Bài 21
MIỆNG VÀ THỰC QUẢN
MỤC TIÊU1. Trình bày được các giới hạn và cách phân chia ổ miệng; mô tả được các thành trên (vòm miệng), dưới (sàn miệng chứa lưỡi) và trước – bên (cung răng – lợi) của ổ miệng chính, và các cặp tuyến nước bọt lớn đổ vào ổ miệng. 2. Mô tả được các giới hạn, kích thước, đường đi – liên quan và cấu tạo của thực quản. 3. Nêu được các liên hệ chức năng và lâm sàng thích hợp. |
1. MIỆNG
Miệng là phần đầu của hệ tiêu hoá. Những cấu trúc hợp nên miệng bao gồm ổ miệng, các tuyến nước bọt, răng và lưỡi. Môi, má, khẩu cái và lợi là những cấu trúc thuộc ổ miệng.

Hình 21.1. Thăm khám ổ miệng
1.1. Ổ miệng
Các cung răng chia ổ miệng thành hai phần: phần trước cung là tiền đình miệng và phần sau cung là ổ miệng chính.
1.1.1. Tiền đình miệng
Tiền đình được giới hạn ở bên ngoài bởi các môi và má và ở bên trong bởi lợi và răng, thông với bên ngoài qua khe miệng. Ở trên và dưới, tiền đình được giới hạn bởi đường lật của niêm mạc từ môi và má lên lợi, tạo nên một vòm hình móng ngựa. Khi răng của hai hàm áp nhau, nó thông với ổ miệng chính thức qua những khe nằm ở phía sau các răng cối thứ ba.
– Các môi trên và dưới là hai nếp thịt bao quanh khe (lỗ) miệng. Chúng được lót ở mặt ngoài bằng da và ở mặt trong bằng niêm mạc; các lớp lót này bao quanh cơ vòng miệng, các mạch máu và thần kinh môi, mô xơ – mỡ và nhiều tuyến nước bọt nhỏ đổ dịch tiết vào tiền đình miệng. Hai mỗi gặp nhau tại các mép môi; các mép môi là những giới hạn bên của khe (lỗ) miệng và tạo nên các góc miệng. Rãnh dọc ở giữa mặt da của môi trên được gọi là nhân trung. Mặt trong của mỗi môi có một nếp niêm mạc nối với lợi gọi là hãm môi.
– Má tạo nên thành bên của miệng, liên tiếp với môi ở phía trước. Nó được cấu tạo từ nông vào sâu bằng da, các cơ vân (cơ mút, cơ gò má lớn, cơ cười, cơ bám da cổ…) và niêm mạc. Giữa cơ và niêm mạc có thể mỡ má. Ống tuyến nước bọt mang tai đổ vào mặt trong của má bằng một lỗ ở đối diện với răng cối thứ hai hàm trên.

Hình 21.2. Trần ổ miệng
1.1.2. Ổ miệng chính thức
Ổ miệng đích thực được giới hạn ở trước và hai bên bởi các cung huyệt răng, các răng và lợi; ở phía sau, nó thông với hầu qua eo họng. Trần của ổ miệng chính do khẩu cái cứng và khẩu cái mềm tạo nên; sàn miệng chủ yếu được tạo bởi phần trước của lưỡi, phần còn lại của sàn do niêm mạc từ lưỡi lật lên mặt trong xương hàm dưới tạo nên. Phần trước sàn miệng được nối với mặt dưới của lưỡi bởi một nếp niêm mạc gọi là hãm lưỡi. Ở mỗi bên của đầu dưới hãm lưỡi có một nhú niêm mạc gọi là cục dưới lưỡi, nơi mà ống tuyến dưới hàm đổ vào ổ miệng.
– Lợi là một lớp mô mềm trùm phủ các cung huyệt răng; nó được cấu tạo bằng mô sợi và được phủ bởi thượng mô lát tầng. Lợi gồm hai phần: phần tự do bao quanh cổ răng và phần dính chặt vào các cung huyệt răng xương hàm trên và xương hàm dưới. Ở gần răng, niêm mạc trên mặt tiền đình của lợi tạo thành những nhú cao gọi là nhú lợi.
– Khẩu cái hay vòm miệng gồm phần cứng cấu tạo bằng xương và phần mềm cấu tạo bằng cân – cơ, tất cả đều được phủ bằng niêm mạc.
