Bài 67
CO GIẬT DO SỐT
1. ĐẠI CƯƠNG
1.1. Định nghĩa
Chẩn đoán co giật do sốt theo tiêu chuẩn của Tổ chức Chống động kinh thế giới (năm 2017):
- Tất cả các cơn co giật xảy ra khi bệnh nhi sốt trên 38°C.
- Tuổi mắc bệnh: từ 6 tháng đến 5 tuổi.
- Không có bằng chứng của nhiễm trùng thần kinh trung ương.
- Không có bằng chứng của tình trạng rối loạn chuyển hóa cấp tính gây co giật.
1.2. Dịch tễ học
- Tỷ lệ mắc co giật khác nhau giữa các quốc gia và sắc tộc: tỷ lệ mắc ở Nhật là 7%, ở đảo Mariana là 14%; ở Mỹ là 2,2 – 5% trẻ dưới 5 tuổi (ở Mỹ trẻ em da đen mắc bệnh nhiều hơn trẻ da trắng).
- Trẻ nam mắc bệnh nhiều hơn trẻ nữ: tỷ lệ nam/nữ là 1,6:1.
- Tuổi mắc bệnh cao nhất ở nhóm tuổi từ 12 đến 18 tháng.
- Bệnh mắc vào mùa đông xuân nhiều hơn mùa hè.
1.3. Các yếu tố nguy cơ của bệnh co giật do sốt
Các yếu tố nguy cơ của co giật do sốt bao gồm: tuổi, nhiệt độ cơ thể, tình trạng nhiễm trùng, gen/yếu tố gia đình, tiêm chủng…
1.3.1. Tuổi
- Bệnh co giật do sốt xảy ra ở nhóm tuổi 6 tháng đến 5 tuổi.
- Tỷ lệ mắc cao nhất ở nhóm 12 tháng đến 18 tháng.
1.3.2. Nhiệt độ cơ thể
- Tình trạng co giật hay gặp nhất ở trẻ sốt trên 39°C.
- Có khoảng 25% trẻ co giật khi sốt 38°C – 39°C.
- Tình trạng co giật tùy thuộc vào ngưỡng nhiệt độ của từng trẻ nhưng thường gặp ở những trẻ tăng thân nhiệt nhanh.
1.3.3. Tình trạng nhiễm trùng
Co giật do sốt có thể liên quan đến nhiễm một số loại virus, các loại virus này khác nhau giữa các quốc gia và khác nhau giữa các châu lục.
- Ở Mỹ có khoảng 2/3 số trẻ bị co giật do sốt dưới 2 tuổi nhiễm HHV-6 (Human Herpes Virus-6).
- Ở châu Âu có khoảng 35% trẻ bị co giật do sốt nhiễm HHV-6; 14% nhiễm Adenovirus; 11% nhiễm RSV; 9% nhiễm HSV; 2% nhiễm HHV-7.
- Ở Hồng Kông tỷ lệ nhiễm virus ở bệnh nhân co giật do sốt là: nhiễm cúm A là 17,6%; adenovirus là 6,8%; cúm là 6%; RSV là 2,7% và rotavirus là 1,3%.
- Nhiễm HHV-6 có liên quan đến tăng tỷ lệ nhóm co giật do sốt phức hợp, tăng tỷ lệ tái cơn và trạng thái co giật khi sốt.
1.3.4. Yếu tố gia đình
- Khoảng 25% trẻ bị co giật do sốt có bố/mẹ hoặc cả bố và mẹ bị bệnh này so với nhóm chứng là 5%.
- Những đứa trẻ có bố/mẹ hoặc cả bố và mẹ bị co giật do sốt thì 11% sinh con nguy cơ mắc bệnh.
- Trẻ có anh chị em bị co giật do sốt thì nguy cơ mắc bệnh là 22%.
- Trẻ có cả bố mẹ và anh chị em bị co giật do sốt thì nguy cơ mắc bệnh là 46%.
- Nhóm trẻ có mẹ bị co giật do sốt có nguy cơ mắc bệnh cao hơn nhóm trẻ có bố bị bệnh này.
