ĐÁNH GIÁ LÃO KHOA TOÀN DIỆN – NỘI KHOA Y HÀ NỘI

CHƯƠNG IV. BÀI 6:

ĐÁNH GIÁ LÃO KHOA TOÀN DIỆN

MỤC TIÊU

  1. Trình bày được định nghĩa đánh giá lão khoa toàn diện.
  2. Trình bày được các khía cạnh của đánh giá lão khoa toàn diện.
  3. Trình bày được một số công cụ và phương pháp để thực hiện đánh giá lão khoa toàn diện.

1. ĐẠI CƯƠNG VỀ ĐÁNH GIÁ LÃO KHOA TOÀN DIỆN

Đánh giá lão khoa toàn diện (CGA) là phương pháp chẩn đoán liên ngành, đa chiều để xác định các khía cạnh về y tế, tâm lý và chức năng của người cao tuổi nhằm phát triển kế hoạch đầy đủ để theo dõi và điều trị lâu dài. Trong khi phối hợp các đánh giá chẩn đoán y tế cơ bản, CGA nhấn mạnh chất lượng cuộc sống, tình trạng chức năng và các yếu tố tiên lượng. Do đó, điểm nổi bật của CGA là những việc làm của các nhóm liên ngành và sử dụng các công cụ tiêu chuẩn để đánh giá các khía cạnh hoạt động của bệnh nhân, cũng như nhận biết các khiếm khuyết và nhu cầu hỗ trợ xã hội.

Hình 4.11. Các thành tố của đánh giá lão khoa toàn diện

2. CÁC THÀNH PHẦN CỦA ĐÁNH GIÁ LÃO KHOA TOÀN DIỆN

Ngoài khai thác tiền sử và thăm khám lâm sàng cơ bản, người thầy thuốc cần đánh giá toàn diện chức năng trên người cao tuổi. Nếu chỉ thăm khám thông thường như trên các bệnh nhân trẻ tuổi thì sẽ bị bỏ sót tổn thương vì người cao tuổi thường không báo cáo tất cả các vấn đề họ đang gặp phải. Ví dụ người cao tuổi không cho rằng ngã là một vấn đề y tế cần điều trị. Họ cũng thường xấu hổ và ngại khi nói về tiểu không tự chủ hoặc vấn đề tình dục. Nhiều người cao tuổi tin rằng những triệu chứng như mắt nhìn mờ, thính lực giảm là do tuổi cao và không thể điều trị được. Chính vì vậy để đảm bảo việc khai thác và đánh giá toàn diện thì các thành phần trong đánh giá lão khoa toàn diện bao gồm:

2.1. Đánh giá thị giác và thính giác

Suy giảm thị giác và thính giác là vấn đề phổ biến trong cộng đồng người cao tuổi. Suy giảm thị giác chiếm 17% và suy giảm thính giác chiếm 35% trong cộng đồng người trên 65 tuổi. Giảm thị lực có liên quan với tăng nguy cơ ngã, suy giảm chức năng và nhận thức, bất động và trầm cảm. Giảm thính lực có liên quan với suy giảm nhận thức, tình cảm, xã hội và chức năng thể chất ở người cao tuổi. Sàng lọc thay đổi về thị giác và thính giác liên quan đến tuổi giúp duy trì chức năng tối ưu. Sử dụng kính và các thiết bị khuếch đại giúp cải thiện tình trạng chức năng và chất lượng cuộc sống của người cao tuổi.

Phương thức chuẩn để sàng lọc cho các vấn đề với thị lực là bảng đo mắt Snellen, yêu cầu bệnh nhân đứng cách biểu đồ 6 m và đọc chữ, sử dụng kính nếu có. Bệnh nhân không thể đọc tất cả các chữ cái trên dòng 20/40 với kính mắt của họ (thị lực chỉnh kính tốt nhất) là test sàng lọc dương tính.

Đối với kiểm tra thính lực cần hỏi bệnh nhân về bất cứ rối loạn về nghe nếu có. Ngoài ra có thể kiểm tra bằng test nói thì thầm. Người thầy thuốc nói 3–6 từ ngẫu nhiên (con số, từ hoặc chữ cái) ở khoảng cách khác nhau (15, 20, 30 và 60 cm) từ tai của người bệnh và sau đó yêu cầu bệnh nhân phải lặp lại các từ. Test sàng lọc dương tính khi bệnh nhân không thể lặp lại một nửa trong số những lời thì thầm một cách chính xác. Test sàng lọc 10 phút trên người cao tuổi cũng là một công cụ hữu ích, thuận tiện để sàng lọc rối loạn thị giác và thính giác trên người cao tuổi.

2.2. Đánh giá dinh dưỡng

Tỷ lệ suy dinh dưỡng tăng theo độ tuổi, ảnh hưởng 5% đến 10% bệnh nhân cao tuổi ngoại trú và 30% đến 50% bệnh nhân nội trú. Những bệnh nhân có bệnh mạn tính là những người có nguy cơ cao, đặc biệt là những người có răng yếu, rối loạn đường tiêu hóa, trầm cảm hoặc bị bệnh tâm thần khác, một số thuốc có ảnh hưởng đến sự thèm ăn và bài tiết nước bọt. Suy dinh dưỡng là một thuật ngữ tổng thể bao gồm nhiều vấn đề khác nhau về dinh dưỡng có liên quan đến các biến chứng sức khỏe khác nhau. Dù quá cân hay nhẹ cân thì người cao tuổi đều có nguy cơ bị suy giảm chức năng, tăng nguy cơ mắc bệnh và tử vong. Trong cộng đồng người cao tuổi, béo phì là rối loạn dinh dưỡng thường gặp nhất. Ngoài ra, một tỷ lệ nhỏ người cao tuổi trong cộng đồng có suy dinh dưỡng năng lượng hoặc protein năng lượng, tương đồng với nguy cơ cao tử vong và suy giảm chức năng. Suy dinh dưỡng protein năng lượng được xác định bởi sự hiện diện của các dấu hiệu lâm sàng như hao mòn, chỉ số khối cơ thể (BMI) thấp và các chỉ số sinh hóa (albumin hoặc protein khác) cho thấy lượng thức ăn nhập vào không đủ. Mặc dù tầm quan trọng của albumin huyết thanh thấp và cholesterol thấp là yếu tố tiên lượng tử vong trong cộng đồng, bệnh viện và người lớn tuổi trong trại dưỡng lão đã được chứng minh, nhưng các xét nghiệm này có thể phản ánh tình trạng viêm chứ không phải là suy dinh dưỡng. Có thể sử dụng một số thang điểm để sàng lọc tình trạng suy dinh dưỡng ở người cao tuổi.

