ĐẠI CƯƠNG VỀ NGÃ Ở NGƯỜI CAO TUỔI – NỘI KHOA Y HÀ NỘI

CHƯƠNG IV. BÀI 8:

ĐẠI CƯƠNG VỀ NGÃ Ở NGƯỜI CAO TUỔI

MỤC TIÊU

  1. Trình bày được khái niệm ngã và các yếu tố nguy cơ của ngã.
  2. Trình bày được cách đánh giá ngã.
  3. Trình bày được một số biện pháp phòng tránh ngã.

1. KHÁI NIỆM

Ngã là một hội chứng lão khoa rất thường gặp và gây ra nhiều biến chứng ở người cao tuổi như khuyết tật, suy giảm chức năng, sự phụ thuộc, thời gian nằm viện kéo dài và thậm chí là tử vong. Tuy nhiên ngã đã không được nhìn nhận là một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng. Trước những năm 1940, ngã được coi là một biến cố không thể dự đoán cũng như không thể dự phòng được. Tuy nhiên trong 20 năm gần đây, các nghiên cứu bắt đầu nghiên cứu về tỷ lệ, biến chứng và các nguyên nhân của ngã. Các tác giả cũng chứng minh có thể dự phòng ngã bằng cách giảm các yếu tố nguy cơ gây ngã. Điều trị hiệu quả đòi hỏi sự tiếp cận đa ngành. Do đó ngoài chuyên ngành lão khoa, dự phòng ngã không được thực hành rộng rãi trên lâm sàng và ngã vẫn là một biến cố sức khỏe không được điều trị.

Ngã được định nghĩa là một sự kiện khiến cho một người tiếp xúc một cách không chủ đích trên mặt đất, sàn nhà hoặc một bề mặt thấp hơn. Trong phạm vi bài giảng tập trung vào ngã không phải do mất ý thức, đột quỵ, động kinh hoặc chấn thương.

2. TỶ LỆ VÀ BIẾN CHỨNG CỦA NGÃ

2.1. Tỷ lệ ngã

Khoảng 35% đến 40% người từ 65 tuổi trở lên ngã trong một năm; một nửa trong số đó ngã trên một lần. Tỷ lệ tăng dần sau tuổi 60; khoảng 50% người trên 80 tuổi ngã trong một năm. Phụ nữ có tỷ lệ ngã cao hơn nam giới. Hơn một nửa các trường hợp ngã trong cộng đồng xảy ra ở nhà. Tỷ lệ ngã tại các cơ sở điều dưỡng chuyên môn và bệnh viện cao gần gấp ba lần so với ở cộng đồng.

2.2. Biến chứng của ngã

Mặc dù trẻ nhỏ và các vận động viên cũng có tỷ lệ ngã cao, tuy nhiên người cao tuổi là đối tượng có nguy cơ cao bị chấn thương sau ngã bởi những thay đổi liên quan đến tuổi như phản ứng chậm, giảm phản xạ bảo vệ và các bệnh kèm theo như loãng xương. Kết quả là người cao tuổi bị chấn thương sau ngã nghiêm trọng, bao gồm gãy xương, vết rách, chấn thương mô mềm nghiêm trọng và chấn thương đầu (chiếm 5% đến 15% trường hợp ngã trong cộng đồng). Tỷ lệ thương tích cao hơn, chiếm 10% đến 25% ngã xảy ra tại các cơ sở y tế. Khoảng 8% người cao tuổi 65 tuổi trở lên phải vào khoa cấp cứu vì một chấn thương do ngã mỗi năm. Trong năm 2003 có 1,8 triệu người cao tuổi điều trị tại phòng cấp cứu vì các chấn thương tích không tử vong do ngã.

Gãy xương đùi có lẽ là chấn thương liên quan đến ngã nặng nề nhất, khoảng một nửa người cao tuổi bị gãy xương đùi không thể trở về nhà hoặc sống phụ thuộc sau khi bị gãy xương, và có khoảng 20% chết trong vòng một năm sau khi bị gãy xương. Từ năm 1993 đến năm 2003, tỷ lệ bệnh nhân nhập viện vì gãy xương đùi bắt đầu gia tăng, sau khi đã điều chỉnh theo tuổi, sau đó giảm xuống với tỷ lệ 775,5 trên 100.000 dân vào năm 2003. Tỷ lệ gãy xương đùi cao hơn ở phụ nữ, nhưng sau đó giảm xuống 20,8% trên các bệnh nhân nhập viện vì gãy xương đùi từ năm 1993 đến năm 2003, trong khi nam giới vẫn giữ nguyên tỷ lệ.