1.3.5. Yếu tố gen
- Gen FEB1, FEB2, FEB3 phát hiện được ở 36% bệnh nhân bị co giật do sốt với 2% ở nhóm chứng.
- Các bệnh nhân có bất thường hỏi hai mã liên quan đến gen bị co giật do sốt có nguy cơ bị động kinh thủy thái dương. Khoảng 10,5% bệnh nhân này có nguy cơ bị trạng thái co giật khi sốt.
1.3.6. Tiêm chủng
Trẻ tiêm chủng một số loại vaccin có thể làm tăng nguy cơ co giật do sốt.
- Có khoảng 25 – 34 trẻ/100.000 trẻ tiêm phòng mũi phối hợp sởi, quai bị, rubella bị co giật do sốt.
- Có khoảng 6 – 9 trẻ/100.000 trẻ tiêm phòng mũi phối hợp bạch hầu, ho gà, uốn ván bị co giật do sốt.
- Tiêm mũi phối hợp (bạch hầu, ho gà, uốn ván với thủy đậu) có nguy cơ bị co giật do sốt cao hơn so với tiêm riêng mũi thủy đậu.
- Trẻ từ 12 – 15 tháng tuổi tiêm các loại vaccin phối hợp có chứa vaccin sởi có nguy cơ bị co giật do sốt thấp hơn nhóm trẻ 16 – 23 tháng tuổi.
1.3.7. Các yếu tố khác của bệnh co giật do sốt
- Những bà mẹ hút thuốc lá ≥ 10 điếu/ngày trong thời kỳ mang thai thì sinh con có nguy cơ cao bị co giật do sốt.
- Có khoảng 17% trẻ có tiền sử sàng chấn khi sinh và ngạt lúc sinh bị co giật do sốt.
- Suy dinh dưỡng bào thai và nồng độ ferritin huyết thanh thấp là yếu tố nguy cơ của co giật do sốt.
2. CHẨN ĐOÁN
2.1. Chẩn đoán xác định co giật do sốt
- Tất cả các cơn co giật xảy ra khi bệnh nhi sốt trên 38°C.
- Tuổi mắc bệnh: từ 6 tháng đến 5 tuổi.
- Không có bằng chứng của nhiễm trùng thần kinh trung ương.
- Không có bằng chứng của tình trạng rối loạn chuyển hóa cấp tính gây co giật.
2.2. Chẩn đoán trạng thái động kinh khi sốt
- Cơn co giật xảy ra khi sốt.
- Cơn giật kéo dài ≥ 30 phút.
- Bệnh nhân không hồi phục ý thức giữa các cơn.
2.3. Phân loại co giật do sốt
Co giật do sốt gồm 2 loại đơn thuần và phức hợp. Phân loại giúp tiên lượng và theo dõi điều trị.
2.3.1. Chẩn đoán co giật do sốt đơn thuần khi có tất cả các biểu hiện sau:
- Cơn giật toàn thể.
- Cơn giật kéo dài dưới 15 phút.
- Chỉ có 1 cơn giật trong 24 giờ.
- Không có triệu chứng thần kinh trước đó.
2.3.2. Chẩn đoán co giật do sốt phức hợp khi có ít nhất một trong ba biểu hiện sau:
- Cơn giật cục bộ.
- Cơn giật kéo dài trên 15 phút.
- Có ≥ 2 cơn giật trong 24 giờ.
2.4. Chẩn đoán phân biệt
- Viêm màng não
- Viêm não
- Hội chứng não cấp
- Một số hội chứng động kinh liên quan đến sốt: động kinh toàn thể kèm co giật do sốt, động kinh nhạy cảm với nước nóng, hội chứng Dravet, hội chứng Doose…
3. XÉT NGHIỆM CẬN LÂM SÀNG
Các triệu chứng lâm sàng sẽ gợi ý các xét nghiệm cần chỉ định để loại trừ các bệnh nhiễm trùng thần kinh trung ương, rối loạn chuyển hóa cấp, hội chứng não cấp và một số hội chứng động kinh liên quan đến sốt.