Trong lần thăm khám đầu tiên, bệnh nhân cần được hỏi đã bị giảm bao nhiêu cân trong vòng 6 tháng qua. Tất cả bệnh nhân cần được đo chiều cao, cân nặng mỗi lần thăm khám để tính chỉ số BMI. Sử dụng test sàng lọc dinh dưỡng Mini-Nutritional Assessment (MNA) giúp phát hiện nguy cơ suy dinh dưỡng ngay cả khi albumin và BMI vẫn trong giới hạn bình thường.

Trên các bệnh nhân đang nằm viện, suy dinh dưỡng liên quan đến tăng tỷ lệ tử vong, trì hoãn hồi phục chức năng, tăng tỷ lệ phải điều trị lâu dài trong trại dưỡng lão. Do vậy cần theo dõi năng lượng và protein trong khẩu phần ăn của bệnh nhân. Lượng thức ăn đưa vào có thể được đo lường thông qua lượng calo chuẩn. Xét nghiệm theo dõi có thể hữu ích. Mặc dù nồng độ albumin huyết thanh có thể giảm cấp tính trong quá trình viêm, căng thẳng sinh lý và để đáp ứng với chấn thương hoặc điều kiện phẫu thuật, protein này có thời gian bán hủy dài (khoảng 18 ngày). Do đó, mức độ albumin huyết thanh tại thời điểm nhập viện cho thấy tình trạng dinh dưỡng cơ bản của bệnh nhân. Prealbumin có thời gian bán hủy ngắn hơn nhiều (khoảng 2 ngày) có thể là một xét nghiệm tốt hơn để theo dõi và điều trị dinh dưỡng. Cholesterol trong huyết thanh cũng có thể có giá trị trong theo dõi bệnh nhân nhập viện, nếu giảm có liên quan với sự gia tăng tỷ lệ mắc bệnh và tử vong.

THANG ĐIỂM SÀNG LỌC DINH DƯỠNG RÚT GỌN MNA-SF

M1. Giảm lượng thực phẩm tiêu thụ trong vòng 3 tháng qua do mất cảm giác ngon miệng, các vấn đề tiêu hóa, nhai hoặc nuốt khó?

  • 0 = Giảm nghiêm trọng
  • 1 = Giảm vừa phải
  • 2 = Không giảm

M2. Giảm cân không chủ ý trong vòng 3 tháng qua

  • 0 = Giảm nhiều hơn 3 kg
  • 1 = Không biết
  • 2 = Giảm 1–3 kg
  • 3 = Không giảm

M3. Sự di chuyển

  • 0 = Trong khoảng giường hoặc ghế
  • 1 = Có khả năng ra khỏi giường/ghế nhưng không ra khỏi nhà
  • 2 = Ra khỏi nhà

M4. Trải qua căng thẳng tâm lý hoặc bệnh cấp tính trong vòng 3 tháng qua?

  • 0 = Có
  • 2 = Không

M5. Các vấn đề tâm thần kinh?

  • 0 = Trầm cảm hoặc sa sút trí tuệ nặng
  • 1 = Sa sút trí tuệ nhẹ
  • 2 = Không có các vấn đề tâm lý

M6. Chỉ số khối cơ thể (BMI)?

  • 0 = BMI dưới 19
  • 1 = BMI từ 19 đến dưới 21
  • 2 = BMI từ 21 đến dưới 23
  • 3 = BMI từ 23 trở lên

M7. Chu vi vòng cánh tay (CC) theo cm

(Chỉ trả lời khi không lấy được BMI)

  • 0 = CC dưới 31
  • 3 = CC từ 31 trở lên

Đánh giá: suy dinh dưỡng (0-7 điểm), có nguy cơ suy dinh dưỡng (8-11 điểm) và tình trạng dinh dưỡng bình thường (12-14 điểm).

2.3. Tiểu không tự chủ

Tiểu không tự chủ là một vấn đề phổ biến, đặc biệt là ở phụ nữ lớn tuổi và thường không được quan tâm đúng mức. Bệnh nhân có thể xấu hổ khi đề cập đến vấn đề này; họ cũng có thể coi nó như là một khía cạnh bình thường của sự lão hóa. Tiểu không tự chủ chỉ có mối liên quan với các triệu chứng trầm cảm ở người cao tuổi. Đặc biệt là tiểu không tự chủ có thể điều trị được. Do vậy, sàng lọc tiểu không tự chủ ngày càng được công nhận là một chỉ số về chất lượng chăm sóc.

Hai câu hỏi giúp sàng lọc tiểu không tự chủ là: (1) “Trong năm qua, có bao giờ Ông/Bà bị rỉ nước tiểu hoặc không kiểm soát được tiểu tiện và bị tiểu dầm không?” và nếu như vậy, (2) “Ông/Bà có bị không kiểm soát được tiểu tiện ít nhất sáu ngày riêng biệt không?”.

Nếu bệnh nhân trả lời có cho cả hai câu hỏi là những người có tỷ lệ tiểu không tự chủ cao (79% đối với phụ nữ và 76% đối với nam).

