CHƯƠNG III. BÀI 3:
HỘI CHỨNG THẬN HƯ
MỤC TIÊU
|
1. ĐẠI CƯƠNG
- Hội chứng thận hư là một hội chứng lâm sàng và sinh hóa, xuất hiện khi có tổn thương ở cầu thận do nhiều tình trạng bệnh lý khác nhau, đặc trưng bởi phù, protein niệu cao, protein máu giảm, rối loạn lipid máu và có thể đái ra mỡ.
- Hội chứng thận hư là một tình trạng bệnh lý trong đó thận bị tổn thương gây thoát protein từ máu ra nước tiểu. Thuật ngữ “thận hư” hay “hội chứng thận hư” đã được Friedrich Müller dùng lần đầu vào năm 1906 để gọi những bệnh thận có tổn thương mô bệnh học thận (trên hiển vi quang học) là thoái hóa dạng mỡ ở ống thận còn cầu thận trông bình thường không có các dấu hiệu viêm.
- Theo số liệu thống kê của tổ chức nghiên cứu bệnh thận trẻ em (ISKDC), đối với trẻ em dưới 16 tuổi, tần suất mới mắc HCTH là 20-50/1000000 trẻ/năm; tần suất mắc bệnh chung là khoảng 155/1000000 người. Tỷ lệ tử vong và biến chứng tùy thuộc rất nhiều vào type tổn thương mô bệnh học, có thể dao động từ dưới 15% đến trên 50% sau thời điểm khởi phát 20 năm.
- Theo thống kê của các nhà dịch tễ học Mỹ, đối với người trưởng thành, tần suất mới mắc HCTH hằng năm là khoảng 3/100000 người. Tần suất mắc bệnh chung ở người trưởng thành khó xác định chính xác do bệnh có thể do một số bệnh lý khác gây ra.
- Ở Việt Nam còn chưa có số liệu thống kê chính xác và đầy đủ về tình trạng bệnh lý này.
2. CƠ CHẾ BỆNH SINH
- Người ta cho rằng HCTH nguyên phát có cơ chế sinh bệnh học là sự rối loạn đáp ứng miễn dịch, nhưng bản chất chính xác của quá trình này còn chưa được hiểu biết đầy đủ. Kết quả nhiều nghiên cứu cho thấy có sự rối loạn chức năng của tế bào lympho. Một số bệnh nhân có protein mang điện tích dương trong huyết tương và các phân tử protein này có thể trung hòa điện tích âm trên thành mao mạch cầu thận. Một số tác giả lại nhận thấy có tình trạng giảm đáp ứng miễn dịch và cho rằng điều này có thể là do thay đổi số lượng hoặc chức năng tế bào lympho T.
- Vai trò của các cytokin có thể thay các cytokin, của hệ thống kinin, của leptin cũng được nghiên cứu. Gần đây hơn, người ta thấy sự thay đổi của các phân tử protein bộc lộ trên chân lồi của tế bào biểu mô tăng, đặc biệt là nephrin, podocin và α-actin cũng có vai trò gây xuất hiện protein niệu.
- Nhiều tác giả nghiên cứu còn nhận thấy tốc độ chết của tế bào lympho T trong máu theo chương trình bị tăng lên, và khả năng tự bảo vệ của cơ thể chống lại quá trình oxy hóa bị giảm. Rất hay gặp tình trạng tăng IgE trong máu và phản ứng dị ứng ở những bệnh nhân có đáp ứng với corticosteroid. Ngoài ra một số nghiên cứu còn thấy có vai trò của yếu tố di truyền trong cơ chế sinh học của HCTH nguyên phát.
- Trong điều kiện bình thường, thành mao mạch cầu thận làm nhiệm vụ của một màng lọc và còn có vai trò như một hàng rào ngăn cản các phân tử lớn từ huyết tương thoát ra nước tiểu. Màng lọc cầu thận được cấu tạo từ lớp tế bào nội mô, màng đáy cầu thận và lớp tế bào biểu mô tạng phía ngoài cùng với các chân vươn ra từ bào tương. Màng lọc mang điện tích âm từ 2 phía, bản thân màng đáy cầu thận cũng có điện tích âm.