+ Khẩu cái cứng do mỏm khẩu cái của xương hàm trên và mảnh ngang xương khẩu cái tạo nên.
+ Khẩu cái mềm là một vật mô mềm di động bám vào bờ sau khẩu cái cứng, tỏa xuống dưới và ra sau ở giữa các phần mũi và miệng của hầu. Ở giữa bờ sau của khẩu cái mềm có một mỏm gọi là lưỡi gà nhô xuống dưới. Ở mỗi bên của khẩu cái mềm có hai nếp niêm mạc chạy xuống: nếp trước là cung khẩu cái – lưỡi đi tới bờ bên của lưỡi tại chỗ nối giữa phần trước rãnh và phần sau rãnh của lưỡi, tạo nên các giới hạn bên của eo họng; nếp sau là cung khẩu cái – hầu đi tới thành bên của khẩu hầu. Giữa hai cung này là hố hạnh nhân chứa hạnh nhân khẩu cái.
1.1.3. Các tuyến nước bọt
Có hai loại tuyến nước bọt. Các tuyến nước bọt lớn là các cặp tuyến mang tai, tuyến dưới hàm và tuyến dưới lưỡi; chúng nằm ở tương đối xa niêm mạc miệng và dịch tiết của chúng được các ống ngoài tuyến dẫn tới ổ miệng. Các tuyến nước bọt nhỏ bao gồm các tuyến môi, các tuyến má, các tuyến khẩu cái và các tuyến lưỡi; chúng nằm trong niêm mạc hoặc lớp dưới niêm mạc và đổ dịch tiết của chúng trực tiếp vào niêm mạc hoặc gián tiếp qua nhiều ống ngắn.
Tuyến mang tai là tuyến nước bọt lớn nhất, nặng khoảng 25 gam, nằm dưới ống tai ngoài, giữa ngành xương hàm dưới và cơ ức – đòn – chũm. Tuyến mang tại bao gồm phần nông, phần sâu, một ống tuyến mang tai và một khối mô tuyến nhỏ tách rời gọi là tuyến mang tai phụ nằm trên mặt nông cơ cắn, ngay trên ống tuyến mang tai. Tuyến mang tai giống như một hình tháp với một đỉnh hướng xuống dưới, một đáy hướng lên trên và ba mặt là mặt nông, mặt trước trong và mặt sau trong. Đáy tuyến liên quan với phần sụn của ống tai ngoài và mặt sau của khớp thái dương hàm dưới. Mặt nông được che phủ bởi da và mô dưới da, nơi chứa các nhánh của thần kinh tai lớn và các hạch bạch huyết mang tại nông. Mặt trước – trong bị ấn lõm bởi bờ sau ngành xương hàm dưới; nó trùm lên phần sau – dưới cơ cắn và mặt ngoài khớp thái dương – hàm dưới. Mặt sau – trong tựa lên mỏm chũm, cơ ức – đòn – chũm, bụng sau cơ hai bụng, các cơ trâm và mỏm trâm; mặt này gặp mặt trước – trong tại bờ trong, nơi tuyến tiếp xúc với thành bên của hầu.
Một số cấu trúc đi qua tuyến mang tai và phân nhánh trong tuyến. Động mạch cảnh ngoài đi vào tuyến từ mặt sau – trong và phân chia ở trong tuyến thành các động mạch hàm trên và thái dương nông. Tĩnh mạch sau hàm dưới và các nhánh hợp nên nó (các tĩnh mạch thái dương nông và hàm trên) nằm nông hơn động mạch cảnh ngoài. Thần kinh mặt đi vào tuyến từ mặt sau – trong và là thành phần nằm nông nhất; nó chia thành các nhánh tận ở trong tuyến và các nhánh này rời khỏi tuyến tại bờ trước của tuyến.

Hình 21.3. Các tuyến nước bọt lớn
Ống tuyến mang tai: Với 5 cm chiều dài, ống này đi ra trước, bắt chéo cơ cắn và tại bờ trước cơ này thì hướng thẳng góc vào trong xuyên qua thể mỡ má và cơ mút. Cuối cùng, nó đổ vào mặt trong của má bởi một lỗ nhỏ đối diện với thân răng cối thứ hai hàm trên. Ống tuyến mang tai tương đương với một phần ba giữa của đường nối từ bờ dưới bình tại tới điểm giữa của đường nối cánh mũi và bờ môi trên.
