khiến cho các sợi nội suốt co đồng thời với sợi ngoại suốt. Điều này có hai tác dụng: trước hết là ngăn không cho suốt kháng lại sự co cơ, sau nữa là duy trì cho cơ có một độ mềm mại thích hợp trong khi thực hiện động tác cho dù cơ có thay đổi về chiều dài. Nếu suốt không co giãn trùng với sự co giãn của khối cơ thì phần nhận cảm của suốt lúc thì bị trùng, lúc thì bị kéo căng quá và cơ không thể hoạt động tối ưu được.
1.2.1.4. Ý nghĩa của phản xạ căng cơ
Trong khi động tác tùy ý đang được thực hiện, sợi Ia từ các suốt luôn thông báo cho các trung tâm vận động những thay đổi về chiều dài của cơ và tác động thêm lên neuron vận động alpha. Nhờ có phản xạ căng cơ, các động tác được mềm mại và liên tục chứ không run rẩy, giật cục và cơ thể duy trì được vị trí, tư thế của chi khi mang một vật nặng.
1.2.2. Phản xạ gân
Giữa các sợi gân của cơ có thụ cảm thể Golgi. Trung bình có từ 10 đến 15 sợi cơ được nối với một thụ cảm thể Golgi. Khi cơ co thì các thụ cảm thể Golgi ở gân của cơ đó bị kích thích, xung động được truyền theo các sợi Aα có tốc độ nhanh về tủy, cho biết sức căng của cơ. Xung động được truyền về tủy sống và gây phản xạ ức chế cơ cơ, ngăn không cho cơ căng quá mức. Khác với trường hợp cơ bị căng, sợi dẫn truyền cảm giác căng ở gân về tủy ức chế giãn tiếp neuron alpha qua neuron trung gian. Cũng như các suốt cơ, thụ cảm thể Golgi thông báo thường xuyên cho các trung tâm vận động cao hơn về những thay đổi tức thời độ căng ở các cơ khi đang thực hiện động tác. Ví dụ, các thông tin từ hai bộ phận này được truyền theo bó tủy – tiểu não sau lên tiểu não với tốc độ khoảng 120 mét/giây. Phản xạ này còn có tác dụng phân bố đồng đều lực cơ giữa các nhóm sợi cơ: sợi nào đã co mạnh thì bị ức chế, sợi nào co yếu thì bị kích thích do đó sức tải được phân bố đồng đều cho các sợi, tránh được một số sợi phải chịu tải quá mức dẫn đến bị tổn thương. Phản xạ gân có thể bị ức chế bởi các trung tâm cao hơn tủy. Trong lâm sàng, để làm phản xạ này dễ bộc lộ hơn người ta làm nghiệm pháp Jendrassik: bảo bệnh nhân tập trung tư tưởng kéo mạnh hai bàn tay nắm chặt nhau và gõ búa phản xạ vào gân cơ tứ đầu đùi trong lúc bệnh nhân đang kéo mạnh tay. Phản xạ gân cũng mang tính chất tiết đoạn, tức là mỗi đốt tủy là trung tâm của phản xạ gân ở một vùng (khoanh) nhất định của cơ thể (bảng 17.1).
1.2.3. Phản xạ rút lui
Khi một vùng da của chi bị kích thích, nhất là bị đau thì gây phản xạ làm gấp chi đó lại. Nếu kích thích đau ở nơi khác thì gây phản xạ làm nơi đó rời xa kích thích. Phản xạ này còn được gọi là phản xạ gấp mặc dù không phải chỉ có cơ gấp mới tham gia. Người ta cũng có thể gọi phản xạ này là phản xạ da do kích thích gây phản xạ tác động vào receptor đau ở da. Receptor của cảm giác đau là các đầu tự do của các sợi thần kinh Aδ và C. Vào tủy, sợi cảm giác tiếp xúc với nhiều neuron trung gian rồi mới tới neuron vận động; cung phản xạ ngắn nhất cũng có tới 3 – 5 neuron. Phần lớn thông tin qua nhiều neuron thuộc các mạng như mạng phân kỳ (để gây phản xạ lan tỏa tới các cơ cần thiết khác), mạng ức chế các cơ đối lập, mạng lặp lại kích thích sau khi kích thích đã chấm dứt. Một số neuron trung gian truyền thông tin tới các trung tâm cao hơn, một số khác tham gia vào cung phản xạ gây động tác rút lui nhằm đưa cơ thể hoặc một phần cơ thể tránh xa tác nhân kích thích có hại. Bộ phận đáp ứng là cơ gấp co lại khi neuron alpha chi phối cơ đó bị kích thích.