Tại Hoa Kỳ, chấn thương là nguyên nhân thứ năm gây tử vong ở những người từ 65 tuổi trở lên; ngã là nguyên nhân gây ra hai phần ba số tử vong do chấn thương ở nhóm tuổi này. Năm 2003, khoảng 13.700 người cao tuổi tử vong do biến chứng của một ngã. Tỷ lệ tử vong điều chỉnh theo tuổi do ngã tăng lên đáng kể giữa năm 1993 và 2003, và nam giới trong độ tuổi này tiếp tục có tỷ lệ tử vong cao hơn đáng kể so với phụ nữ.

Ngã cũng gây nhiều tốn kém về tài chính, giảm chức năng thể chất và sự độc lập cho người cao tuổi. Các chấn thương liên quan đến ngã chiếm khoảng 6% của tất cả các chi phí chăm sóc sức khỏe cho những người từ 65 tuổi trở lên tại Hoa Kỳ. Ngã cũng gây ra những thiệt hại về sự độc lập chức năng và chất lượng cuộc sống của một người cao tuổi. Ngã chiếm khoảng 20% số ngày hoạt động bị hạn chế ở người cao tuổi, cao hơn so với các nguyên nhân khác. Hơn nữa, người có chấn thương sau ngã có thể hạn chế hoạt động trong thời gian hoặc lâu hơn vì suy giảm thể chất hoặc tâm lý lo sợ bị ngã một lần nữa. Người lớn tuổi thường không thể đứng lên khỏi mặt đất hoặc sàn sau khi ngã, dẫn đến nguy cơ viêm phổi, mất nước và tiêu cơ vân.

3. YẾU TỐ NGUY CƠ CỦA NGÃ

3.1. Thay đổi liên quan đến tuổi và các bệnh mạn tính

Các nghiên cứu trong 15 năm qua đã xác định được một số yếu tố làm tăng nguy cơ ngã ở người cao tuổi, bao gồm yếu cơ, tiền sử đã từng bị ngã, rối loạn dáng đi, rối loạn thăng bằng, phải sử dụng các dụng cụ hỗ trợ, rối loạn thị giác, viêm khớp, trầm cảm, giảm hoạt động chức năng, suy giảm nhận thức, tuổi trên 80… Nghiên cứu cũng chứng minh càng có nhiều yếu tố nguy cơ, tỷ lệ ngã càng tăng.

Ngoài yếu tố tuổi cao trên 80, tiền sử đã từng bị ngã và cần các công cụ để hỗ trợ là các yếu tố nguy cơ không thể thay đổi được, các yếu tố còn lại có thể tác động thay đổi bằng chế độ luyện tập, các thay đổi liên quan đến tuổi và tình trạng sử dụng thuốc.

Kiểm soát tư thế cân bằng

Kiểm soát tư thế, phụ thuộc vào sự tác động của thị giác, tiền đình, và cảm nhận bên trong cơ thể của hệ thống thần kinh trung ương để thực hiện một phản ứng tư thế thích hợp. Khi đứng yên tĩnh, có rất ít chuyển động của trung tâm cơ thể. Khu vực phía trên bàn chân là nơi có thể dùng làm điểm tựa sẽ giảm dần theo tuổi. Nguy cơ ngã có liên quan đến sự mất ổn định phía trên; trên lâm sàng có thể được kiểm tra bởi khả năng đứng song song hoặc đứng trên một chân. Tác động của suy giảm chức năng cân bằng tĩnh thể hiện thông qua các hoạt động như đi bộ và di chuyển. Những người có khó khăn với khả năng cân bằng có thể đi bộ chậm hơn và do đó cần tỷ lệ lớn hơn chuyển động đi ổn định và cần nhiều sự hỗ trợ hơn. Duy trì sự cân bằng trong quá trình chuyển động cơ thể đòi hỏi một phản ứng để khôi phục trung tâm di chuyển của người đó trên cơ sở hỗ trợ. Sự mất cân bằng có thể được gây ra bởi tốc độ hoặc mức độ di chuyển, không có khả năng để nhanh chóng phát hiện dịch chuyển vị suy giảm cảm giác, chậm tích hợp hệ thống thần kinh trung ương các thông tin cảm giác vào phản ứng vận động, yếu cơ hoặc đau khớp, gây ra một phản ứng không đủ hoặc không hiệu quả.