Tuyến dưới hàm gồm phần nông (lớn hơn) và phần sâu liên tiếp với nhau quanh bờ sau cơ hàm móng. Đây là tuyến chủ yếu tiết thanh dịch.
Phần nông nằm trong tam giác dưới hàm và núp trong hố dưới hàm ở mặt trong xương hàm dưới. Nó được bao bọc giữa hai lá của mạc cổ và có ba mặt: mặt dưới, mặt ngoài và mặt trong. Mặt dưới được che phủ bởi da, cơ bám da cổ và mạc cổ, được bắt chéo bởi tĩnh mạch và nhánh cổ thần kinh mặt. Mặt ngoài tựa lên hố dưới hàm và chỗ bám tận của cơ chân bướm trong; động mạch mặt lách giữa mặt ngoài và chỗ bám vào xương hàm của cơ chân bướm trong để đi tới bờ dưới xương hàm dưới. Mặt trong liên quan với cơ hàm móng, thần kinh và các mạch cơ hàm móng, cơ móng lưỡi, thần kinh lưỡi và thần kinh hạ thiệt.
Phần sâu chạy ra trước đến đầu sau của tuyến dưới lưỡi; nó nằm giữa cơ hàm – móng ở phía dưới – ngoài và cơ trâm – lưỡi và cơ móng – lưỡi ở phía trong. Thần kinh lưỡi đi trên phần sâu trong khi thần kinh hạ thiệt đi ở dưới.
Ống tuyến dưới hàm: Với chiều dài khoảng 5 cm, ống tuyến dưới hàm thoát ra từ đầu trước của phần sâu. Nó chạy ra trước dọc bờ bên của lưỡi, dưới niêm mạc sàn miệng. Nó bị thần kinh lưới bắt chéo ở mặt ngoài rồi sau đó nằm giữa tuyến dưới lưỡi và cơ cằm móng. Nó đổ vào sàn miệng trên đỉnh của một nhú niêm mạc nằm ở bờ bên hãm lưỡi.
Tuyến dưới lưỡi, tuyến nhỏ nhất trong số các tuyến chính, nằm ngay dưới niêm mạc sàn miệng và áp vào hố dưới lưỡi ở mặt trong xương hàm dưới. Các liên quan của tuyến dưới lưỡi như sau: đầu trước với đầu trước của tuyến bên đối diện; đầu sau với phần sâu của tuyến dưới hàm; mặt trên với niêm mạc sàn miệng và đội niêm mạc lên thành nếp dưới lưỡi; mặt dưới với cơ hàm – móng; mặt ngoài với hố dưới lưỡi; mặt trong được ngăn cách với cơ cằm – lưỡi bởi ống tuyến dưới hàm và thần kinh lưỡi. Mỗi tuyến có 8 – 20 ống dưới lưỡi nhỏ đổ riêng rẽ vào đỉnh của nếp dưới lưỡi và một ống dưới lưỡi lớn đổ vào sàn miệng ở cùng hoặc gần lỗ của ống tuyến dưới hàm.
1.2. Răng
Răng là những cơ quan tiêu hóa phụ góp phần vào việc tiêu hoá cơ học ở miệng.

Hình 21.4. Cấu tạo của răng
1.2.1. Hình thể và cấu tạo
Mỗi răng bao gồm một thân răng hay vành răng, một chân răng hay rễ răng và một cổ răng là chỗ nối giữa thân và chân răng. Chân răng được gắn với huyệt răng bằng mô quanh răng, hay dây chằng quanh răng, dày khoảng 0,2 mm. Thân răng được bao bọc bằng lớp men răng cứng, trong mờ, dày khoảng 1,5 mm, còn chân răng được bọc bằng chất xi măng mỏng hơi vàng. Một mặt cắt dọc qua răng cho thấy rằng bên dưới men răng và chất xi măng là lớp ngà răng vây quanh ổ tuỷ, hay ổ răng, ở trung tâm. Ổ tuỷ bành rộng ở đầu thân răng của nó thành ổ tủy thân răng và thu hẹp ở chân răng thành ống chân răng. Ống chân răng mở ra ngoài tại lỗ đỉnh chân răng. Ổ tuỷ răng chứa tuỷ răng, bao gồm tuỷ thân răng và tuỷ chân răng.