Hình 3.2. Cấu trúc màng lọc cầu thận. Ep: tế bào biểu mô tạng; Ed: tế bào nội mô; MC: tế bào gian mạch; CL: lòng mao mạch; US: khoang niệu.
- Đối với bệnh nhân thận hư, tính thấm thành mao mạch cầu thận đối với albumin bị tăng lên một cách chọn lọc. Có ít nhất là 2 giả thuyết để giải thích cho hiện tượng tăng tính thấm chọn lọc với albumin này của mao mạch cầu thận. Giả thuyết thứ nhất là sự thay đổi về thành phần tạo điện tích âm của màng đáy cầu thận. Giả thuyết thứ hai là sự thay đổi kích thước các khe lọc, do hiện tượng co kéo, mất các chân của tế bào biểu mô tạng. Ngoài ra có thể còn có vai trò trung gian của cầu thận.
- Khi mất nhiều albumin qua nước tiểu, hậu quả là gây giảm albumin máu dẫn đến tình trạng giảm áp lực keo huyết tương. Nước thoát ra khỏi lòng mạch gây phù và làm giảm thể tích tuần hoàn hiệu dụng. Tình trạng này về mặt lý thuyết sẽ gây giảm lưu lượng máu tưới cho thận và hoạt hóa hệ thống renin-angiotensin, phối hợp với tăng tổng hợp và tiết hormon chống bài niệu (ADH) gây tăng tái hấp thu Na và nước ở ống thận, kết quả là gây hiện tượng giữ nước, đái ít và phù tăng, có thể kèm các rối loạn khác về nước và điện giải.
- Tuy nhiên, nhiều dữ liệu thực nghiệm lại không ủng hộ hoàn toàn quan niệm truyền thống này. Người ta thấy rằng không phải lúc nào cũng có hiện tượng giảm thể tích huyết tương, ngược lại rất nhiều bệnh nhân thận hư có tăng thể tích huyết tương, nhất là ở người trưởng thành. Thường chỉ các bệnh nhân bị bệnh cầu thận thay đổi tối thiểu mới có tình trạng giảm thể tích huyết tương. Nhiều nghiên cứu khác không thấy hiện tượng tăng nồng độ renin, angiotensin hay aldosteron ngay cả trong giai đoạn giữ Na rất nặng. Các biện pháp ức chế tác dụng của renin nhiều khi không hạn chế được tình trạng tái hấp thu Na. Và bên cạnh đó, trên thực tế, các bệnh nhân đáp ứng với corticosteroid bắt đầu có tăng bài niệu trước khi albumin máu tăng đáng kể và trước khi áp lực keo huyết tương có thay đổi. Nhiều nghiên cứu nhận thấy đáp ứng với peptid bài niệu tâm nhĩ (ANP) của bệnh nhân thận hư bị giảm hoặc mất mặc dù nồng độ ANP trong huyết tương có thể cao hơn bình thường. Như vậy có rất nhiều yếu tố tham gia vào quá trình gây phù và duy trì tình trạng phù ở bệnh nhân thận hư.
- Tình trạng rối loạn lipid rất thường gặp ở bệnh nhân thận hư, chủ yếu là tăng cholesterol, triglycerid và lipoprotein(a) máu ở các mức độ khác nhau. Trước đây người ta cho rằng cholesterol máu tăng là do gan tăng tổng hợp lipoprotein chứa apolipoprotein B và cholesterol để bù trừ cho tình trạng giảm áp lực keo huyết tương. Tuy nhiên, sự lý giải này cũng chưa thỏa đáng vì các phân tử lipoprotein lại quá lớn để làm tăng được áp lực keo huyết tương. Dựa trên các kỹ thuật đo thể thực hiện được gần đây người ta nhận thấy tình trạng tăng cholesterol chủ yếu là do giảm quá trình dị hóa chứ không phải do tăng quá trình tổng hợp ở gan. Tình trạng tăng triglycerid máu ở bệnh nhân thận hư cũng có liên quan đến vấn đề rối loạn chuyển hóa và có thể là do mất một chất điều hòa chuyển hóa lipid nào đó qua nước tiểu.