Suy giảm giác quan

Các giác quan cung cấp đầu vào hướng tâm cho phản ứng cân bằng bao gồm thị giác, khả năng nghe, sự cảm nhận của cơ thể và chức năng tiền đình. Đục thủy tinh thể, tăng nhãn áp, thoái hóa điểm vàng có ảnh hưởng đến tầm nhìn và là bệnh thường gặp ở người cao tuổi. Một số bằng chứng cho thấy phẫu thuật đục thủy tinh thể sớm có thể làm giảm nguy cơ ngã. Nghe kém là triệu chứng khá phổ biến, chiếm hơn 50% trong số người cao tuổi và có thể ảnh hưởng đến nhận thức và định hướng với môi trường. Chức năng tiền đình thay đổi theo tuổi và với bệnh ảnh hưởng đến tai trong. Rối loạn chức năng thần kinh tiền đình có thể dẫn đến mất cân bằng khi có giảm thị lực do biến chứng của bệnh hoặc như là kết quả của các yếu tố môi trường, chẳng hạn như di chuyển trong bóng tối. Thụ thể cơ học ở các khớp xương và thần kinh ngoại biên cũng tiếp nhận cảm cơ học đầu vào cho cơ thể bị ảnh hưởng theo độ tuổi, bệnh thoái hóa khớp, rối loạn cột sống như thoái hóa đốt sống, hay bệnh thần kinh ngoại biên. Rối loạn chức năng cảm nhận trong cơ thể có thể dẫn đến việc mất cân bằng trên mặt đất không bằng phẳng hoặc trong các tình huống chẳng hạn như đi bộ trong bóng tối.

Bệnh lý thần kinh trung ương

Hệ thống thần kinh trung ương của giác quan đầu vào bắt đầu một đáp ứng tư thế có thể bị ảnh hưởng bởi các bệnh thần kinh như bệnh Parkinson, đột quỵ. Suy giảm nhận thức do sa sút trí tuệ có thể làm giảm phán đoán và ảnh hưởng đến nhận thức, gây ra kích thích giác quan và dẫn đến ngã mà không cần sự hiện diện của rối loạn cơ hoặc dáng đi.

Trầm cảm

Có thể làm tăng nguy cơ ngã vì giảm tập trung hoặc giảm nhận thức với các mối nguy hiểm trong môi trường tiềm năng. Suy giảm hệ thống cơ xương làm tăng nguy cơ bị ngã. Khối lượng và sức mạnh cơ suy giảm theo tuổi tác, bệnh tật, và tình trạng không hoạt động. Những người cao tuổi có thể không còn có khả năng tạo ra sức mạnh và độ chính xác của đáp ứng với một rối loạn cân bằng (ví dụ vấp ngã). Sự suy giảm sức mạnh chi dưới, đặc biệt là sức gấp mu bàn chân, đã nhiều lần được chứng minh là một yếu tố quyết định quan trọng của nguy cơ ngã. Yếu nhóm cơ dạng và cơ khép ở đùi có thể làm giảm khả năng duy trì sự cân bằng trên người cao tuổi. Các bệnh thuộc hệ thống cơ xương chẳng hạn như viêm xương khớp có thể gây đau, biến dạng, và hạn chế phạm vi chuyển động ở các khớp, đặc biệt là ở lưng, hông, đầu gối, và bàn chân, do đó làm tăng nguy cơ ngã. Vấn đề về bàn chân, chẳng hạn như những vết chai…

Hạ huyết áp tư thế

Hạ huyết áp tư thế có thể dẫn đến sự mất ổn định, xảy ra ở 10% đến 30% người cao tuổi trong cộng đồng. Giảm huyết áp tâm thu 20 mmHg hoặc nhiều hơn với sự thay đổi ở vị trí từ tư thế nằm sang đứng có thể liên quan đến thiếu nước gây ra bởi tình trạng mất nước, là kết quả của sự thay đổi liên quan đến tuổi hoặc các bệnh có ảnh hưởng đến kiểm soát sự tự chủ của trương lực mạch máu. Tụt huyết áp sau ăn được kiểm tra trên những người phàn nàn chóng mặt, ngã sau khi thức hoặc ngay sau một bữa ăn.