2.4. Rối loạn thăng bằng-vận động đi và ngã

Trên một phần ba người trên 65 tuổi trong cộng đồng ngã mỗi năm. Ngã có mối liên quan độc lập với suy giảm chức năng và vận động. Những người cao tuổi đã từng bị ngã hoặc có rối loạn về dáng đi và thăng bằng có nguy cơ ngã cao hơn so với những người khác. Nguy cơ ngã có thể đánh giá bằng cách hỏi NCT có ngã trong vòng 1 năm trở lại đây không, sau đó thực hiện đánh giá các yếu tố nguy cơ ngã bằng các test về dáng đi, thăng bằng và sức mạnh chi dưới. Đối với NCT sàng lọc có nguy cơ ngã, điều trị các yếu tố nguy cơ có thể giảm 30 đến 40% nguy cơ ngã.

Trong lần thăm khám đầu tiên, thầy thuốc cần hỏi về các lần ngã và nỗi sợ ngã. Đối với các bệnh nhân bán đứng, cần hỏi kỹ hơn về hoàn cảnh ngã. Các bệnh nhân bị ngã tái phát hoặc có chấn thương khi ngã cần được đánh giá chi tiết hơn về thăng bằng và tình trạng hạ huyết áp tư thế, thị giác và xem xét các loại thuốc bệnh nhân đang sử dụng có nguy cơ gây ngã.

Quan sát dáng đi của bệnh nhân, thực hiện các test để đánh giá rối loạn dáng đi và thăng bằng như test “đứng lên và đi” (Up and Go). Test này được thực hiện như sau:

Dụng cụ: một ghế có tay vịn, một quãng đường dài 3m có vạch kẻ sẵn, đồng hồ bấm giờ.

Cách tiến hành: cho bệnh nhân ngồi thoải mái trên ghế tựa có tay vịn, đi giày vừa chân, có thể sử dụng công cụ hỗ trợ đi lại nếu có (gậy, khung tập đi…). Hướng dẫn bệnh nhân: khi BS nói “Đi” thì bệnh nhân:

  • Đứng dậy.
  • Đi hết quãng đường theo vạch kẻ sẵn với tốc độ bình thường.
  • Quay đầu lại.
  • Đi lại trở về ghế với tốc độ bình thường.
  • Ngồi xuống ghế.

Đánh giá kết quả: tính thời gian từ lúc nói “Đi” đến lúc bệnh nhân ngồi xuống ghế. Bình thường thời gian thực hiện test là nhỏ hơn 10 giây. Từ 11 đến 20 giây là trong giới hạn bình thường đối với các bệnh nhân có hội chứng dễ bị tổn thương (HCDBTT) và tàn tật. Nếu thời gian thực hiện test lớn hơn 20 giây thì bệnh nhân có nguy cơ ngã cao và cần được đánh giá sâu hơn.

2.5. Tình trạng sử dụng nhiều thuốc

Khoảng 80% NCT có ít nhất một bệnh mạn tính và uống ít nhất 1 loại thuốc mỗi ngày. Khoảng 30% người trên 65 tuổi uống nhiều hơn 8 loại thuốc mỗi ngày. Người cao tuổi chiếm hơn 50% trường hợp nhập viện do tác dụng phụ của thuốc, thay đổi về dược động học, chuyển hóa và thải trừ thuốc.

Tình trạng sử dụng nhiều thuốc là khi bệnh nhân dùng trên 5 loại thuốc, có thể là thuốc được kê đơn, thuốc không kê đơn, thực phẩm chức năng. Tình trạng sử dụng nhiều thuốc ở người cao tuổi có liên quan đến phản ứng có hại của thuốc, giảm tuân thủ và việc sử dụng thuốc không phù hợp.

Cần hướng dẫn NCT mang tất cả các loại thuốc hiện đang dùng, kể cả thuốc kê đơn, không kê đơn và thực phẩm chức năng mỗi lần đi khám. Kiểm tra toàn bộ tiền sử thuốc.

Sử dụng thuốc thuốc, bao gồm tên, liều lượng, số lần và chỉ định cho mỗi loại thuốc. Tìm hiểu các thuốc kê đơn chưa tối ưu, sử dụng đồng thời nhiều loại thuốc, thuốc không dùng, sử dụng không phù hợp, và tuân thủ điều trị của bệnh nhân. Hỏi về việc sử dụng các thuốc không kê đơn, vitamin và các chất bổ sung dinh dưỡng, và các loại thuốc hướng thần như thuốc gây nghiện, thuốc nhóm benzodiazepin… Đánh giá các tương tác thuốc. Đặc biệt lưu ý khi điều trị triệu chứng mất ngủ, ước tính xảy ra trên 40% người lớn tuổi. Các thuốc điều trị mất ngủ có nguy cơ cao gây ngã trên người cao tuổi. Đối với người cao tuổi nên cho thuốc với liều thấp, tăng liều từ từ và tránh tình trạng sử dụng nhiều thuốc.

2.6. Đánh giá nhận thức

Tỷ lệ Alzheimer, sa sút trí tuệ và suy giảm nhận thức ngày càng gia tăng theo tuổi, chính vì vậy sàng lọc về nhận thức đối với người cao tuổi là rất quan trọng. Thang đánh giá tâm thần tối thiểu (Mini-Mental State Examination- MMSE) thường được sử dụng để sàng lọc nhận thức trên người cao tuổi. Ngoài ra, có thể sử dụng một số thang điểm ngắn gọn khác như test vẽ đồng hồ, test nhớ ba từ và thang điểm Mini-Cog, được kết hợp giữa test vẽ đồng hồ và test nhớ 3 từ.