3. NGUYÊN NHÂN
- Người ta chia HCTH ra làm 2 nhóm theo nguyên nhân gây bệnh, đó là HCTH nguyên phát, có nguyên nhân là các bệnh lý cầu thận nguyên phát; và HCTH thứ phát, có nguyên nhân là các bệnh lý khác.
- Nguyên nhân gây HCTH nguyên phát bao gồm:
- Bệnh cầu thận thay đổi tối thiểu, là nguyên nhân gây HCTH thường gặp nhất ở trẻ em.
- Viêm cầu thận màng, là nguyên nhân gây HCTH thường gặp nhất ở người trưởng thành tại các nước đang phát triển.
- Xơ hóa cầu thận ổ – cục bộ.
- Viêm cầu thận màng tăng sinh.
- Viêm cầu thận tăng sinh gian mạch.
- Viêm cầu thận tăng sinh ngoại mạch.
- Bệnh thận IgA.
- Nhóm nguyên nhân gây HCTH thứ phát thường gặp là:
- Các bệnh lý di truyền, như hội chứng Alport, HCTH bẩm sinh, bệnh hồng cầu hình liềm, sốt Địa Trung Hải có tính chất gia đình.
- Các bệnh lý chuyển hóa, như đái tháo đường, bệnh thận thoái hóa bột.
- Các bệnh lý tự miễn, như lupus ban đỏ hệ thống, ban Schonlein-Henoch, viêm mạch.
- Các bệnh ác tính, như đa u tủy xương; ung thư phổi, đại tràng, vú và dạ dày, leucemia, u lympho.
- Các bệnh nhiễm trùng, như nhiễm vi khuẩn (viêm nội tâm mạc, giang mai, lao), virus (HIV, viêm gan B, C), ký sinh trùng (sốt rét, sán máng).
- Các nguyên nhân khác, như thuốc, độc tố, sử dụng heroin, có thai, thải ghép.
4. TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG
Bệnh nhân thường đến viện với dấu hiệu phù tăng nhanh trong vài ngày hay vài tuần, mệt mỏi, kém ăn, cảm giác yếu và đôi khi có đau bụng. Các đợt bệnh có thể xuất hiện sau nhiễm trùng đường hô hấp trên.
4.1. Phù
Phù là triệu chứng gặp ở hầu hết các bệnh nhân thận hư, đầu tiên là ở mặt và hai chân, sau đó trở thành phù toàn thân mức độ nhiều hoặc có thể rất nhiều (có kèm tràn dịch đa màng). Phù trắng, mềm, biểu hiện rõ vùng thấp, không đau. Đôi khi có thể có phù não. Những trường hợp có biến chứng huyết khối tĩnh mạch có phù không đối xứng.
4.2. Đái ít
Đái ít hay gặp ở bệnh nhân thận hư, thường dưới 500 ml/ngày.
4.3. Tăng huyết áp, đái máu, suy thận cấp
Có thể gặp ở một số ít bệnh nhân thận hư nhưng hiếm gặp ở nhóm bệnh nhân có thay đổi tối thiểu cầu thận, hay gặp hơn ở nhóm bệnh nhân có xơ cầu thận ổ-cục bộ, viêm cầu thận màng và viêm cầu thận màng-tăng sinh (có thể tới 50% các trường hợp).
Một số bệnh nhân có thiếu máu, có thể là do suy giảm chức năng thận, ngoài ra còn có thể do suy dinh dưỡng vì mất nhiều protein qua nước tiểu kéo dài và mất protein mang nguyên liệu để sản xuất hồng cầu.