3.1. Xét nghiệm máu
- Tổng phân tích tế bào máu ngoại vi.
- Điện giải đồ (hay gặp giảm natri máu): bệnh nhân bị co giật do sốt phức hợp kèm giảm natri máu có nguy cơ cao tái cơn co giật.
- Xét nghiệm glucose máu.
- Xét nghiệm calci máu.
*Các xét nghiệm khác tùy thuộc định hướng nguyên nhân gây sốt.
3.2. Xét nghiệm dịch não tủy
Chỉ định xét nghiệm dịch não tủy cho bệnh nhân bị co giật khi sốt, nếu:
- Nghi ngờ bị viêm não, viêm màng não.
- Bệnh nhân dưới 6 tháng bị co giật kèm theo sốt (trừ khi bác sĩ có kinh nghiệm đã khám lâm sàng loại trừ nhiễm trùng thần kinh trung ương nhưng phải đánh giá lại sau mỗi 2 giờ hoặc gia đình không đồng ý làm xét nghiệm).
- Bệnh nhân dưới 18 tháng chưa tiêm phòng Hib (Haemophilus influenzae type B), phế cầu.
- Co giật do sốt phức hợp và rối loạn ý thức kéo dài sau cơn giật.
- Bệnh nhân có tình trạng kích thích hoặc li bì kéo dài trước khi đến bệnh viện.
- Bệnh nhân đã được điều trị kháng sinh trước khi đến bệnh viện.
3.3. Điện não đồ
Không chỉ định thường quy cho tất cả các bệnh nhân bị co giật do sốt. Chỉ làm điện não đồ trong các trường hợp:
- Co giật do sốt phức hợp, có triệu chứng thần kinh.
- Trạng thái co giật khi sốt cần làm điện não đồ trong vòng 72 giờ sau cơn giật.
3.4. Chụp cắt lớp vi tính hoặc chụp cộng hưởng từ sọ não
- Chụp cấp cứu cho các bệnh nhân có các triệu chứng thần kinh khu trú hoặc nghi ngờ tăng áp lực nội sọ.
- Có thể chỉ định cho các bệnh nhân nghi ngờ viêm não.
- Không có chỉ định chụp cho bệnh nhân bị co giật do sốt đơn thuần.
4. TIÊN LƯỢNG
- Hầu hết các bệnh nhân tái cơn co giật khi sốt trong 2 năm:
- Tỷ lệ tái 1 cơn là 33% – 44%.
- Tỷ lệ tái ≥ 2 cơn là 9% – 20%.
- Yếu tố nguy cơ tái cơn co giật khi sốt:
- Cơn giật đầu tiên dưới 1 tuổi.
- Tiền sử bố mẹ bị co giật khi sốt.
- Có cơn giật khi sốt dưới 38°C.
- Khoảng thời gian từ khi sốt đến khi giật ngắn (dưới 60 phút).
- Cơn giật kéo dài ≥ 15 phút.
- Có cơn giật cục bộ hoặc có ≥ 2 cơn trong vòng 24 giờ.
- Tỷ lệ bệnh nhân bị động kinh sau co giật khi sốt:
- Bệnh nhân bị co giật khi sốt đơn thuần ≤ 5%.
- Bệnh nhân bị co giật khi sốt phức hợp hợp 10% – 20%.
- Bệnh nhân bị co giật khi sốt kéo dài hoặc trạng thái co giật khi sốt có nguy cơ bị động kinh cục bộ hoặc bệnh xơ hóa thùy thái dương.
- Bệnh nhân chậm phát triển tâm thần hoặc tiền sử gia đình bị động kinh có nguy cơ cao bị động kinh sau co giật do sốt.
- Co giật do sốt không ảnh hưởng đến sự phát triển tâm thần vận động của trẻ trừ nhóm có giật kéo dài hoặc nhóm có tổn thương thùy thái dương.