1.2.3. Răng sữa và răng vĩnh viễn
Bộ răng được gắn vào các huyệt răng ở cung răng hàm trên và cung răng hàm dưới. Người có hai bộ răng: răng sữa và răng vĩnh viễn. Chiều cong của các cung răng khiến cho các từ dùng trong mô tả giải phẫu thông thường, như trước và sau, trở nên không thích hợp. Do đó, trong giải phẫu răng, mặt răng hướng về phía tiền đình miệng được gọi là mặt môi hoặc mặt má, mặt hướng về ổ miệng chính thức được gọi là mặt lưỡi hoặc mặt khẩu cái; mặt của mỗi răng mà hướng về điểm giữa cung răng, nơi các răng cửa trung tâm tiếp xúc nhau, được gọi là mặt gần hay mặt giữa, mặt đối diện là mặt xa; mặt tiếp xúc với răng của cung răng đối diện được gọi là mặt cắn. Mặt cắn của các răng sau răng nanh có những gò nhô lên gọi là các mấu răng.
Bộ răng sữa có 20 chiếc. Theo trình tự từ mặt phẳng giữa tiến sang bên và ra sau, răng sữa ở mỗi nửa cung răng được gọi tên như sau: răng cửa trung tâm, răng cửa bên, răng nanh, răng cối thứ nhất và răng cối thứ hai; trong hệ thống kí hiệu Palmer, các răng sữa được chỉ ra bằng trình tự các chữ cái A, B, C, D và E, bắt đầu từ răng cửa trung tâm. Răng cửa có thân răng hình thang với mặt trước lồi và mặt sau lõm, mặt nhai chỉ là một bờ gọi là bờ cắt; răng nanh có một mẫu nhọn; hai loại này thích ứng với nhiệm vụ cắt và xé thức ăn và chỉ có một chân răng. Các răng cối có bốn mẫu. Răng cối hàm trên có ba chân răng; răng cối hàm dưới có hai chân răng. Các răng cối nghiền và nhai thức ăn. Bộ răng sữa mọc trong khoảng thời gian từ 6 tháng – 30 tháng tuổi, bắt đầu từ răng cửa trung tâm. Cả bộ răng sữa được thay bằng răng vĩnh viễn trong thời gian từ 6 tới 12 tuổi. Thứ tự mọc răng sữa thường là A, B, D, C, E.
Bộ răng vĩnh viễn có 32 răng, mỗi nửa hàm bao gồm 2 răng cửa, 1 răng nanh, 2 răng tiền cối (hàm bé), và 3 răng cối (hàm lớn); chúng mọc trong khoảng thời gian từ 6 tuổi tới tuổi trưởng thành. Các răng cửa và răng nanh của bộ răng vĩnh viễn giống với răng sữa mà chúng thay thế nhưng các răng cối của bộ răng sữa được thay thế bằng các răng tiền cối (hay hàm bé) thứ nhất và thứ hai; răng tiền cối vĩnh viễn là những răng có hai mẫu và một chân răng (riêng rằng tiền cổi thứ nhất của hàm trên có hai chân răng). Có ba răng cối (hay răng hàm lớn) vĩnh viễn nằm sau rằng tiền cối thứ hai; chúng không thay thế cho bất kì răng sữa nào. Răng cối thứ nhất mọc lúc 6 tuổi, răng cối thứ hai mọc lúc 12 ruổi, răng cối thứ ba (răng khôn) mọc sau 17 tuổi. Răng khôn có thể không mọc mà bị vùi trong huyệt rằng nếu phần cung răng ở sau răng cối thứ hai không đủ chỗ cho nó mọc. Kích thước các răng cối giảm dần từ răng cối thứ nhất tới rằng cối thứ ba. Chúng thường có 4 mẫu ở mặt nhai; riêng răng cối thứ nhất hàm dưới có 5 mấu. Theo hệ thống Palmer, răng vĩnh viễn của mỗi nửa hàm được đánh số từ 1 tới 8, tính từ răng cửa trung tâm tới răng cối thứ ba. Thứ tự mọc răng vĩnh viễn là 6, 1, 2, 3, 4, 5, 7, 8.