Phản xạ rút lui xuất hiện vài phần nghìn giây sau khi các receptor đau bị kích thích.
Phản xạ rút lui có các đặc điểm:
- Có thời gian tiềm tàng dài do các sợi dẫn truyền nhỏ, tốc độ dẫn truyền chậm và có nhiều synap.
- Vẫn còn đáp ứng khi không còn tiếp xúc với tác nhân kích thích nhờ các đường song song và các cung lặp lại kích thích. Bởi vậy, chi bị đau vẫn được giữ ở xa tác nhân kích thích trong khi chờ đại não quyết định nên đặt ở vị trí nào. Sau khi kích thích đã hết thì cơ trở về mức cơ bản đầu nhưng phải sau nhiều phần nghìn giây do hiện tượng lặp lại kích thích. Hiện tượng này lâu hay mau phụ thuộc vào cường độ kích thích ban đầu: kích thích yếu thì không gây hiện tượng lặp lại kích thích, kích thích mạnh có thể gây hiện tượng này kéo dài tới hơn một giây. Sự lặp lại kích thích trước hết là do các neuron trung gian (dài chừng 6 – 8 mili giây), sau đó là do các mạng quặt ngược tạo ra các vòng phản xạ trong mạng neuron (có thể kéo dài nhiều giây).
- Cơ đối lập cùng bên bị ức chế: qua các neuron trung gian, neuron alpha chi phối cơ đối lập bị ức chế. Sự phân bố thần kinh đối lập này thường gặp ở tủy sống. Nhờ có hiện tượng này mà động tác gấp không bị cản trở.
- Đáp ứng định hình nhờ phản xạ duỗi chéo: chi bị kích thích gấp lại còn chi đối diện lại duỗi ra. Cơ duỗi bên kia bị kích thích do có các neuron trung gian bắt chéo trong tủy sống sang kích thích các neuron vận động cơ duỗi bên kia. Ở chi dưới, nhờ phản xạ này mà khi một chân co lên khỏi mặt đất thì chi bên kia vẫn chống đỡ cho cơ thể.
- Nếu kích thích nhẹ thì chỉ phần bị kích thích đáp ứng. Ví dụ, nếu chạm bàn tay vào bàn là nóng thì rút bàn tay ấy ra xa bàn là. Nếu kích thích mạnh thì nhiều cơ được huy động, đáp ứng lan tỏa. Ví dụ, nếu nắm phải hòn than đỏ thì chẳng những có đáp ứng ở ngón tay, bàn tay đó mà cả cánh tay, thân mình hoặc toàn thân có đáp ứng.
1.2.4. Phản xạ duỗi chéo (hình 17.3)
Khoảng 0,2 – 0,5 giây sau khi kích thích đã gây ra phản xạ gấp ở một chi thì chi bên kia duỗi ra. Đó là phản xạ duỗi chéo, có tác dụng phối hợp vận động của các chi để đưa cả cơ thể ra xa tác nhân gây đau. Sở dĩ có phản xạ này vì các xung động vào tới tủy sống thì bắt chéo cả sang bên kia và gây ra đáp ứng hoàn toàn trái ngược với bên có đáp ứng gấp. Cung phản xạ này có nhiều neuron trung gian.

Hình 17.3. Sơ đồ phân bố thần kinh đối lập và cung phản xạ rút lui, cung phản xạ duỗi chéo.
1.2.5. Phản xạ da
Phản xạ da xuất hiện khi gai trên da ở một số nơi (da bụng, da bìu,…) gây co cơ ở gần hoặc ở dưới chỗ đó. Cung phản xạ có ba neuron, neuron trung gian nằm trong bó tủy – đồi thị trước nên khi bó này bị đứt thì mất phản xạ da. Kích thích cơ học hay điện gây được phản xạ nhưng một kích thích đơn độc đủ mạnh cũng không gây được phản xạ; ngược lại kích thích yếu nhưng lặp đi lặp lại chắc chắn gây được phản xạ theo quy luật cộng kích thích. Trung tâm phản xạ có vị trí nhất định tùy theo vùng da và cũng được ứng dụng trong thăm khám để phát hiện và xác định vị trí tổn thương ở tủy (bảng 17.1). Một trong những phản xạ da hay được sử dụng là phản xạ Babinski: dùng kim gai nhẹ phía ngoài lòng bàn chân từ phía gót lên gây phản xạ làm gấp các ngón chân. Nếu bó tháp bị tổn thương thì các ngón chân, nhất là ngón cái, xòe ra (có dấu hiệu Babinski). Cần chú ý là trẻ dưới hai tuổi thường có dấu hiệu Babinski nhưng không phải do bị tổn thương bó tháp mà do sự myelin hóa trong hệ thần kinh chưa được hoàn thành.