4.4. Xét nghiệm nước tiểu
Xét nghiệm nước tiểu thấy protein niệu cao, trên 3,5 g/24 giờ/1,73 m²; protein niệu có thể rất cao, có khi đến 30-40 g/24 giờ. Có thể thấy trụ mỡ trong nước tiểu. Ngoài việc định lượng protein niệu 24 giờ, người ta có thể lấy protein/creatinin trong 1 mẫu nước tiểu bất kỳ vì chỉ số này tương quan với lượng protein niệu 24 giờ, nhờ đó có thể tránh được sai lạc trong quá trình thu thập nước tiểu.
Một số bệnh nhân có hồng cầu và trụ (trụ trong, trụ hạt, trụ mỡ…) trong nước tiểu; Na niệu giảm, có thể dưới 20 mEq/lít.
4.5. Xét nghiệm máu
Có protein máu giảm dưới 60 g/lít, albumin máu giảm dưới 30 g/l. Albumin máu thường giảm nặng ở những bệnh nhân có phù to tăng nhanh. Điện di protein máu thường thấy tăng tỷ lệ alpha2-globulin.
4.6. Lipid máu
Rối loạn là triệu chứng rất thường gặp ở bệnh nhân thận hư, điển hình là tăng cholesterol và triglycerid máu, thành phần HDL-C thường ở giới hạn bình thường hoặc giảm. Tình trạng rối loạn lipid máu thường được điều chỉnh khi HCTH hồi phục (tự phát hay do thuốc).
4.7. Rối loạn điện giải
Hay gặp là hiện tượng giảm Na máu, thường do thừa nước khi có phù to.
4.8. Công thức máu
Có chỉ số hồng cầu, hemoglobin, hematocrit thường giảm, máu lắng thường tăng, tuy nhiên một số trường hợp có tăng số lượng các tế bào máu do hiện tượng cô đặc máu, nhất là ở nhóm bệnh nhân có thay đổi tối thiểu cầu thận.
5. CHẨN ĐOÁN XÁC ĐỊNH
Tiêu chuẩn chẩn đoán HCTH bao gồm:
- Phù.
- Protein niệu > 3,5 g/24 giờ/1,73 m² diện tích bề mặt cơ thể.
- Protein máu giảm dưới 60 g/lít, albumin máu giảm dưới 30 g/lít.
- Tăng cholesterol máu ≥ 6,5 mmol/l.
- Có hạt mỡ lưỡng chiết, trụ mỡ trong nước tiểu.
Trong đó tiêu chuẩn 2 và 3 là bắt buộc, các tiêu chuẩn khác có thể không đầy đủ.
6. CÁC THỂ BỆNH TRÊN LÂM SÀNG
Tùy theo các đặc điểm lâm sàng người ta có thể chia thành HCTH đơn thuần (không kèm biến chứng) và HCTH kèm biến chứng.
Tùy theo các dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng người ta chia HCTH thành:
- HCTH thể thuần khiết: khi có protein niệu chọn lọc; không có đái máu, tăng huyết áp hoặc suy thận kèm theo.
- HCTH thể không thuần khiết: khi protein niệu là không chọn lọc, có đái máu và/hoặc tăng huyết áp và/hoặc suy thận kèm theo.
7. MỘT SỐ TỔN THƯƠNG MÔ BỆNH HỌC
Mặc dù biểu hiện lâm sàng của HCTH đều tương tự như nhau nhưng các tổn thương mô bệnh học lại rất đa dạng và ở nhiều mức độ. Dựa vào tổn thương mô bệnh học cầu thận, có thể phân loại HCTH thành các type chính như sau:
7.1. Bệnh cầu thận thay đổi tối thiểu
Trên hiển vi quang học cầu thận trông có vẻ bình thường, trên hiển vi miễn dịch huỳnh quang không có lắng đọng các phức hợp miễn dịch (hoặc chỉ rất nhẹ ở một số ít bệnh nhân). Các tổn thương cầu thận quan sát được trên kính hiển vi điện tử gồm có hiện tượng mất chân của tế bào biểu mô tạng và mất khe lọc, bề mặt các tế bào biểu mô tiếp xúc trực tiếp với màng đáy cầu thận và các tế bào này thường bị phù nề, phì đại.