Đối với bệnh nhân nội trú cần đánh giá tình trạng tâm thần tại thời điểm nhập viện và theo dõi định kỳ vì người cao tuổi có tỷ lệ xuất hiện mê sảng trong thời gian nằm viện. Những bất thường về tình trạng tâm thần trên bệnh nhân nội trú cần được phân tích dựa trên bối cảnh biến đổi của tình trạng ban đầu và diễn biến lâm sàng.

TRẮC NGHIỆM ĐÁNH GIÁ TRẠNG THÁI TÂM THẦN TỐI THIỂU MMSE

Tôi sẽ hỏi 1 số câu hỏi và yêu cầu ông/bà giải quyết 1 số vấn đề. Ông/Bà cố gắng trả lời ở mức tốt nhất.

B1. Định hướng thời gian

Câu hỏi Điểm tối đa Điểm của BN
Năm nay là năm gì? 1
Mùa này là mùa gì? 1
Tháng này là tháng mấy? 1
Hôm nay là ngày bao nhiêu? 1
Hôm nay là thứ mấy? 1

B2. Định hướng không gian

Câu hỏi Điểm tối đa Điểm của BN
Nước mình tên gì? 1
Tỉnh (thành) này tên gì? 1
Huyện (quận) này tên gì? 1
Xã (phường) này tên gì?/Bệnh viện này tên gì? 1
Thôn (khu phố, đường) này tên gì? Tầng này tầng mấy? 1

B3. Ghi nhớ

Tôi sẽ đọc 3 từ, sau khi đọc xong đề nghị cụ nhắc lại. Cụ phải nhớ thật kỹ vì lát nữa tôi sẽ hỏi lại. Đọc chậm rãi 3 từ, giữa mỗi từ nghỉ khoảng 1 giây.

  • Bóng bàn
  • Ô tô
  • Trường học
Từ Điểm tối đa Điểm của BN
Bóng bàn 1
Ô tô 1
Trường học 1

B4. Chú ý và làm toán

Làm phép tính 100 trừ 7 cho đến khi nào ngừng:

  • 100 − 7 = 93
  • 93 − 7 = 86
  • 86 − 7 = 79
  • 79 − 7 = 72
  • 72 − 7 = 65

(Mỗi đáp án đúng: 1 điểm)

B5. Nhớ lại

Hãy nhắc lại ba từ mà lúc nãy tôi đã yêu cầu cụ nhớ?

Từ Điểm tối đa Điểm của BN
Bóng bàn 1
Ô tô 1
Trường học 1

B6. Gọi tên đồ vật

Yêu cầu Điểm tối đa Điểm của BN
Chỉ vào đồng hồ đeo tay và hỏi: “Đây là cái gì?” 1
Chỉ vào bút chì và hỏi: “Đây là cái gì?” 1

B7. Nhắc lại câu

Cụ hãy nhắc lại câu sau đây:

“Không nếu, và hoặc nhưng”

Điểm tối đa Điểm của BN
1

B8. Làm theo mệnh lệnh viết

Cụ hãy đọc những từ ghi trong tờ giấy này và làm theo yêu cầu ghi trong đó.

Đưa cho bệnh nhân một tờ giấy trong đó có ghi:

“Hãy nhắm mắt lại”

Điểm tối đa Điểm của BN
1

B9. Thực hiện mệnh lệnh ba giai đoạn

Cầm một tờ giấy, giơ ra trước mặt bệnh nhân và nói:

“Cụ hãy cầm tờ giấy này bằng tay phải, gấp lại làm đôi bằng hai tay, rồi lại đặt tờ giấy xuống sàn nhà.”

Nội dung Điểm tối đa Điểm của BN
Cầm tờ giấy bằng tay phải 1
Gấp làm đôi 1
Đặt xuống sàn 1

B10. Viết

Đưa cho bệnh nhân một cái bút chì rồi nói:

“Cụ hãy viết bất kỳ một câu nào dưới dòng này.”

Điểm tối đa Điểm của BN
1

B11. Vẽ lại hình

Cho bệnh nhân vẽ lại hình.

Điểm tối đa Điểm của BN
1

B12. Tổng điểm

Tổng điểm tối đa cho trắc nghiệm này là 30 điểm.

Thời gian làm trắc nghiệm khoảng 7–10 phút.

Đánh giá kết quả trắc nghiệm:

  • Tổng điểm MMSE > 24 điểm: Bình thường.
  • Tổng điểm 20 < MMSE ≤ 24 điểm: Sa sút trí tuệ mức độ nhẹ.
  • Tổng điểm 10 < MMSE ≤ 20 điểm: Sa sút trí tuệ mức độ trung bình.
  • Tổng điểm MMSE ≤ 10 điểm: Sa sút trí tuệ nặng.

2.7. Đánh giá trầm cảm

Tỷ lệ trầm cảm nặng ở người cao tuổi là ít hơn so với người trẻ, tuy nhiên trầm cảm và rối loạn tinh thần khác là bệnh khá phổ biến và gây ra biến chứng đáng kể. Trầm cảm ở người lớn tuổi có thể biểu hiện không điển hình và có thể khởi phát ở các bệnh nhân suy giảm nhận thức hoặc bệnh thần kinh khác như bệnh Parkinson. Có thể sàng lọc trầm cảm bằng câu hỏi đơn giản: “Ông/Bà có thường cảm thấy buồn hay chán nản không?” kết hợp với thang điểm trầm cảm Lão khoa (Geriatric Depression Scale). Khi bệnh nhân có trên 5 điểm theo thang điểm trầm cảm Lão khoa thì nghi ngờ có trầm cảm. Ngoài ra, sử dụng thang điểm Patient Health Questionnaire-9 (PHQ-9) được sử dụng để phát hiện và theo dõi triệu chứng trầm cảm, độ tin cậy cao và đánh giá được mức độ nghiêm trọng của trầm cảm trên NCT.