Hình 21.5. Răng sữa và răng vĩnh viễn
1.3. Lưỡi
Lưỡi là một khối cơ vân được phủ bởi niêm mạc; nó là cơ quan thực hiện các chức năng nhai, nuốt, nếm và nói. Lưỡi nằm trên sàn miệng và thành trước của khẩu hầu, được chính các cơ của nó gắn với xương móng, xương hàm dưới, mỏm trâm, khẩu cái mềm và thành hầu.

Hình 21.6. Hình thể ngoài của lưỡi
1.3.1. Hình thể ngoài
Lưỡi có một rễ, một đỉnh, một mặt lưng lưỡi và một mặt dưới; các mặt của lưỡi gặp nhau tại các bờ lưỡi. Rễ lưỡi được gắn vào xương hàm dưới và xương móng; ở giữa các xương này, nó tiếp xúc ở dưới với các cơ cằm – móng và hàm – móng. Lưng lưỡi được rãnh tận chia thành hai phần: phần trước rãnh, hay phần miệng, tạo nên khoảng 2/3 chiều dài lưỡi và là phần được phủ bằng một niêm mạc có nhiều nhú lưỡi; phần sau rãnh, hay phần hầu, tạo nên thành trước của khẩu hầu và được phủ bằng một niêm mạc có nhiều nang bạch huyết tập trung lại thành hạnh nhân lưỡi. Rãnh tận có hình chữ V với hai nhánh chữ V chạy về phía trước bên từ một chỗ lõm sâu trên đường giữa gọi là lỗ tịt của lưỡi. Ở mỗi bờ lưỡi, ngay trước cung khẩu cái lưỡi, có 4-5 nếp thẳng đứng gọi là các nhú dạng lá. Niêm mạc phần trước rãnh của lưng lưỡi có một rãnh giữa chạy dọc và có nhiều nhú lưỡi. Đó là một hàng các nhú dạng đài nằm trước rãnh tận, các nhú dạng nấm và các nhú dạng chỉ. Mặt dưới lưỡi nhẵn, liên tiếp với nền miệng và được nối với nền miệng bởi một nếp niêm mạc trên đường giữa gọi là hãm lưỡi; ở mỗi bên hãm lưỡi, có một nếp niêm mạc chạy về đỉnh lưỡi gọi là nếp tua.

Hình 21.7. Hình ảnh vi thể của các nhú lưỡi
1.3.2. Cấu tạo
Lưỡi được cấu tạo bởi một khung xương – sợi và các cơ. Khung xương – sợi gồm xương móng cùng hai màng sợi là cân lưỡi và vách lưỡi. Các cơ của lưỡi gồm những cơ mà các thớ phát sinh và tận hết ngay trong lưỡi (các cơ nội tại) và các cơ đi từ phần lân cận tới tận hết ở lưỡi (cơ ngoại lai). Khi co, các cơ lưỡi làm nâng, hạ lưỡi, đẩy lưỡi ra trước hoặc kéo lưỡi ra sau.

Hình 21.8. Cấu tạo của lưỡi
1.3.3. Mạch và thần kinh của lưỡi
Động mạch gồm các nhánh của động mạch lưỡi: nhánh lưng lưỡi và động mạch lưỡi sâu.
Tĩnh mạch: Tĩnh mạch lưỡi thu máu tĩnh mạch của lưỡi và đổ về tĩnh mạch cảnh trong.
Bạch huyết đổ vào các hạch dưới cằm, dưới hàm và các hạch cổ sâu.
Thần kinh
– Vận động cho các cơ của lưỡi do các nhánh của thần kinh hạ thiệt.
– Thần kinh lưỡi, nhánh của thần kinh hàm dưới, chi phối cảm giác chung cho vùng trước rãnh tận.
– Thừng nhĩ chi phối cảm giác vị giác cho vùng trước rãnh, trừ các nhú dạng đài
– Các nhánh lưỡi của thần kinh thiệt hầu cảm giác chung và cảm giác vị giác ở phần sau rãnh tận và các nhú dạng đài.