7.2. Xơ hóa cầu thận ổ – cục bộ hoặc lan tỏa
Trên hiển vi quang học có thể thấy tổn thương ở một phần cầu thận, khu trú ở một số cầu thận hoặc lan tỏa ở tất cả hoặc gần như tất cả các cầu thận. Các tổn thương chính bắt đầu ở vùng giới tụy và vỏ thận rồi lan dần về phía vỏ thận. Các mảnh xơ hóa thường nằm sát vùng rốn của bó mao mạch cầu thận. Khi bệnh tiến triển, số tiểu thùy bị tổn thương trong một cầu thận và số cầu thận bị tổn thương tăng lên. Dấu hiệu đặc trưng trên hiển vi miễn dịch huỳnh quang là lắng đọng C3 và IgM ở mảnh cầu thận bị tổn thương, đôi khi lan rộng ra cả khoảng gian mạch. Trên hiển vi điện tử, tổn thương chủ yếu là các quai mao mạch bị xẹp, màng đáy dày lên hoặc tách đôi, khoảng dưới nội mô và gian mạch giãn rộng.
7.3. Viêm cầu thận tăng sinh gian mạch
Trên hiển vi quang học thấy khoảng gian mạch rộng ra trong đó có tăng sinh tế bào một nhân đồng nhất (tế bào gian mạch). Có thể kèm theo tăng sinh chất nền gian mạch. Trên hiển vi miễn dịch huỳnh quang hay có các lắng đọng IgM và có thể cả C3 ở khoảng gian mạch. Trên hiển vi điện tử thường không thấy các lắng đọng đặc điện tử.
7.4. Viêm cầu thận màng
Trên hiển vi quang học thấy màng đáy dày lên lan tỏa (do các lắng đọng dưới biểu mô). Sau đó xuất hiện các gai nhú trong màng đáy ở vùng dưới biểu mô giữa các lắng đọng. Giai đoạn muộn hơn thấy các gai nhú dính với nhau phía trên các lắng đọng khiến màng đáy bị dày lên và trông giống dây xích. Thường không có tăng sinh tế bào. Hình ảnh điển hình quan sát được trên hiển vi miễn dịch huỳnh quang là các lắng đọng dạng hạt chủ yếu chứa IgG và C3 phân bố đều đặn dọc theo mao mạch cầu thận.
7.5. Viêm cầu thận màng – tăng sinh
Trên hiển vi quang học thấy các cầu thận hoặc gần như tất cả các cầu thận có dày thành mao mạch kết hợp tăng sinh tế bào và chất nền gian mạch ở các mức độ khác nhau, khiến cầu thận có cấu trúc tiểu thùy. Cầu thận nở to, khoảng gian mạch giãn rộng. Thường có liềm tế bào tăng sinh ngoại mạch phối hợp. Trên hiển vi miễn dịch huỳnh quang luôn thấy lắng đọng C3 dạng hạt thô không đồng đều ở khoảng gian mạch. Các lắng đọng có thể có dạng hạt, gồ hoặc đường thẳng dọc thành mao mạch và gian mạch. Trên hiển vi điện tử thấy khoảng gian mạch giãn rộng do tăng sinh tế bào, chất nền gian mạch và các lắng đọng đặc điện tử. Các lắng đọng đặc điện tử có thể nằm ở dưới nội mô hoặc dưới biểu mô.
7.6. Viêm cầu thận tăng sinh ngoại mạch
Trên hiển vi quang học thấy có nhiều type tế bào tăng sinh ở khoang niệu. Màng đáy mao mạch và màng Bowman có thể đứt đoạn. Bó mao mạch bị chèn ép, có chỗ bị…