Thuốc

Một số nghiên cứu cho thấy rằng việc sử dụng đồng thời nhiều hơn năm loại thuốc trên cùng một toa thuốc (kể cả thuốc không kê đơn) làm tăng nguy cơ ngã. Người cao tuổi thường phải sử dụng nhiều hơn năm loại thuốc mỗi ngày vì tình trạng đa bệnh lý, nhiều bác sỹ kê đơn và tư vấn, tích lũy của thuốc theo thời gian, thiếu hiểu biết về cách dùng thuốc và nhu cầu tự vấn, dùng thuốc theo quảng cáo. Thuốc có thể gây ra mất ổn định tư thế bởi tác động trên chức năng nhận thức, cân bằng nước và chất điện giải, huyết áp hoặc bởi các tác dụng phụ. Dữ liệu trong nhiều nghiên cứu quan sát đã chứng minh nguy cơ ngã tăng với các thuốc chống co giật và thuốc hướng tâm thần, bao gồm thuốc an thần/thuốc ngủ, thuốc chống trầm cảm, benzodiazepin tác dụng ngắn hoặc tác dụng kéo dài. Ngoài ra, thuốc tim mạch (thuốc chống loạn nhịp nhóm IA, digoxin, thuốc lợi tiểu) và giảm đau cũng có liên quan đến ngã. Nguy cơ ngã liên quan đến tác động bất lợi của thuốc tương ứng với số lượng thuốc, một người sử dụng nhiều hơn chín loại thuốc tăng 3,3 lần nguy cơ biến cố bất lợi so với sử dụng bốn loại thuốc hoặc ít hơn. Mệt mỏi, thay đổi tâm trạng, buồn ngủ, chóng mặt và rối loạn thăng bằng là tác dụng phụ của nhiều loại thuốc, cũng là yếu tố nguy cơ gây ngã trên người cao tuổi.

Bệnh cấp tính và xuất viện

Bệnh cấp tính như viêm phổi hoặc đợt cấp của suy tim sung huyết, có thể dự báo ngã ở người cao tuổi có hội chứng dễ bị tổn thương vì sự thay đổi trong nhận thức, huyết áp tư thế hay yếu cơ lực. Người cao tuổi cũng gia tăng nguy cơ mắc hội chứng dễ bị tổn thương sau khi điều trị tại phòng cấp cứu hoặc sau khi nhập viện vì các bệnh cấp tính, tác động của thuốc. Nguy cơ ngã ở người cao tuổi mới xuất viện cao gấp bốn lần so với người cao tuổi trong cộng đồng trong thời gian 2 tuần đầu sau khi xuất viện.

Yếu tố nguy cơ gây ngã khác

Yếu tố nguy cơ gây ngã khác bao gồm các nguy cơ từ môi trường, phối hợp với các yếu tố nội tại làm tăng nguy cơ ngã ở người cao tuổi. Các yếu tố môi trường làm gia tăng nguy cơ ngã như mặt đất không bằng phẳng, ánh sáng không đầy đủ, không có thanh vịn trong nhà tắm, sàn nhà trơn,…

4. ĐÁNH GIÁ NGÃ

Đánh giá ngã là đánh giá đa yếu tố

Tiền sử sức khỏe

Tiền sử sức khỏe cần tập trung vào các thông tin về chức năng thể chất, khả năng di động, sử dụng thiết bị trợ giúp như gậy hoặc khung tập đi, thực hiện các hoạt động sinh hoạt hằng ngày, tiền sử ngã và gãy xương trước đó và các vấn đề sức khỏe cấp tính hoặc mạn tính. Nếu người đó đã từng ngã cần hỏi chi tiết hoàn cảnh ngã, bao gồm thiết lập và hoạt động tại thời điểm ngã, có thể giúp xác định các yếu tố nguy cơ cụ thể gây ngã trong tương lai. Thiết lập một danh sách liều lượng và tần số của tất cả các loại thuốc người cao tuổi đã uống, bao gồm cả thuốc không kê đơn.

Bệnh nhân có nguy cơ ngã tại bệnh viện là những người có suy giảm nhận thức cấp hoặc mạn tính, yếu cơ và rối loạn cân bằng, di chuyển hoặc dáng đi; cần hỏi về sinh thường xuyên số lần đi tiểu nhiều, rối loạn tiểu tiện, hoặc tiêu chảy; tình trạng sử dụng thuốc; khai thác tiền sử lần ngã trước ở nhà hay trong bệnh viện; cảm giác sợ bị ngã; trầm cảm; chóng mặt; suy giảm chức năng; yếu tố môi trường; và tuổi cao.