THANG TRẦM CẢM LÃO KHOA

GERIATRIC DEPRESSION SCALE (GDS-20)

  1. Về cơ bản, bác có cảm thấy hài lòng về cuộc đời mình không? …………………………………. Có/Không
  2. Các hoạt động và sở thích của bác có suy giảm nhiều không? ………………………………. Có/Không
  3. Bác có cảm thấy cuộc sống của mình thật trống rỗng? ……………………………………….. Có/Không
  4. Bác có thường xuyên cảm thấy buồn không? …………………………………………………….. Có/Không
  5. Bác luôn cảm thấy phấn chấn? ………………………………………………………………………. Có/Không
  6. Bác thấy sợ rằng có những điều tồi tệ đang xảy ra với bác không? ………………………. Có/Không
  7. Bác có cảm thấy hạnh phúc? …………………………………………………………………………. Có/Không
  8. Bác có cảm thấy thường xuyên cần được giúp đỡ không? ………………………………….. Có/Không
  9. Bác thích ở nhà hơn là đi ra ngoài và làm những việc mới mẻ? …………………………… Có/Không
  10. Bác cảm thấy mình tụt hậu hơn so với mọi người? ………………………………………….. Có/Không
  11. Bác có cảm thấy cuộc đời thật đẹp không? …………………………………………………….. Có/Không
  12. Bác cảm thấy cuộc sống hiện tại thật vô vị? …………………………………………………… Có/Không
  13. Bác cảm thấy mình tràn đầy năng lượng? ……………………………………………………….. Có/Không
  14. Bác có cảm thấy tuyệt vọng không? ………………………………………………………………. Có/Không
  15. Bác có nghĩ là hầu hết mọi người tốt hơn bác không? ………………………………………. Có/Không
  16. Bác có thường bị mất ngủ không? …………………………………………………………………. Có/Không
  17. Bác có thường cảm thấy không an toàn và lo âu không? ………………………………….. Có/Không
  18. Đôi khi bác cảm thấy lo lắng tới mức không thể chịu nổi không? ……………………….. Có/Không
  19. Bác thấy đau ở đâu đó trong cơ thể mình? ……………………………………………………… Có/Không
  20. Bác có lo sợ rằng mình mắc một bệnh nào đó không? …………………………………….. Có/Không

Tổng điểm: ……/20

2.8. Đánh giá chức năng

Tìm hiểu về chức năng hằng ngày, đặc biệt là những bệnh nhân có các bệnh mạn tính rất quan trọng trong đánh giá bệnh nhân cao tuổi, cung cấp cơ sở quan trọng để xác định kế hoạch điều trị trong tương lai. Đầu tiên cần hỏi về khả năng thực hiện các hoạt động hằng ngày (Activities of daily living ADLs), bao gồm các hoạt động tự chăm sóc cơ bản như ăn uống, đi vệ sinh, mặc quần áo, chải sóc bản thân, đi lại, tiểu tiện. Điểm tối đa đối với một người bình thường khỏe mạnh là 6 điểm; dưới 6 điểm là có suy giảm chức năng hoạt động hằng ngày. Bên cạnh đó cần khai thác thêm những hoạt động ở mức độ cao hơn trong bảng câu hỏi đánh giá hoạt động hằng ngày có sử dụng bộ công cụ Instrumental Activities of Daily Living (IADLs), bao gồm sử dụng điện thoại, mua…

bán, nấu ăn, dọn dẹp nhà cửa, giặt giũ quần áo, sử dụng phương tiện giao thông, sử dụng thuốc và khả năng quản lý chi tiêu. Điểm tối đa đối với một người bình thường khỏe mạnh là 8 điểm; dưới 8 điểm là có suy giảm chức năng sử dụng cụ, phương tiện. Cần hỏi kỹ BN có thể thực hiện một cách độc lập, cần trợ giúp một chút hay hoàn toàn phụ thuộc vào người khác.

BẢNG ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG HẰNG NGÀY (ADL)

Trong mỗi mục sau đây, khoanh tròn vào câu trả lời đúng với tình trạng bệnh nhân nhất. Cho điểm 1 hoặc 0 vào cột bên cạnh.

1. Ăn uống

  • Tự ăn không cần người giúp …………………………………………………… 1
  • Cần giúp chút ít trong bữa ăn và/hoặc phải chuẩn bị bữa ăn riêng hoặc giúp lau mồm sau khi ăn ……………………………………………… 0
  • Cần giúp mức độ vừa phải và ăn uống không gọn gàng …………….. 0
  • Cần giúp nhiều trong tất cả các bữa ăn …………………………………… 0
  • Không thể tự ăn chút nào hoặc cưỡng lại khi người khác cho ăn …. 0

2. Đi vệ sinh

  • Tự đi vệ sinh, không có đái, tiểu tiện không tự chủ ……………………. 1
  • Cần người nhắc, hoặc giúp lau chùi, hiếm khi ỉa đùn, đái dầm ……. 1
  • Ỉa đùn hoặc đái dầm trong khi ngủ nhiều hơn một lần/tuần …………. 0
  • Đái ỉa không tự chủ ……………………………………………………………… 0

3. Mặc quần áo

  • Tự mặc và cởi quần áo, tự chọn quần áo trong tủ của mình …………. 1
  • Tự mặc và cởi quần áo nhưng cần có người giúp chút ít …………….. 0
  • Cần giúp mức độ trung bình trong việc mặc và chọn quần áo ………. 0
  • Cần giúp nhiều khi mặc quần áo, nhưng hợp tác với người giúp ….. 0
  • Không thể tự mặc quần áo hoặc cưỡng lại khi người khác giúp …… 0

4. Chăm sóc bản thân (tóc, móng tay, tay, mặt, quần áo)

  • Gọn gàng, chỉnh tề, không cần người giúp ……………………………….. 1
  • Tự chăm sóc bản thân nhưng cần giúp đỡ chút ít, VD: cạo râu ……. 0
  • Cần giúp đỡ mức độ trung bình hoặc cần giám sát ……………………. 0
  • Cần người khác giúp đỡ hoàn toàn, nhưng hợp tác …………………… 0
  • Không cho người khác giúp …………………………………………………… 0

