CHƯƠNG III. BÀI 2:
VIÊM CẦU THẬN CẤP SAU NHIỄM LIÊN CẦU
MỤC TIÊU
|
1. ĐẠI CƯƠNG
- Viêm cầu thận cấp (VCTC) là một hội chứng gặp ở nhiều bệnh lý có tổn thương viêm cấp cầu thận (xuất hiện trong vòng vài ngày hoặc vài tuần), liên quan đến đáp ứng miễn dịch của cơ thể đối với các tác nhân vi khuẩn hoặc không vi khuẩn. Tổn thương cầu thận có thể là nguyên phát, trong đó quá trình bệnh lý chỉ liên quan đến thận, hoặc là thứ phát khi có một bệnh lý toàn thân nào đó gây ảnh hưởng đến thận.
- Viêm cầu thận cấp sau nhiễm liên cầu (VCTCSNLC) là thể bệnh được hiểu biết rõ nhất, thường gặp ở nam giới hơn so với nữ giới (một số tác giả thống báo tỷ lệ nam/nữ là 2/1) và mặc dù có thể gặp ở mọi lứa tuổi, kể cả trẻ nhỏ, hầu hết các bệnh nhân ở độ tuổi 6-10 tuổi, chỉ có khoảng 10% bệnh nhân bị mắc bệnh ở độ tuổi trên 40. Hiện nay, VCTCSNLC chỉ chủ yếu gặp ở những vùng đang dân cư, nhà ở chật chội và điều kiện vệ sinh kém; tần suất mới mắc bệnh ngày càng giảm ở các nước phát triển (Bắc Mỹ, Trung Âu và Tây Âu…). Ở các nước nhiệt đới, VCTCSNLC thường liên quan đến nhiễm trùng da, còn ở các nước có khí hậu ôn hòa, tình trạng bệnh lý này thường đi kèm nhiễm khuẩn hầu họng.
- Viêm cầu thận cấp nói chung và đặc biệt là VCTCSNLC có thể hồi phục, tuy nhiên trong quá trình tiến triển ở một số trường hợp có thể chuyển thành các hội chứng khác, như viêm cầu thận tiến triển nhanh, viêm cầu thận mạn, hội chứng thận hư. Trong quá trình hồi phục, nhiều trường hợp có thể chuyển thành dạng có protein niệu và hồng cầu niệu không triệu chứng.
- Các chủng liên cầu thường gây VCTC là liên cầu tan huyết β nhóm A, hay gặp type 12 và một số type khác như 1, 2, 4, 3, 18, 25, 49 sau nhiễm trùng đường hô hấp trên, và type 47, 49, 55, 57, 2 và 60 sau nhiễm trùng ngoài da.
- Ngoài liên cầu nhóm A còn có các vi khuẩn khác như một số cầu khuẩn, song cầu khuẩn, Mycobacteria, Salmonella typhosa, Brucella suis, Treponema pallidum, Corynebacterium bovis, Actinobacilli. Một số virus (Cytomegalovirus, Epstein-Barr virus, viêm gan B, sởi, quai bị), nấm hay ký sinh trùng (Coccidioides immitis, sốt rét, Schistosoma mansoni, Toxoplasma gondii, giun chỉ, Trichinosis, Trypanosome) cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến VCTC. Viêm cầu thận cấp còn có thể gặp ở các bệnh nhân có áp xe nội tạng, viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn, các vật ghép hay shunt mạch máu nhiễm trùng, viêm phổi… Các bệnh hệ thống như lupus ban đỏ hệ thống, ban dạng thấp Schönlein-Henoch, hội chứng urê máu tan máu, cryoglobulinemia, viêm mạch hoại tử, hội chứng Goodpasture, bệnh Wegener, viêm quanh động mạch nút; các bệnh thận nguyên phát như bệnh thận IgA, viêm cầu thận màng tăng sinh, viêm cầu thận tiến triển nhanh vô căn cũng là những nguyên nhân gây VCTC thường gặp và cần phải phân biệt với VCTCSNLC.