Kiểm tra thể chất

Đánh giá nguy cơ ngã bao gồm: kiểm tra các thay đổi huyết áp tư thế (đo huyết áp lúc nằm, sau 3 phút đứng và đo lại huyết áp); nhịp tim (phát hiện rối loạn nhịp tim và phản ứng thích hợp với sự thay đổi vị trí); sàng lọc thị giác và thính giác; kiểm tra các khớp, khoảng vận động của các khớp, viêm khớp, các dị dạng và tổn thương bàn chân gây đau. Kiểm tra thần kinh bao gồm kiểm tra tình trạng tâm thần, chức năng thần kinh trung ương và ngoại vi, phản xạ, sức mạnh cơ bắp, và tiểu não và chức năng cảm giác.

Các thử nghiệm về dáng đi và cân bằng trong quá trình hoạt động bình thường là một phần của đánh giá nguy cơ ngã. Bài kiểm tra “đứng lên và đi” là một bài kiểm tra thực hiện đơn giản, có độ nhạy và độ đặc hiệu cao trong việc dự đoán nguy cơ ngã. Cách thực hiện: yêu cầu bệnh nhân ngồi trên ghế tựa (không dùng tay nếu có thể), đứng thực hiện đơn giản, đi một quãng đường khoảng 3 mét, sau đó xoay người, đi lại vị trí ghế và ngồi xuống. Ngoài trợ giúp bệnh nhân không dùng tay, nếu người bệnh hoàn thành bài kiểm tra này quá 13,5 giây thì họ có nguy cơ bị ngã cao trong tương lai. Các bài kiểm tra khác, chẳng hạn như đánh giá di động – định hướng, cung cấp thông tin cụ thể hơn về sự cân bằng, dáng đi, và rối loạn vận động, nhưng mất nhiều thời gian để thực hiện và sử dụng tốt nhất để đánh giá trước khi thực hiện chương trình phục hồi chức năng.

Bảng 4.7. Đánh giá di động – Định hướng

Bài kiểm tra Đáp ứng
Bình thường Thích nghi Khác thường
Ngồi thăng bằng Ổn định Ngồi im trên ghế và giữ thẳng Ngã vào ghế
Đứng dậy (khi đang ngồi) Có thể đứng dậy trong vài phút mà không cần dùng tay Sử dụng tay ấn vào ghế hoặc dụng cụ hỗ trợ để đẩy và kéo lên, di chuyển lên đằng trước ghế trước khi đứng dậy Sử dụng nhiều động tác, không thể thực hiện nếu không có người trợ giúp
Thăng bằng ngay sau khi đứng dậy (3–5 giây) Đứng im mà không cần sự trợ giúp nào khác Đứng im nhưng có sử dụng trợ giúp (dụng cụ hỗ trợ hoặc người hỗ trợ) Không thể đứng vững
Đứng thăng bằng Đứng bằng 2 chân mà không cần trợ giúp Đứng im nhưng 2 chân không thể đặt gần nhau Không thể thực hiện/Cần giữ vào vật gì đó
Thăng bằng lúc nhắm mắt (2 chân gần nhau nhất có thể) Đứng im mà không cần sự trợ giúp nào khác Đứng im với 2 chân cách xa nhau Không thể thực hiện/Cần giữ vào vật gì đó
Xoay cân bằng (360°) Không lảo đảo, không cần giữ vào vật gì, có thể xoay có nút Không thể bước tiếp (bệnh nhân đứng thẳng nhưng rồi mới bước tiếp) Cần giữ vào vật gì đó
Xoay đầu (bệnh nhân được yêu cầu quay đầu sang 2 bên và nhìn lên trên trong khi đang đứng với 2 chân đứng sát nhau nhất có thể) Có thể xoay cổ nửa vòng và có thể ngửa nhìn trần nhà, không lảo đảo, choáng váng hay đau đớn Giảm khả năng xoay cổ nhưng không lảo đảo, choáng váng hay đau đớn Không thể đứng vững khi xoay cổ hay đầu hoặc xuất hiện các triệu chứng lảo đảo, choáng váng… khi thực hiện nghiệm pháp
Đứng thăng bằng 1 chân (5 giây) Có thể đứng 1 chân trong 5 giây mà không cần hỗ trợ Không thể thực hiện được
Với đồ trên cao (bệnh nhân phải với hoặc đứng kiễng chân) Lấy vật mà không cần sự trợ giúp nào khác, không bị lảo đảo Có thể lấy vật nhưng cần bám vào xung quanh để trợ giúp Không thể thực hiện được hoặc lảo đảo
Cúi xuống (bệnh nhân được yêu cầu nhặt một vật nhỏ như bút trên sàn) Có thể cúi xuống và nhặt lên dễ dàng mà không cần dùng tay Có thể cúi xuống và nhặt lên nhưng cần dùng tay vào vật gì đó để trợ giúp Không thể cúi xuống hoặc phải mất nhiều thời gian để ngồi lên, phải sử dụng nhiều động tác để ngồi lên
Ngồi xuống Có thể ngồi ngay, chuyển động linh hoạt Cần tay để định hướng, chuyển động không linh hoạt Ngã vào ghế