5. Đi lại

  • Tự đi lại trong thành phố ……………………………………………………….. 1
  • Tự đi lại trong khu nhà mình ở ……………………………………………….. 0
  • Cần có người giúp ……………………………………………………………….. 0
  • Ngồi ghế hoặc xe lăn nhưng không thể tự di chuyển ………………….. 0
  • Nằm liệt giường quá nửa thời gian ………………………………………….. 0

6. Tắm rửa

  • Tự tắm rửa ………………………………………………………………………….. 1
  • Tự tắm nếu có người giúp đưa vào hoặc ra bồn tắm ………………….. 0
  • Chỉ tự rửa mặt hoặc tay ………………………………………………………… 0
  • Không tự tắm rửa được, nhưng hợp tác với người giúp ……………… 0
  • Không thử tự tắm rửa, cưỡng lại khi người khác giúp ………………… 0

BẢNG ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG HẰNG NGÀY CÓ SỬ DỤNG CÔNG CỤ, PHƯƠNG TIỆN (IADL)

Trong mỗi mục sau đây, khoanh tròn vào câu trả lời đúng với tình trạng bệnh nhân nhất, cho điểm 1 hoặc 0 vào cột bên cạnh.

1. Sử dụng điện thoại

  • Tự sử dụng điện thoại một cách dễ dàng ………………………………….. 1
  • Gọi điện thoại những số đã biết ………………………………………………. 1
  • Biết cách trả lời điện thoại nhưng không gọi được ……………………… 1
  • Không sử dụng được điện thoại ………………………………………………. 0

2. Mua bán

  • Tự mua, bán được mọi thứ cần thiết ………………………………………… 1
  • Có thể tự mua, bán nhưng thứ lặt vặt ……………………………………… 0
  • Cần người giúp khi mua bán …………………………………………………… 0
  • Không có khả năng mua bán ………………………………………………….. 0

3. Nấu ăn

  • Tự lên kế hoạch, chuẩn bị và tự ăn ………………………………………….. 1
  • Có thể nấu ăn nếu có người chuẩn bị sẵn ………………………………… 0
  • Có thể hâm nóng và ăn các thức ăn đã được chuẩn bị sẵn hoặc chuẩn bị bữa ăn, nhưng không đảm bảo chế độ ăn đầy đủ ………….. 0
  • Cần có người chuẩn bị và cho ăn ……………………………………………. 0

4. Dọn dẹp nhà cửa

  • Tự dọn dẹp nhà cửa hoặc đôi khi cần có người giúp đỡ những công việc nặng ……………………………………………………………………. 1
  • Làm được những việc nhẹ như rửa bát, dọn giường ………………….. 1
  • Làm được những việc nhẹ nhưng không thể đảm bảo sạch sẽ …….. 1
  • Cần người giúp đỡ trong tất cả việc nhà ………………………………….. 1
  • Không tham gia vào bất cứ việc nhà nào …………………………………. 0

5. Giặt giũ quần áo

  • Tự giặt giũ quần áo của bản thân …………………………………………….. 1
  • Giặt những đồ nhẹ như quần áo lót ………………………………………….. 1
  • Cần người khác giặt mọi thứ …………………………………………………… 0

6. Sử dụng phương tiện giao thông

  • Tự đi các phương tiện giao thông như taxi, xe buýt, tàu hỏa ……… 1
  • Tự đi được bằng các phương tiện trên nhưng cần có người đi cùng …………………………………………………………………………………….. 1
  • Không tự đi được phương tiện nào cả ……………………………………… 0

7. Sử dụng thuốc

  • Tự uống thuốc đúng liều lượng, đúng giờ ………………………………… 1
  • Tự uống thuốc nếu có người chuẩn bị sẵn theo liều nhất định ……… 0
  • Không có khả năng tự uống thuốc ………………………………………….. 0

8. Khả năng quản lý chi tiêu

  • Tự quản lý chi tiêu hoàn toàn ………………………………………………….. 1
  • Cần người giúp trong chi tiêu ………………………………………………….. 1
  • Không có khả năng tự chi tiêu ………………………………………………… 0

2.9. Đánh giá đau

Đau là triệu chứng thường gặp trên người cao tuổi, chiếm 25 đến 50% trong cộng đồng và 40–80% trong các trại dưỡng lão. Đau thường xuất phát từ cơ xương khớp như đau lưng và các khớp, ngoài ra đau đầu, đau thần kinh do biến chứng của đái tháo đường, đau do herpes zoster, đau thần kinh đệm, đau do ung thư cũng rất phổ biến. Người cao tuổi ít phàn nàn về đau, dẫn đến tình trạng đau quá mức, trầm cảm, cô lập xã hội, không có khả năng hoạt động thể chất và mất chức năng. Đánh giá chính xác là cơ sở để điều trị hiệu quả. Hỏi về đau mỗi khi thăm khám bệnh nhân. Đánh giá đau trên người cao tuổi là một thách thức bởi có thể bệnh nhân sợ phải làm thêm xét nghiệm, tốn tiền, sợ tiến triển của bệnh, bệnh nhân có thể bị suy giảm nhận thức, không có khả năng nói và diễn đạt, hoặc báo cáo quá nhiều dẫn đến khó đánh giá. Tuy nhiên bằng chứng nghiên cứu cho thấy.

những phàn nàn về đau của bệnh nhân, kể cả mức độ nhẹ và trung bình là đáng tin cậy. Trong quá trình thăm khám cần hỏi bệnh nhân: “Bây giờ ông/bà có bị đau đâu không?”“Ông/bà có đau ở đâu trong một tuần qua không?”. Cần cảnh giác với những dấu hiệu đau không được mô tả, ví dụ như bệnh nhân có cảm giác rát, không thoải mái, đau nhức, biểu hiện trầm cảm, những biểu hiện trong tư thế hoặc dáng đi. Một số thang điểm đau thường được sử dụng để đánh giá đau trên người cao tuổi như:

  • Thang điểm Visual Analog Scale – VAS: hỏi bệnh nhân mức độ đau của ông/bà tương ứng với vị trí nào trên bảng?