2. CƠ CHẾ SINH BỆNH HỌC
- Tùy các biểu hiện lâm sàng, sinh học, hình thái học của VCTCSNLC gợi ý rằng đây là một tình trạng bệnh lý liên quan đến các phức hợp miễn dịch, bản chất chính xác của sự tương tác kháng nguyên-kháng thể hiện còn chưa được biết rõ. Hầu hết các dạng viêm cầu thận cấp sau nhiễm liên cầu xảy ra qua trung gian miễn dịch, với sự tham gia của cả đáp ứng miễn dịch tế bào và dịch thể. Có 2 giả thuyết về cơ chế sinh bệnh học của VCTCSNLC bao gồm: 1) Các phức hợp miễn dịch được hình thành trong hệ thống tuần hoàn và lưu hành trong máu đến cầu thận rồi bị mắc lại ở cầu thận; 2) Các phức hợp kháng nguyên – kháng thể được hình thành tại chỗ ở cầu thận và có thể tương tác với các thành phần của vi khuẩn hoặc với chính các thành phần của cầu thận bởi chúng có cấu trúc phân tử tương tự. Các phức hợp miễn dịch kháng nguyên liên cầu hoạt động ở cầu thận. Một số phức hợp miễn dịch có thể gây đáp ứng tạo kháng thể đặc hiệu và kéo dài. Các chủng liên cầu khuẩn cũng sản xuất ra các protein có nhóm quyết định kháng nguyên đặc hiệu. Các nhóm quyết định kháng nguyên này có ái lực đặc biệt với một số vị trí trên cầu thận bình thường. Theo dòng máu, các kháng nguyên sẽ gắn với những vị trí nội trú tại cầu thận và gây hoạt hoá bổ thể.
- Các kháng thể của cầu thận đã gắn với kháng nguyên liên cầu cũng trở thành các kháng nguyên cố định và gắn với các kháng thể kháng liên cầu trong dòng máu để tạo thành phức hợp miễn dịch. Quá trình cố định bổ thể theo con đường kinh điển tạo ra thêm các chất trung gian gây viêm và các tế bào viêm.
- Bên cạnh việc gây tổn thương viêm tại chỗ trên màng đáy cầu thận, các PHMD còn có thể đi qua màng đáy bị tổn thương tới khoang dưới biểu mô. Trong thành của các PHMD này thường hay có IgG, C3, properdin và C5, chứng tỏ quá trình hoạt hóa bổ thể trong VCTCSNLC thường qua con đường tắt chứ không phải theo con đường kinh điển. Các PHMD lưu hành trong máu ở pha cấp giai đoạn bệnh sớm khác với PHMD lắng đọng tại cầu thận.
- Một số cơ chế khác không qua trung gian miễn dịch cũng có thể có liên quan đến VCTCSNLC, như đáp ứng miễn dịch muộn, siêu kháng nguyên, tình trạng tự miễn.
3. BIỂU HIỆN LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG
3.1. Triệu chứng lâm sàng
– Đối với viêm cầu thận cấp sau nhiễm liên cầu khuẩn, thời gian bị bệnh tiềm tàng có thể kéo dài tới 3 tuần trước khi có dấu hiệu khởi phát. Thời gian này thường là 1-3 tuần sau nhiễm khuẩn hầu họng (trung bình 10 ngày), 3-6 tuần sau nhiễm khuẩn ngoài da (trung bình 2 tuần). Nếu các dấu hiệu lâm sàng của viêm cầu thận cấp xuất hiện trong vòng 1-4 ngày sau khi nhiễm liên cầu thì thường là bệnh nhân đã có bệnh thận từ trước.
– Các biểu hiện lâm sàng thường xuất hiện đột ngột, bệnh nhân thường đến khám bệnh với một số triệu chứng không điển hình như mệt mỏi, chán ăn, sốt, đau bụng, đau lưng và với các dấu hiệu đặc trưng của viêm cầu thận cấp gồm:
- Đái máu đại thể (nước tiểu đỏ sẫm), nhưng thường chỉ gặp ở khoảng 30% các trường hợp.
- Số lượng nước tiểu giảm.
- Phù toàn thân.
- Đau đầu, mờ mắt thường liên quan đến tăng huyết áp.
- Các biểu hiện ở giai đoạn muộn có thể gặp là:
-
- Co giật, lú lẫn, ngủ gà.
- Buồn nôn, nôn, dễ chảy máu, ho, khó thở.
- Đau lưng, tăng huyết áp.
– Khám lâm sàng thường phát hiện thấy:
- Phù: là triệu chứng thường gặp nhất, thường nhìn thấy rõ ở mặt, mi mắt, tay, chân, một số trường hợp có phù toàn thân và có thể có dịch ở các màng.
- Nghe phổi có thể có ran ẩm.
- Tăng huyết áp, gặp ở khoảng 80% các bệnh nhân.
- Đái máu đại thể.
- Tăng cân.
- Thiểu niệu hoặc vô niệu.
– Các dấu hiệu khác, như rối loạn ý thức, nôn, rối loạn thị giác, co giật, thậm chí hôn mê do tăng huyết áp có tổn thương não, nhiễm khuẩn đường hô hấp, các vết lở ngoài da, ban ngoài da.