Các xét nghiệm

Công thức máu, đường huyết, điện giải, chỉ số urê, creatinine, TSH, nồng độ B12 (làm giảm cảm giác), và mức độ của thuốc như digoxin và thuốc chống co giật. Các xét nghiệm về bệnh loãng xương nhằm xác định sự cần thiết phải dùng thuốc để cải thiện mật độ xương (để giảm nguy cơ gãy xương). Nếu bệnh nhân có những dấu hiệu đáng đi bất thường X-quang cột sống hay thậm chí là MRI cũng có thể giúp loại trừ thoái hóa đốt sống hoặc gai cột sống dẫn ngã. Xét nghiệm cắt lớp vi tính hoặc MRI sọ não để chẩn đoán đột quỵ, hoặc những cấu trúc bất thường của não gây ngã.

5. MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÒNG TRÁNH NGÃ

Các chương trình phòng chống ngã hiệu quả nhất cần có sự nỗ lực phối hợp của đa ngành trong chăm sóc sức khỏe người cao tuổi. Chiến lược này là đầu tiên để sàng lọc nguy cơ ngã, và sau đó để thực hiện một đánh giá toàn diện và tạo ra một kế hoạch điều trị cho những người có nguy cơ ngã trong tương lai.

Sàng lọc nguy cơ ngã

Tất cả những người cao tuổi chăm sóc y tế định kỳ nên được sàng lọc nguy cơ ngã ít nhất mỗi năm một lần, nếu đối tượng đã từng ngã. Các đối tượng được sàng lọc cần được quan sát đứng lên từ một chiếc ghế và đi qua một phòng để phát hiện khó khăn trong hoạt động, đứng không vững hoặc sử dụng một công cụ trợ giúp. Nếu không có tiền sử ngã và không có vấn đề với sự cân bằng, sự di động, hoặc dáng đi, sau đó không cần thiết đánh giá rủi ro ngã cụ thể. Tuy nhiên đối với người cao tuổi, sàng lọc thị giác và thính giác, đánh giá tình trạng sử dụng thuốc, tầm soát và điều trị loãng xương, kê đơn hoạt động thể lực, thảo luận về môi trường an toàn tại nhà có thể giúp ngăn ngừa ngã.

Đánh giá đa yếu tố

Nên đánh giá các đối tượng về ngã nếu có tiền sử một hoặc nhiều lần ngã hoặc trường hợp có khó khăn khi di chuyển hoặc vấn đề về rối loạn dáng đi, sau đó cần đánh giá các yếu tố nguy cơ dẫn đến ngã. Yếu tố nguy cơ cao gây ngã khác như bệnh cấp tính, sau xuất viện hoặc sử dụng đơn thuốc mới. Xác định yếu tố nguy cơ ngã đòi hỏi một cách tiếp cận có hệ thống và một kế hoạch điều trị với sự phối hợp giữa các chuyên ngành và các tác nhân. Giới thiệu đến một chuyên gia lão khoa với nguồn lực để phối hợp chăm sóc đa ngành có thể là cách hiệu quả nhất để thực hiện đánh giá rủi ro và điều trị ngã. Việc đánh giá phải bao gồm hỏi tiền sử và kiểm tra đơn thuốc, khám sức khỏe, bao gồm cả kiểm tra hoạt động thể chất khi có chỉ định, đánh giá của môi trường nhà ở. Điều quan trọng là để tìm tất cả các yếu tố nguy cơ để giảm nhẹ rủi ro ngã ở người cao tuổi.