5. ĐIỀU TRỊ
Nguyên tắc điều trị bao gồm:
- Hạ sốt.
- Cắt cơn giật.
- Điều trị trạng thái co giật do sốt.
- Điều trị nguyên nhân gây sốt.
- Điều trị dự phòng.
5.1. Hạ sốt
- Ibuprofen 5 – 10 mg/kg/lần, cách 6 – 8 giờ/lần, không quá 40 mg/kg/ngày.
- Hoặc acetaminophen 10 – 15 mg/kg/lần, cách 4 – 6 giờ/lần, không quá 60 mg/kg/ngày.
- Thuốc hạ sốt không dự phòng được co giật, không ngăn ngừa được cơn giật tái diễn.
- Thuốc hạ sốt làm giảm nhiệt độ cơ thể nhưng không làm giảm ngay được nhiệt độ đỉnh.
- Khuyến cáo dùng ibuprofen có tác dụng hạ sốt kéo dài hơn acetaminophen.
- Chườm nước ấm.
5.2. Điều trị cắt cơn giật tại cơ sở y tế
Chỉ định:
- Cơn giật kéo dài > 5 phút.
- Trạng thái co giật khi sốt.
- Cơn giật liên tiếp.
Thuốc lựa chọn:
- Bước 1: Diazepam đường trực tràng: 0,5 mg/kg/lần (trẻ ≤ 5 tuổi); 0,3 mg/kg/lần (trẻ > 5 tuổi).
- Bước 2: Fosphenytoin đường tĩnh mạch 15 – 20 mg/kg/lần.
- Bước 3: Diazepam đường tĩnh mạch 0,1 – 0,3 mg/kg/lần (tối đa 10 mg/lần).
- Hoặc: Lorazepam 0,05 – 0,1 mg/kg/lần (tối đa 4 mg/lần).
- Nếu sau mỗi 5 phút không cắt cơn thì lặp lại liều diazepam trực tràng.
- Nếu lặp lại 2 liều diazepam không cắt cơn giật thì lặp lại liều fosphenytoin tĩnh mạch.
- Nếu vẫn chưa cắt được cơn giật thì lặp lại liều diazepam tĩnh mạch sau 5 phút.
- Nếu vẫn không cắt được cơn giật thì chuyển đơn vị hồi sức để đặt nội khí quản và điều trị thiopentone hoặc propofol.
5.3. Điều trị dự phòng
Cơn rất nhiều tranh cãi về điều trị dự phòng cho trẻ bị co giật do sốt, có thể dùng thuốc kháng động kinh trong đợt sốt hoặc sử dụng kéo dài dựa vào một số đặc điểm sau:
5.3.1. Dự phòng diazepam không liên tục (chỉ dùng trong đợt sốt)
- Bệnh nhân có 2 cơn giật do sốt phức hợp.
- Bệnh nhân tái phát nhiều cơn co giật do sốt đơn thuần, co giật ở ngưỡng nhiệt độ thấp, gia đình quá lo lắng.
- Diazepam uống 0,3 mg/lần, cách 8 giờ/lần trong đợt sốt (có thể dùng diazepam đường trực tràng hoặc clobazam uống).
- Có thể dự phòng bằng valproate uống 20 mg/kg/ngày, chia 2 lần hoặc levetiracetam.
5.3.2. Dự phòng thuốc kháng động kinh kéo dài
- Bệnh nhân có ≥ 2 cơn co giật do sốt phức hợp và điều trị diazepam trong đợt sốt không hiệu quả.
- Giảm dần liều thuốc kháng động kinh nếu bệnh nhân không tái cơn giật trong 6 tháng.
- Các thuốc kháng động kinh chỉ làm giảm nguy cơ tái phát cơn giật trong vòng 6 tháng đến 2 năm mà không làm giảm nguy cơ động kinh trong tương lai.
5.4. Hướng dẫn chăm sóc tại nhà
- Cắt cơn giật.
- Điều trị trạng thái co giật do sốt.
- Điều trị nguyên nhân gây sốt.
- Điều trị dự phòng.