– Đối với VCTCSNLC, cần lưu ý rằng không phải tất cả các bệnh nhân đều có biểu hiện lâm sàng điển hình rõ rệt, có rất nhiều trường hợp chỉ biểu hiện ở mức độ nhẹ và còn nhiều trường hợp có biểu hiện tiềm tàng kín đáo. Con số này có thể nhiều gấp 4-5 lần so với số bệnh nhân có biểu hiện lâm sàng rõ. Do vậy số lượng bệnh nhân thường không được đánh giá đúng mức, nhất là khi có vụ dịch. Thông thường các biểu hiện lâm sàng sẽ giảm dần rồi mất sau chừng 2 tuần.
3.2. Triệu chứng cận lâm sàng
– Xét nghiệm nước tiểu có protein số lượng vừa đến nhiều, thường là protein niệu không chọn lọc, 2-3g/ngày. Protein niệu có thể đạt mức thận hư nhưng hiếm gặp, và đây là một dấu hiệu tiên lượng xấu hơn về lâu dài. Ngoài ra còn có tế bào ống thận, hồng cầu (chủ yếu là hồng cầu biến dạng), trụ, có thể có trụ hồng cầu.
– Xét nghiệm máu:
- Thường gặp thiếu máu mức độ nhẹ (có thể liên quan đến tình trạng hoà loãng); nitơ phi protein (urê, creatinin) máu bình thường hoặc tăng tuỳ theo tình trạng suy thận.
- Kháng thể kháng liên cầu tăng ở hầu hết các bệnh nhân viêm cầu thận cấp sau nhiễm liên cầu khuẩn.
- Antistreptolysin O (ASLO) có hiệu giá tăng ở khoảng 60-80% bệnh nhân, bắt đầu tăng trong vòng 1-3 tuần đầu, đạt tối đa sau 3-5 tuần và giảm dần về trị số bình thường sau 6 tháng.
- Các kháng thể lưu hành khác cũng có thể có mặt: antistreptokinase (ASK), antihyaluronidase (AH), antinicotinamide-adenine dinucleotide (antiNAD), antideoxyribonuclease B (anti DNA B).
- Có thể có rối loạn điện giải (tăng K máu, giảm Na máu).
Giảm mức lọc cầu thận.
Các xét nghiệm thăm dò khác có thể giúp phát hiện ra nguyên nhân gây viêm cầu thận cấp là:
- Cấy dịch họng hoặc ngoài da.
- Cấy máu khi có sốt cao.
- Bổ thể máu (CH50, C3) giảm ở khoảng 90% bệnh nhân và thường quay trở về trị số bình thường sau khoảng 6 tuần. Nếu sau đó bổ thể máu vẫn tiếp tục giảm thì gợi ý nguyên nhân khác.
– Chẩn đoán hình ảnh: X-quang phổi, CT ổ bụng, siêu âm… không cho hình ảnh đặc hiệu. Có thể thấy hình ảnh trụ dịch trên phim X-quang. Siêu âm có thể thấy kích thước thận tăng nhẹ và tăng âm nhẹ nhu mô thận.
– Sinh thiết thận là tiêu chuẩn vàng giúp chẩn đoán, tuy nhiên thường được chỉ định trong trường hợp có biểu hiện bất thường cần chẩn đoán phân biệt, chẳng hạn như có bổ thể máu trong giới hạn bình thường ở pha cấp hoặc bổ thể máu giảm kéo dài hơn 2 tháng, hội chứng thận hư, tăng huyết áp kéo dài trên 3-4 tuần, chức năng thận giảm kéo dài hoặc giảm nhanh gợi ý viêm cầu thận tăng sinh ngoại mạch và nhất là khi có các đợt đái máu rõ tái phát.
3.3. Tổn thương giải phẫu bệnh học
3.3.1. Đại thể
- Hai thận to hơn bình thường, có khi to gấp rưỡi bình thường.
3.3.2. Vi thể
- Cầu thận bị tổn thương viêm cấp tính do sự tấn công của các phức hợp miễn dịch được hình thành tại chỗ hay lắng đọng trong cầu thận.
- Đối với VCTCSNLC, hình ảnh tổn thương mô bệnh học đặc trưng trên hiển vi quang học là viêm cầu thận tăng sinh tế bào lan tỏa. Cầu thận căng to do phù nề và xâm nhiễm các tế bào bạch cầu đa nhân và tế bào mono trong bộ mao mạch, tăng sinh tế bào nội mô và tế bào gian mạch cầu thận. Trên hiển vi miễn dịch huỳnh quang thấy có các lắng đọng globulin miễn dịch (IgG) và bổ thể (C3) tại các quai mao mạch và khoảng gian mạch cầu thận. Tuy nhiên trong một số trường hợp không thấy có lắng đọng IgG, hoặc có lắng đọng các thành phần miễn dịch khác như C4, fibrinogen, properdin.