Bảng 17.1. Một số phản xạ tủy thường và trung tâm
| Phản xạ | Kích thích | Đáp ứng | Trung tâm |
| Ngửa bàn tay | Gõ đầu xương quay | Co ngửa dài co | Đoạn cổ 5 – 6 |
| Mỏm khuỷu | Gõ mấu trụ | Duỗi cẳng tay | Đoạn cổ 6 – 7 – 8 |
| Bánh chè (đầu gối) | Gõ lên gân cơ tứ đầu | Duỗi cẳng chân | Đoạn thắt lưng 3 – 4 |
| Gân gót | Gõ lên gân gót | Duỗi bàn chân | Đoạn cùng 1 – 2 |
| Da bụng | Gai bờ ngoài cơ thẳng | Co cơ, rốn lệch | Đoạn lưng 11 – 12 |
| Da bìu | Gai phía trong da đùi | Co bìu cơ | Đoạn thắt lưng 1 – 2 |
| Hậu môn | Gai quanh hậu môn | Co vòng co | Đoạn cùng 2 |
1.2.6. Rối loạn do tổn thương ở tủy
1.2.6.1. Hiện tượng choáng tủy
Khi tủy sống bị đứt ngang đột ngột thì xảy ra hiện tượng choáng tủy. Ngay tức khắc có các triệu chứng sau: mất mọi cảm giác, vận động, phản xạ gân xương, trương lực cơ (mất hoàn toàn mọi chức năng của tủy), hôn mê, tụt huyết áp (do mất tác dụng của giao cảm lên tim-mạch).
Hiện tượng này là do khi tủy sống bị đứt thì tủy bị mất các tín hiệu kích thích từ các trung tâm cao hơn đi tới nó. Động vật càng cao cấp thì hiện tượng choáng tủy xảy ra càng nặng và càng kéo dài. Nếu qua được cơn choáng tủy, một số rối loạn được phục hồi (ví dụ huyết áp) nhưng bệnh nhân bị mất vận động và cảm giác ở phần dưới chỗ bị đứt; các phản xạ có trung tâm là các đốt tủy dưới chỗ bị đứt ngang sẽ mạnh hơn bình thường (do mất sự ức chế từ các trung tâm phía trên), các phản xạ bàng quang, trực tràng có thể được hồi phục.
1.2.6.2. Hội chứng Brown – Sequard
Là hậu quả của bị đứt ngang nửa tủy. Sau khi hồi phục, bên lành còn vận động và cảm giác sâu, mất cảm giác đau và cảm giác nông lạnh; bên bị tổn thương mất vận động, mất cảm giác sâu, còn cảm giác nông lạnh, cảm giác xúc giác thô sơ, rối loạn xúc giác tinh tế, bị giãn mạch.
2. CHỨC NĂNG VẬN ĐỘNG CỦA THÂN NÃO
Thân não gồm hành não, cầu não và não giữa. Thân não có nhiều chức năng có tính sinh mệnh: điều hòa hô hấp, điều hòa tim-mạch, điều hòa chức năng tiêu hóa. Đối với vận động, thân não chi phối các động tác có tính động hình, điều hòa thăng bằng, cử động của nhãn cầu.
2.1. Nhân tiền đình
Nhân tiền đình nằm ở hành não, có vai trò phối hợp và làm tăng tác dụng của các nhân lưới ở cầu não, kích thích các cơ kháng trọng lực và qua các liên hệ với cơ quan tiền đình ở ốc tai, có tác dụng tham gia giữ thăng bằng cho cơ thể. Nhân tiền đình nhận thông tin từ các receptor của cơ quan tiền đình qua các sợi của dây tiền đình (dây VIII). Các phản xạ tiền đình duy trì trương lực của các cơ kháng trọng lực và có vai trò phối hợp cử động của chi dưới và của mắt khi cơ thể thay đổi tư thế, tham gia vào giữ thăng bằng.