Biện pháp phòng ngừa

Khi một bệnh nhân được sàng lọc là có nguy cơ ngã, thông tin này sẽ được lưu giữ trong bệnh án, sử dụng dây đeo cổ tay phân loại nguy cơ ngã cho bệnh nhân, và/hoặc trong phòng bệnh nhân để cảnh báo nguy cơ ngã cho người chăm sóc. Chiến lược phòng ngừa tiêu chuẩn nên được thiết lập, chẳng hạn như đặt chuông gọi gần giường, đảm bảo môi trường an toàn, phù hợp và sửa chữa các thiết bị trợ giúp như giường thấp và giày dép chống trượt cho các bệnh nhân có vấn đề về di chuyển, sử dụng ghế vệ sinh có tay vịn, phòng tắm nên có thanh vịn,… giường ở vị trí thấp nhất, và sắp xếp phòng bệnh gọn gàng. Chiến lược để giải quyết các rủi ro cụ thể cần được thiết lập, ví dụ như vật lý trị liệu để cải thiện dáng đi và cân bằng; đi vệ sinh theo giờ nhất định; tăng cường giám sát đối với bệnh nhân suy giảm nhận thức hoặc mê sảng. Tránh sử dụng các dụng cụ trói buộc trong chăm sóc cấp tính vì không có bằng chứng cho thấy làm hạn chế ngã mà thậm chí có thể làm tăng nguy cơ chấn thương. Nên sử dụng các dụng cụ bảo vệ xương đùi ở những bệnh nhân có loãng xương. Hạn chế sử dụng thuốc không cần thiết, nhất là các thuốc hướng thần, thuốc an thần, thuốc chống co giật,… trên đối tượng người cao tuổi.

Bảng 4.8. Các yếu tố nguy cơ ngã có thể điều chỉnh và hướng điều trị

Nguy cơ Hướng điều trị
Nội tại
Thị lực Kiểm tra định kỳ thị lực và các bệnh lý về mắt, khám chuyên khoa mắt khi có chỉ định
Hạ huyết áp tư thế Giảm số lượng thuốc, tránh mất nước, nên chuyển tư thế từ từ, xem xét sử dụng fludrocortison nếu các phương pháp trên không hiệu quả
Tim mạch Quản lý thuốc, xem xét đặt máy tạo nhịp tim 2 buồng nếu tim không đập sau 3 s
Thần kinh Chụp CT/MRI, sử dụng thuốc khi có chỉ định
Viêm khớp Quản lý thuốc, chú ý các bài tập phục hồi chức năng, trị liệu, sử dụng thiết bị hỗ trợ
Rối loạn thăng bằng và dáng đi Tập các bài tập hỗ trợ về thăng bằng, dáng đi theo hướng dẫn của các bác sỹ phục hồi chức năng
Thiếu hụt vitamin D Bổ sung vitamin D tối thiểu 800 UI mỗi ngày
Các vấn đề y tế khác (suy giảm nhận thức, trầm cảm…) Sử dụng thuốc theo chỉ định
Thuốc thần kinh Đánh giá lại và cân nhắc ngưng hoặc sử dụng thuốc an thần, thuốc trầm cảm, thuốc thần kinh vì chúng làm tăng nguy cơ gây ngã
Sử dụng nhiều loại thuốc Giảm hoặc ngưng sử dụng các loại thuốc nếu có thể, đặc biệt thuốc hạ áp gây hạ áp tư thế đứng hoặc chống nôn, kháng histamin, chống co giật, opioid có thể gây nên nhầm lẫn và giảm sự tỉnh táo
Ngoại tại
Môi trường sống Đánh giá và đưa ra lời khuyên đối với môi trường sống tại nhà (lắp thanh vịn trong phòng tắm, đủ thiết bị nâng, sử dụng thiết bị hỗ trợ đi lại như gậy, khung tập đi…)
Giày dép Sử dụng giày vừa chân, đế thấp, bề mặt tiếp xúc lớn

Cập nhật thông tin mới nhất về kiến thức y học và test y học tại facebook TEST Y HỌC

Tham gia nhóm zalo: Tài Liệu Y Học Tổng Hợp

Ôn thi nội trú, sau đại học TẠI ĐÂY

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Content is protected !!
All in one