- Hình ảnh đặc trưng trên hiển vi điện tử là các lắng đọng đặc điện tử lớn hình gò giống bướu lạc đà (là các thành phần miễn dịch bị lắng đọng dưới biểu mô). Đôi khi còn có các lắng đọng dưới nội mô và trong khoảng gian mạch cầu thận.
4. CHẨN ĐOÁN
4.1. Chẩn đoán xác định
Dựa vào tiền sử nhiễm khuẩn hầu họng hoặc ngoài da, thời điểm khởi phát sau nhiễm liên cầu 1-3 tuần, các dấu hiệu lâm sàng gồm đái máu, phù, đái ít, tăng huyết áp; xét nghiệm nước tiểu có protein và hồng cầu (biến dạng), xét nghiệm máu có giảm bổ thể, tăng kháng nguyên kháng liên cầu và hình ảnh điển hình trên mô bệnh học là tăng sinh lan tỏa tế bào nội mô và gian mạch, xâm nhiễm tế bào bạch cầu đa nhân và mono trong bộ mao mạch; các lắng đọng đặc điện tử hình gò giống bướu lạc đà dưới biểu mô, dưới nội mô và trong khoảng gian mạch cầu thận.
4.2. Chẩn đoán phân biệt
VCTC không do liên cầu, VCTC do các bệnh hệ thống, bệnh thận IgA, viêm cầu thận màng – tăng sinh, viêm cầu thận tăng sinh ngoại mạch, đợt cấp của viêm cầu thận mạn tính.
5. ĐIỀU TRỊ VÀ THEO DÕI
5.1. Điều trị
- Phần lớn bệnh nhân, đặc biệt là trẻ em, có tiên lượng tốt và hồi phục, chỉ cần điều trị hỗ trợ. Các thuốc corticosteroid và ức chế miễn dịch thường không hiệu quả, đôi khi còn gây tác hại cho người bệnh.
- Đối với những bệnh nhân còn có dấu hiệu nhiễm trùng do liên cầu khuẩn, cần cho kháng sinh diệt liên cầu. Có thể dùng penicillin cho những bệnh nhân không bị dị ứng với penicillin. Tuy nhiên cần lưu ý rằng việc sử dụng kháng sinh sớm không tác động được vào quá trình tiến triển của viêm cầu thận cấp sau nhiễm liên cầu. Một số ý kiến cho rằng có thể dùng kháng sinh penicillin dự phòng cho những người có nguy cơ khi có dịch hoặc những người thân sống gần gũi với trường hợp chỉ điểm bị mắc bệnh, tuy nhiên các dữ liệu về dịch tễ học tỏ ra không ủng hộ quan điểm này.
- Bệnh nhân nên nghỉ ngơi tại giường trong pha cấp, cần áp dụng chế độ ăn hạn chế muối, nước, và kali cho đến khi nào không còn phù, tăng huyết áp hay tăng nitơ phi protein máu nữa. Các bệnh nhân có tăng nitơ phi protein máu và có nhiễm toan chuyển hóa còn cần ăn chế độ hạn chế protein. Cần tránh hoạt động thể lực mạnh do điều này có thể làm tăng protein niệu, đái ra máu và trụ niệu.
- Dùng thuốc hạ áp khi có tăng huyết áp. Đối với những trường hợp tăng huyết áp nặng, thông thường các thuốc hạ áp nhóm chẹn kênh calci và giãn mạch ngoại vi thường được lựa chọn sử dụng vì các bệnh nhân viêm cầu thận cấp thường có hoạt tính renin huyết tương giảm thấp, tuy nhiên trong thực tế các thuốc nhóm ức chế men chuyển angiotensin vẫn có thể hiệu quả hạ áp tốt và thường được sử dụng phối hợp với các thuốc lợi tiểu và giãn mạch ngoại vi.