Thang điểm đau VAS

  • Thang điểm lời nói (The Verbal) 0-10

Hỏi bệnh nhân: 0 là không đau, 10 là đau không chịu được thì ông/bà đang đau ở mức độ nào?

  • Thang điểm đau khuôn mặt:

Hỏi bệnh nhân: hiện tại mức độ đau của Ông/Bà tương ứng với khuôn mặt nào?

Đối với bệnh nhân có suy giảm nhận thức cần hỏi kỹ gia đình và người chăm sóc về biểu hiện đau, quan sát hành vi, nét mặt của bệnh nhân. Có thể những hành vi bất thường trên bệnh nhân có sa sút trí tuệ có thể nguyên nhân là do đau.

Cần phân biệt giữa đau cấp tính và đau mạn, cũng như tìm nguyên nhân gây ra đau. Đau cấp tính có khởi phát một cách rõ ràng, xảy ra trong thời gian ngắn, thường do các bệnh lý rõ ràng như sau phẫu thuật, chấn thương, đau đầu,… Đau mạn tính kéo dài trên 3 tháng, thường kết hợp với suy giảm chức năng và tâm lý, có thể dao động đặc điểm và cường độ đau theo thời gian, nguyên nhân thường do các bệnh khớp, ung thư, bệnh thần kinh, đau rễ thần kinh,…

Trên người cao tuổi, đánh giá đau bao gồm đánh giá toàn diện, bao gồm cả chất lượng cuộc sống, tương tác xã hội và chức năng. Mệt mỏi, lú lẫn, bồn chồn, không thoải mái cũng có thể là nguyên nhân gây đau.

3. ĐÁNH GIÁ SỰ HỖ TRỢ VỀ XÃ HỘI

Trong quá trình khai thác tiền sử cần hỏi về sự hỗ trợ xã hội của bệnh nhân. Nếu bệnh nhân là người bị phụ thuộc, thầy thuốc nên khai thác xem ai là người giúp đỡ bệnh nhân các hoạt động chức năng hằng ngày, hoặc bệnh nhân có được tình nguyện viên hoặc người giúp việc giúp không. Kể cả đối với người cao tuổi khỏe mạnh cũng nên hỏi bệnh nhân ai là người sẽ chăm sóc khi bệnh nhân bị ốm. Nhận biết sớm các vấn đề về hỗ trợ xã hội sẽ giúp lên kế hoạch chăm sóc cho tương lai cho người cao tuổi.

4. ĐÁNH GIÁ TÀI CHÍNH

Một số thầy thuốc có thể không thoải mái khi đánh giá về tình trạng tài chính của bệnh nhân, tuy nhiên điều này sẽ giúp lên kế hoạch chăm sóc tốt hơn cho người cao tuổi. Đối với người cao tuổi yếu đuối và chức năng suy giảm, thầy thuốc nên bắt đầu thảo luận về kế hoạch tiết kiệm chi phí và các nguồn lực khác nhằm cung cấp chế độ chăm sóc thích hợp nhất cho từng cá thể.

5. ĐÁNH GIÁ VỀ MÔI TRƯỜNG

Đánh giá môi trường bao gồm hai khía cạnh, sự an toàn của môi trường tại nhà và bệnh nhân được tiếp cận đầy đủ với các dịch vụ cá nhân và y tế cần thiết. Đặc biệt người cao tuổi có hội chứng dễ bị tổn thương, những người có suy giảm về di động và cân bằng, mới trưởng thành cần phải được đánh giá về độ an toàn, thậm chí phải lắp đặt thêm các thiết bị hỗ trợ như thanh vịn, nâng cao chỗ ngồi bệ vệ sinh lên…

Người cao tuổi bắt đầu có phụ thuộc hoạt động hằng ngày có sử dụng công cụ IADL nên được đánh giá về quãng đường bệnh nhân thực hiện các dịch vụ cần thiết như mua sắm,… nhu cầu của họ để sử dụng các dịch vụ đó và khả năng của họ để sử dụng các dịch vụ này trong hoàn cảnh sống hiện tại. Đối với người cao tuổi điều kiện các phương tiện đi lại có nguy cơ cao về tai nạn xe cơ giới, và sau đó là suy giảm chức năng, phải lệ thuộc vào thuốc và các điều kiện y tế.

6. ĐÁNH GIÁ HỘI CHỨNG DỄ BỊ TỔN THƯƠNG (HCDBTT)

HCDBTT là một trạng thái lâm sàng xảy ra do sự tích tụ của quá trình suy giảm chức năng nhiều hệ thống cơ quan trong cơ thể, đặc trưng bởi tình trạng dễ bị tổn thương với các yếu tố căng thẳng và dự đoán kết quả bất lợi cho sức khỏe. Tỷ lệ HCDBTT trên người cao tuổi là 4% đến 59,1% tùy thuộc tiêu chuẩn chẩn đoán và chủng tộc. HCDBTT đặc trưng bởi tình trạng giảm khối lượng cơ, suy giảm dinh dưỡng, giảm dự trữ sinh lý, dễ bị tổn thương khi xuất hiện các yếu tố căng thẳng. Sàng lọc HCDBTT trên người cao tuổi bao gồm 5 tiêu chí: giảm cân không chủ ý, tốc độ đi chậm, tự cảm thấy mệt mỏi, cơ lực yếu và hoạt động thể lực kém. BN có từ ba tiêu chí trở lên là có HCDBTT, 1-2 tiêu chí là tiền HCDBTTkhông có tiêu chí nào là không có HCDBTT.