Hình 17.4. Sơ đồ các đường liên hệ giữa các nhân ở thân não và tủy sống
2.1.1. Nhân tiền đình nhận các thông tin từ não và tiểu não tới
Não và tiểu não có tác dụng ức chế nhân tiền đình. Nếu mất sự ức chế này thì nhân tiền đình sẽ phát xung nhanh và nhiều, kích thích neuron alpha, gây ra các triệu chứng do tăng trương lực cơ giống như khi cấu tạo lưới thoát ức chế (hình 17.4). Tuy nhiên, tăng trương lực do nhân tiền đình thoát ức chế khác với tăng trương lực do cấu tạo lưới thoát ức chế: tăng trương lực do nhân tiền đình là do neuron alpha bị kích thích còn tăng trương lực do cấu tạo lưới là do cả hai neuron alpha và gamma bị kích thích. Vì neuron gamma không có vai trò gì trong tăng trương lực do nhân tiền đình thoát ức chế nên nếu có cắt rễ sau dây thần kinh cũng không cải thiện được nhiều.
2.1.2. Nhân tiền đình nhận thông tin từ cơ quan tiền đình
Mê đạo màng của tai trong, các ống bán khuyên là cơ quan nhận cảm về thăng bằng và vị trí của đầu trong không gian; còn ốc tai là cơ quan nghe. Receptor ở bộ máy tiền đình là các tế bào có lông.
Trong các túi bầu dục (saccule) và túi nhỏ (utricule) có các hòn đá tai và các tế bào có lông. Các tế bào này thường xuyên phát xung với tần số khoảng 100 xung/giây. Khi các sợi lông ngả về phía sợi lông dài nhất ở một đầu thì bị kéo ra xa nhân tế bào, làm mở nhiều kênh kali, gây ra hiện tượng khử cực ở tế bào lông và tần số xung ở các tế bào lông tăng lên. Ngược lại, nếu các sợi lông ngả về phía kia thì lại gây hiện tượng ưu phân cực ở tế bào lông, tần số xung ở các tế bào lông giảm xuống. Ở các nơi khác nhau, sợi lông được sắp xếp theo các hướng khác nhau. Mỗi khi vị trí trong không gian của đầu thay đổi, các hòn đá tai chuyển động theo quy luật vật lý và trọng lượng của chúng làm ngả các sợi lông. Tín hiệu từ các sợi lông phát ra được chuyển về não và cho biết vị trí, sự thay đổi vị trí của đầu so với lúc trước. Đá tai có quán tính lớn hơn quán tính của dịch bào quanh nên khi chạm vào tế bào có lông còn cho biết gia tốc chuyển động thẳng.
Các ống bán khuyên được sắp xếp theo ba mặt phẳng không gian, trong đó chứa nội dịch. Khi nội dịch di chuyển thì kích thích cơ quan nhận cảm có ở phần phình của ống. Khi đầu quay thì ống bán khuyên có cùng mặt phẳng quay theo đầu làm nội dịch trong đó chảy dồn về phía phần phình, làm ngả các sợi lông ở đây, kích thích mê lộ. Xung động từ mê lộ được truyền về não. Khi đầu quay đột ngột, ống bán khuyên quay theo đầu còn nội dịch trong ống có xu hướng đứng yên do quán tính của nó. Vì vậy xảy ra hiện tượng nội dịch chảy ngược với chiều quay của đầu trong vài giây và kích thích các receptor trong ống bán khuyên. Kích thích kiểu này cho biết gia tốc góc của chuyển động. Khi đầu ngừng quay đột ngột thì xảy ra hiện tượng ngược lại. Các ống bán khuyên không cho biết sự thay đổi vị trí theo chiều trước – sau và theo chiều phải – trái nhưng có vai trò trong việc giữ thăng bằng vì cho phép cơ thể dự đoán sự mất thăng bằng và làm cho các trung tâm tham gia giữ thăng bằng gây ra các đáp ứng thích hợp. Thông tin từ các receptor của cơ quan tiền đình được truyền về nhân tiền đình qua dây VIII. Cơ quan tiền đình bị kích thích quá mức gây cảm giác chóng mặt, nôn nao.
2.1.3. Các phản xạ tiền đình
- Phản xạ tiền đình – mắt: giúp cho mắt nhìn cố định vào vật trong khi đầu xoay. Ví dụ, nếu đầu xoay sang trái, mắt chuyển động sang phải để giữ cho ảnh nằm trên vùng trung tâm võng mạc. Khi mắt đã chuyển đến chỗ xa nhất (khóe mắt) thì lại rất nhanh chóng trở về giữa mắt. Nếu đầu vẫn tiếp tục quay, mắt lại chuyển theo hướng ngược lại với hướng quay của đầu. Đây là hiện tượng rung giật nhãn cầu. Cử động chậm của mắt để nhìn cố định vào vật là do các ống bán khuyên. Tổn thương các đường tiền đình có thể gây rung giật nhãn cầu. Phá hủy các receptor ở tiền đình ngăn được hiện tượng rung giật nhãn cầu khi xoay đầu.