- Các bệnh nhân có ứ trệ tuần hoàn và/hoặc phù phổi ngoài việc hạn chế muối, nước còn có dùng thuốc lợi tiểu (nhóm lợi tiểu quai như furosemid), hỗ trợ hô hấp khi cần thiết, có thể áp dụng một số biện pháp điều trị không lọc máu cho các bệnh nhân phù phổi như nitrat cấp oxy, dùng morphin, garô luân phiên các chi. Đối với trẻ em cần cân nhắc tính độc của lợi tiểu so với hiệu quả điều trị. Nếu có tăng kali máu ở mức nguy hiểm, có dấu hiệu lâm sàng của suy thận cấp nặng, nhất là khi bệnh nhân thiểu niệu – vô niệu cần chỉ định lọc máu sớm. Các thuốc trợ tim nhóm digitalis tỏ ra không hiệu quả và kèm theo nguy cơ bị ngộ độc.
5.2. Theo dõi
Đối với các bệnh nhân có tiến triển thuận lợi tình trạng phù có thể hết sau 5-10 ngày, huyết áp trở về giới hạn bình thường sau đó 2-3 tuần. Protein trong nước tiểu thường hết sau 2-3 tháng, nhưng cũng có thể tồn tại tới 6 tháng. Một số trường hợp còn những đợt protein niệu thoáng qua trong khoảng 1-2 năm sau khi mắc bệnh. Đái máu đại thể thường hết sau 1-3 tuần, nhưng đái máu vi thể có thể kéo dài đến 6 tháng, thậm chí vài năm. C3 huyết thanh trở về trị số bình thường sau 8-10 tuần. Việc theo dõi cho bệnh nhân bao gồm:
- Ngoài việc khám lâm sàng định kỳ, nên cho các bệnh nhân làm xét nghiệm nước tiểu tối thiểu 2 tuần một lần trong 2 tháng đầu, tiếp đó 4-6 tuần một lần cho đến hết 6 tháng, và 3-6 tháng một lần cho đến 1 năm hoặc đến khi không còn protein và hồng cầu trong nước tiểu, huyết áp trở về bình thường. Nếu kết quả xét nghiệm bình thường có thể ngừng các xét nghiệm theo dõi sau đó. Tuy nhiên, các dấu hiệu bất thường trong nước tiểu (ví dụ đái máu vi thể) có thể tồn tại nhiều năm.
- Xét nghiệm theo dõi creatinin máu sau 2 tháng, 6 tháng và 12 tháng.
- Theo dõi huyết áp.
5.3. Biến chứng
- Tiến triển đến xơ cầu thận. Mặc dù điều này hiếm khi xảy ra đối với các trường hợp bệnh diễn tiến điển hình nhưng có tới 2% số bệnh nhân bị tiến triển đến suy thận mạn tính do xơ cầu thận và suy thận giai đoạn cuối sau một thời gian tương đối ngắn.
- Suy thận cấp nặng, cũng hiếm gặp.
- Suy thận mạn tính.
- Hội chứng thận hư.
- Các biến chứng khác chủ yếu liên quan đến tổn thương các cơ quan đích ở hệ thần kinh trung ương, hệ thống tim mạch và hô hấp như:
- Tổn thương võng mạc do tăng huyết áp.
- Tổn thương não do tăng huyết áp: rất hiếm gặp.
- Suy tim sung huyết: thường gặp ở người có tuổi nhiều hơn so với trẻ em.
- Phù phổi khi có thừa dịch nhiều.
5.4. Tiên lượng
- Đối với viêm cầu thận cấp sau nhiễm liên cầu, tiên lượng lâu dài nói chung là tốt; có tới trên 98% số bệnh nhân không còn triệu chứng sau 5 năm, chỉ khoảng 1-3% số bệnh nhân chuyển thành suy thận mạn tính.
- Trẻ em có tiên lượng tốt hơn người trưởng thành và thường hồi phục hoàn toàn, hiếm khi có biến chứng hoặc tiến triển đến viêm cầu thận mạn tính.
- Người trưởng thành, đặc biệt là người cao tuổi, hồi phục thường chậm hơn và không hoàn toàn. Mặc dù tái phát rất hiếm gặp, có tới 1/3 số bệnh nhân này sẽ tiến triển đến suy thận giai đoạn cuối về sau. Những bệnh nhân có biến chứng tăng huyết áp, hô hấp hoặc thần kinh trung ương có tiên lượng xấu hơn, thậm chí có thể tử vong. Dấu hiệu cảnh báo bệnh thận mạn tính là sự mất protein và hồng cầu trong nước tiểu trên 12 tháng. Do vậy cần có chiến lược theo dõi dài hạn cho các bệnh nhân VCTCSNLC.
Cập nhật thông tin mới nhất về kiến thức y học và test y học tại facebook TEST Y HỌC
Tham gia nhóm zalo: Tài Liệu Y Học Tổng Hợp
Ôn thi nội trú, sau đại học TẠI ĐÂY