5.1. Hạ sốt
- Ibuprofen 5 – 10 mg/kg/lần, cách 6 – 8 giờ/lần, không quá 40 mg/kg/ngày.
- Hoặc acetaminophen 10 – 15 mg/kg/lần, cách 4 – 6 giờ/lần, không quá 60 mg/kg/ngày.
- Thuốc hạ sốt không dự phòng được co giật, không ngăn ngừa được cơn giật tái diễn.
- Thuốc hạ sốt làm giảm nhiệt độ cơ thể nhưng không làm giảm ngay được nhiệt độ đỉnh.
- Khuyến cáo dùng ibuprofen có tác dụng hạ sốt kéo dài hơn acetaminophen.
- Chườm nước ấm.
5.2. Điều trị cắt cơn giật tại cơ sở y tế
Chỉ định:
- Cơn giật kéo dài > 5 phút.
- Trạng thái co giật khi sốt.
- Cơn giật liên tiếp.
Thuốc lựa chọn:
- Bước 1: Diazepam đường trực tràng: 0,5 mg/kg/lần (trẻ ≤ 5 tuổi); 0,3 mg/kg/lần (trẻ > 5 tuổi).
- Bước 2: Fosphenytoin đường tĩnh mạch 15 – 20 mg/kg/lần.
- Bước 3: Diazepam đường tĩnh mạch 0,1 – 0,3 mg/kg/lần (tối đa 10 mg/lần).
- Hoặc: Lorazepam 0,05 – 0,1 mg/kg/lần (tối đa 4 mg/lần).
- Nếu sau mỗi 5 phút không cắt cơn thì lặp lại liều diazepam trực tràng.
- Nếu lặp lại 2 liều diazepam không cắt cơn giật thì lặp lại liều fosphenytoin tĩnh mạch.
- Nếu vẫn chưa cắt được cơn giật thì lặp lại liều diazepam tĩnh mạch sau 5 phút.
- Nếu vẫn không cắt được cơn giật thì chuyển đơn vị hồi sức để đặt nội khí quản và điều trị thiopentone hoặc propofol.
5.3. Điều trị dự phòng
Cơn rất nhiều tranh cãi về điều trị dự phòng cho trẻ bị co giật do sốt, có thể dùng thuốc kháng động kinh trong đợt sốt hoặc sử dụng kéo dài dựa vào một số đặc điểm sau:
5.3.1. Dự phòng diazepam không liên tục (chỉ dùng trong đợt sốt)
- Bệnh nhân có 2 cơn giật do sốt phức hợp.
- Bệnh nhân tái phát nhiều cơn co giật do sốt đơn thuần, co giật ở ngưỡng nhiệt độ thấp, gia đình quá lo lắng.
- Diazepam uống 0,3 mg/lần, cách 8 giờ/lần trong đợt sốt (có thể dùng diazepam đường trực tràng hoặc clobazam uống).
- Có thể dự phòng bằng valproate uống 20 mg/kg/ngày, chia 2 lần hoặc levetiracetam.
5.3.2. Dự phòng thuốc kháng động kinh kéo dài
- Bệnh nhân có ≥ 2 cơn co giật do sốt phức hợp và điều trị diazepam trong đợt sốt không hiệu quả.
- Giảm dần liều thuốc kháng động kinh nếu bệnh nhân không tái cơn giật trong 6 tháng.
- Các thuốc kháng động kinh chỉ làm giảm nguy cơ tái phát cơn giật trong vòng 6 tháng đến 2 năm mà không làm giảm nguy cơ động kinh trong tương lai.
5.4. Hướng dẫn chăm sóc tại nhà
Xử trí cơn giật tại nhà:
- Cho trẻ nằm nghiêng sang một bên, ở vị trí an toàn nhất (tránh các vật xung quanh có thể làm tổn thương trẻ).
- Nới lỏng quần áo cho trẻ dễ thở.
- Gối đầu cho trẻ bằng gối mỏng hoặc khăn để tránh chấn thương vùng đầu trong cơn giật.