- Phản xạ đối địa: Receptor trong các túi nhỏ bị kích thích bởi gia tốc thẳng của đầu khi rơi từ trên cao xuống và gây ra phản xạ co các cơ chi dưới trước khi bàn chân chạm đất nhằm tránh cho chân bị tổn thương khi xuống cầu thang hoặc nhảy từ cao xuống.
Từ nhân tiền đình có các sợi đi xuống tủy sống qua các bó tiền đình – tủy. Xung động từ nhân tiền đình có tác dụng kích thích neuron vận động alpha chi phối cơ kháng trọng lực.
2.2. Nhân đỏ (hình 17.4)
Nhân đỏ nằm trong cuống não, là nơi xuất phát của bó nhân đỏ – tủy có tác dụng ức chế trương lực cơ thông qua ức chế neuron alpha.
Nhân đỏ nhận các sợi từ nhân răng của tiểu não đối bên đi tới. Nhân đỏ phối hợp với nhân tiền đình và các trung tâm vận động dưới vỏ khác (tiểu não, cuống não, hành não) trong các phản xạ tư thế và chính thế. Phản xạ tư thế và chính thế là những phản xạ phức tạp giữ cho cơ thể ổn định ở một tư thế nhất định hoặc làm cho cơ thể tự động trở về tư thế cũ khi tư thế cũ bị mất ổn định hoặc làm cho cơ thể trở về bình thường khi lâm vào tư thế bất thường (nghiêng, ngửa, lộn người,…). Các phản xạ này xuất hiện khi có thông tin từ mê lộ ở tai trong, từ các receptor bản thể. Trung tâm của các phản xạ này là nhân đỏ và nhân tiền đình. Hai nhân này phối hợp với nhau để điều chỉnh trương lực của các cơ ở các phần khác nhau của cơ thể để giữ tư thế thăng bằng, ổn định. Các phản xạ tư thế và chính thế còn chịu tác dụng của thị giác.
2.3. Cấu tạo lưới (hình 17.4)
Các nhân của cấu tạo lưới được chia thành hai nhóm. Nhóm nhân lưới ở cầu não nằm trên đường đi của các đường dẫn truyền cảm giác, có tác dụng kích thích các chức năng của tủy sống qua bó cấu tạo lưới – tủy sống, kích thích các cơ kháng trọng lực (từ nhóm này có các sợi đi lên khắp vỏ não và hoạt hóa không đặc hiệu vỏ não). Nhóm nhân lưới ở hành não thông qua bó cấu tạo lưới – tủy ức chế các chức năng của tủy sống, ức chế các cơ kháng trọng lực. Cả hai nhóm này chịu tác dụng của vỏ não và của các nơi khác để gây co các cơ kháng trọng lực và gây ức chế các nhóm cơ nào đó để động tác được thực hiện theo yêu cầu.
2.4. Củ não sinh tư
2.4.1. Củ não sinh tư trước
Các củ não sinh tư trước là trung tâm của các phản xạ định hướng với ánh sáng như máy mắt, lấy trong mắt, quay đầu đưa mắt về phía nguồn sáng. Hai củ não sinh tư trước nhận những sợi vận động từ vỏ não xuống và là nơi xuất phát của bó mái – tủy đến tận cùng ở sừng trước và chi phối cử động của đầu, mắt, thân và chi dưới, chịu ảnh hưởng của kích thích thị giác.
2.4.2. Củ não sinh tư sau
Các củ não sinh tư sau là trung tâm của những phản xạ định hướng với âm thanh như vểnh tai, quay đầu, hướng tai về phía nguồn âm, làm co cơ cơ búa để tránh những tổn thương do âm thanh quá mạnh gây ra cho cơ quan thính giác.
2.5. Rối loạn do tổn thương ở thân não
Tổn thương ở các trung tâm trong cấu tạo lưới dẫn đến choáng tủy. Tủy sống bị mất liên hệ với thân não. Các phản xạ bị mất hoàn toàn, kéo dài hàng tháng ở người. Khi được hồi phục, các phản xạ không bình thường như trước như mất đáp ứng tại chỗ trong phản xạ rút lui; chỉ chạm nhẹ vào bàn chân cũng làm các cơ gấp toàn thân co. Sau cùng, các neuron vận động bị hưng phấn quá mức dẫn đến một số nhóm cơ bị co liên tục.
Cập nhật thông tin mới nhất về kiến thức y học và test y học tại facebook TEST Y HỌC
Tham gia nhóm zalo: Tài Liệu Y Học Tổng Hợp
Ôn thi nội trú, sau đại học TẠI ĐÂY