7. ĐÁNH GIÁ VỀ TÂM LINH

Tâm linh, cho dù có liên quan với một giáo phái tôn giáo chính thức hoặc các yếu tố phi tôn giáo, ngày càng được công nhận có ảnh hưởng quan trọng đối với sức khỏe. Công cụ chính thức đánh giá về tâm linh đã được phát triển nhưng chưa được sử dụng rộng rãi trong thực hành lâm sàng. Đơn giản chỉ cần hỏi người cao tuổi tôn giáo hay tâm linh có quan trọng đối với họ không, từ đó có thể hỏi thêm về những hiểu biết tôn giáo nhằm hỗ trợ trong chăm sóc người cao tuổi. Đặc biệt ở trong bệnh viện, sự tham gia của các nhà tâm linh có thể có giá trị trong việc hỗ trợ các bệnh nhân đưa ra quyết định điều trị phù hợp với niềm tin của họ.

8. ĐÁNH GIÁ HÚT THUỐC VÀ NGHIỆN RƯỢU

Hút thuốc lá gây hại ở mọi lứa tuổi. Cai thuốc lá có thể mất thời gian, nhưng bỏ thuốc lá một bước quan trọng để giảm thiểu nguy cơ đối với bệnh tim, bệnh phổi, bệnh ác tính, và mất chức năng. Uống rượu có nhiều nguy cơ hơn ở những người trên 65 tuổi do những thay đổi về sinh lý, tác dụng khuếch đại của rượu, cũng như bệnh tật kèm theo và nguy cơ tương tác thuốc. Không nên uống quá ba ly vào bất cứ dịp nào hoặc bảy ly một tuần. Tỷ lệ ước tính các vấn đề liên quan đến rượu ở người cao tuổi từ 2% đến 22%, dao động 10% trong các nghiên cứu gần đây. Tỷ lệ phụ thuộc và lạm dụng rượu dao động từ 4% đến 8%. Tác hại và mối nguy hiểm do uống rượu có thể dẫn đến tình trạng suy giảm chức năng, sử dụng thuốc và các bệnh đi kèm, bao gồm lo âu và trầm cảm.

Tuy nhiên hiện nay việc phát hiện và điều trị vẫn còn rất hạn chế. Sàng lọc tất cả các BN cao tuổi về tình trạng uống rượu là rất quan trọng vì rất nhiều thuốc có tương tác với rượu. Bên cạnh đó 30% người cao tuổi uống rượu có các bệnh kèm theo như xơ gan, chảy máu dạ dày, bệnh trào ngược dạ dày, gút, tăng huyết áp, đái tháo đường, mất ngủ, rối loạn dáng đi và trầm cảm.

TEST SÀNG LỌC LÃO KHOA 10 PHÚT

Các vấn đề Phương pháp sàng lọc Kết quả sàng lọc dương tính
Thị giác Hai phần:
Ông/Bà có gặp khó khăn khi lái xe hoặc xem TV hoặc đọc sách, hoặc thực hiện các hoạt động hằng ngày vì thị lực của bạn?
Nếu có: Kiểm tra mỗi mắt với biểu đồ Snellen và yêu cầu bệnh nhân đeo kính nếu có.
Câu trả lời có và không có khả năng đọc > 20/40 trên biểu đồ Snellen
Thính giác Nghe sử dụng âm thoa (audioscope) thiết lập ở mức 40 dB. Kiểm tra khả năng nghe sử dụng 1.000 và 2.000 Hz. Ủng có khả năng nghe thấy 1.000 hoặc 2.000 Hz ở hai tai hoặc một trong các tai ở mỗi tai
Di động của chân Thời gian bệnh nhân sau khi ngồi lên từ ghế, đi bộ 6 mét thật nhanh, quay lại, đi bộ trở lại ghế và ngồi xuống. Không thể hoàn thành nhiệm vụ trong 15 giây
Tiểu không tự chủ Bao gồm hai phần: câu hỏi:
“Trong năm qua, có bao giờ Ông/Bà không kiểm soát được tiểu tiện và tiểu dầm chưa?”
Sau đó hỏi tiếp:
“Ông/Bà có bị không kiểm soát được tiểu tiện ít nhất 6 ngày liên tiếp không?”
Câu trả lời có cho cả hai câu hỏi
Dinh dưỡng/Giảm cân Bao gồm hai phần:
Hỏi: “Bạn đã bị sụt 4,5 kg trong 6 tháng vừa qua mà không phải cố gắng giảm cân không?”
Cân bệnh nhân.
Câu trả lời là có hoặc trọng lượng bệnh nhân < 4,5 kilogram
Trí nhớ Test nhớ 3 từ Không thể nhớ tất cả ba từ sau 1 phút
Trầm cảm “Bạn có thường cảm thấy buồn hay chán nản?” Câu trả lời có
Khuyết tật thể chất Sau câu hỏi: “Bạn có thể làm được:
• Thực hiện hoạt động gắng sức như đi bộ nhanh hoặc đi xe đạp?
• Làm công việc nặng trong nhà như lau cửa sổ, tường hoặc sàn nhà?
• Đi mua sắm các đồ tạp hóa hoặc quần áo?
• Đi đến những nơi ngoài khoảng cách đi bộ?
• Tắm, hoặc với một miếng bọt biển tắm, bồn tắm, hoặc vòi hoa sen?
• Mặc quần áo, như đưa áo lên, cài nút và khóa, hoặc đi giày?”

Cập nhật thông tin mới nhất về kiến thức y học và test y học tại facebook TEST Y HỌC

Tham gia nhóm zalo: Tài Liệu Y Học Tổng Hợp

Ôn thi nội trú, sau đại học TẠI ĐÂY

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Content is protected !!
All in one