- Lấy dị vật trong miệng trẻ nếu có thể (thức ăn, răng giả…).
- Nếu cơn giật kéo dài đến 5 phút thì dùng thuốc cắt cơn cho trẻ nếu đã được tập huấn (thuốc diazepam dạng gel bơm hậu môn hoặc midazolam xịt mũi…).
- Ghi nhận thời gian co giật và kiểu giật của trẻ để cung cấp thông tin cho bác sĩ (quay video nếu có thể).
- Cặp nhiệt độ cho trẻ, nếu trẻ sốt ≥ 38°C có thể hạ sốt bằng thuốc đường trực tràng, chườm ấm cho trẻ.
- Cho trẻ dùng thuốc dự phòng co giật khi trẻ tái sinh lại sau cơn giật theo chỉ định của bác sĩ (nếu có).
Khi nào đưa trẻ đến bệnh viện (đến cơ sở y tế gần nhất):
- Nếu cơn giật kéo dài ≥ 5 phút.
- Có nhiều cơn liên tiếp.
- Sau khi kết thúc cơn giật 10 phút mà trẻ chưa tỉnh.
- Trẻ ngừng thở, khó thở sau cơn giật.
- Trẻ bị cơn giật đầu tiên.
Những điều KHÔNG làm khi trẻ bị co giật:
- Không cho bất cứ thứ gì vào miệng trẻ, kể cả thuốc hạ sốt trong cơn giật hoặc ngay sau cơn giật khi trẻ chưa hoàn toàn tỉnh.
- Không cố giữ chân tay hoặc ôm chặt trẻ trong cơn giật vì có thể làm trẻ khó thở hoặc chấn thương cổ, xương, khớp.
- Cho trẻ nằm nghiêng sang một bên, ở vị trí an toàn nhất (tránh các vật xung quanh có thể làm tổn thương trẻ).
- Nới lỏng quần áo cho trẻ dễ thở.
- Gối đầu cho trẻ bằng gối mỏng hoặc khăn để tránh chấn thương vùng đầu trong cơn giật.
- Lấy dị vật trong miệng trẻ nếu có thể (thức ăn, răng giả…).
- Nếu cơn giật kéo dài đến 5 phút thì dùng thuốc cắt cơn cho trẻ nếu đã được tập huấn (thuốc diazepam dạng gel bơm hậu môn hoặc midazolam xịt mũi…).
- Ghi nhận thời gian co giật và kiểu giật của trẻ để cung cấp thông tin cho bác sĩ (quay video nếu có thể).
- Cặp nhiệt độ cho trẻ, nếu trẻ sốt ≥ 38°C có thể hạ sốt bằng thuốc đường trực tràng, chườm ấm cho trẻ.
- Cho trẻ dùng thuốc dự phòng co giật khi trẻ tái sinh lại sau cơn giật theo chỉ định của bác sĩ (nếu có).
Khi nào đưa trẻ đến bệnh viện (đến cơ sở y tế gần nhất):
- Nếu cơn giật kéo dài ≥ 5 phút.
- Có nhiều cơn liên tiếp.
- Sau khi kết thúc cơn giật 10 phút mà trẻ chưa tỉnh.
- Trẻ ngừng thở, khó thở sau cơn giật.
- Trẻ bị cơn giật đầu tiên.
Những điều KHÔNG làm khi trẻ bị co giật:
- Không cho bất cứ thứ gì vào miệng trẻ, kể cả thuốc hạ sốt trong cơn giật hoặc ngay sau cơn giật khi trẻ chưa hoàn toàn tỉnh.
- Không cố giữ chân tay hoặc ôm chặt trẻ trong cơn giật vì có thể làm trẻ khó thở hoặc chấn thương cổ, xương, khớp.
Cập nhật thông tin mới nhất về kiến thức y học và test y học tại facebook TEST Y HỌC
Tham gia nhóm zalo: Tài Liệu Y Học Tổng Hợp
Ôn thi nội trú, sau đại học TẠI ĐÂY