2. THỰC QUẢN

Hình 21.9. Thực quản và cấu trúc liên quan
2.1. Giới hạn, phân đoạn và kích thước
Thực quản là một ống cơ nối hầu với dạ dày, dài khoảng 25 cm. Nó bắt đầu ở cổ, ngang mức với bờ dưới của sụn nhẫn và đốt sống cổ VI; từ đó, nó đi xuống ở trước cột sống qua trung thất trên và trung thất sau. Nó đi qua cơ hoành vào bụng ở ngang mức đốt sống ngực 10 và tận cùng tại lỗ tâm vị ở ngang mức đốt sống ngực XI. Thực quản bắt đầu trên đường giữa nhưng đi chếch sang trái cho đến tận nền cổ, dần dần trở lại đường giữa ở gần đốt sống ngực V và tại đốt sống ngực VII lại một lần nữa lệch sang trái, cuối cùng hướng ra trước để chui qua cơ hoành. Theo chiều trước – sau, thực quản đi theo các chiều cong của các đoạn cột sống cổ và ngực. Đường đi của thực quản được chia thành ba phần: cổ, ngực và bụng. Đường kính của thực quản đều nhau khi thực quản rỗng nhưng khi thực quản phồng căng có thể nhìn thấy bốn chỗ hẹp trên phim chụp X quang: (i) tại đầu trên, nơi cách răng cửa 15 cm; (ii) tại nơi bắt chéo với cung động mạch chủ, nơi cách răng cửa 22,5 cm; (iii) tại nơi bắt chéo phế quản chính trái, nơi cách răng cửa 27,5 cm; và (iii) ở chỗ chui qua cơ hoành, nơi cách răng cửa 40 cm.

Hình 21.10. Cơ của thực quản
2.2. Cấu tạo
Thực quản cũng được cấu tạo bằng các lớp giống như cấu tạo chung của ống tiêu hoá, từ lòng thực quản tiến ra ngoài là niêm mạc, lớp dưới niêm mạc, lớp cơ và lớp áo ngoài bằng mô liên kết. Niêm mạc thực quản là thượng mô lát tầng, mặt hướng vào lòng thực quản có những nếp dọc.
2.3. Liên quan
Phần cổ: Phần này nằm sau khí quản; thần kinh thanh quản quạt ngược nằm trong rãnh giữa thực quản và khí quản. Ở sau thực quản là cột sống, cơ dài cổ và lá trước sống của mạc cổ. Ở mỗi bên, thực quản liên quan với động mạch cảnh chung và phần sau của thùy bên tuyến giáp.
Phần ngực của thực quản đi qua trung thất trên và trung thất sau. Ở trước và từ trên xuống, thực quản liên quan lần lượt với khí quản, phế quản chính trái và ngoại tâm mạc (ngăn cách thực quản với tâm nhĩ trái). Ở phía sau, lúc đầu thực quản ở trước cột sống ngực nhưng ở dưới mức đốt sống ngực bốn thì có ba thành phần ngăn cách thực quản với cột sống: tĩnh mạch đơn ở bên phải, ống ngực ở giữa và động mạch chủ ngực ở bên trái; các động mạch gian sườn sau bên phải và phần tận cùng của các tĩnh mạch bán đơn và bán đơn phụ chạy ngang sát trước cột sống. Ở bên trái, thực quản liên quan với phần tận cùng của cung động mạch chủ, động mạch dưới đòn trái, phần trên ống ngực, thần kinh thanh quản quặt ngược trái (đi lên trong rãnh giữa thực quản và khí quản) và màng phổi trung thất trái; bờ phải thực quản liên quan với màng phổi trung thất phải và cung tĩnh mạch đơn. So với động mạch chủ, lúc đầu thực quản ở đi ở bên phải cung động mạch chủ và phần trên động mạch chủ ngực nhưng khi tới gần cơ hoành thì bắt chéo trước động mạch chủ. Sau khi bắt chéo sau cuống phổi, các thần kinh lang thang phải và trái tiến sát các bờ bên thực quản. Chúng phân thành các nhánh trên các mặt trước và sau thực quản rồi các nhánh này lại gộp lại tạo thành hai thân thần kinh lang thang trước và sau chạy xuống trên các mặt trước và sau thực quản đến tận bụng.
Phần bụng dài độ 2 cm, cong rõ rệt sang trái và được phúc mạc phủ ở mặt trước và bờ trái; nó như một khúc hình nón cụt mà nền liên tiếp với lỗ tâm vị của dạ dày. Mặt trước thực quản ấn vào thuỳ trái của gan thành một rãnh gọi là ấn thực quản, mặt sau tiếp xúc với trụ trái cơ hoành; bờ phải của nó liên tiếp với bờ cong bé, trong khi đó bờ trái được ngăn cách với đáy vị bởi khuyết tâm vị. Thân lang thang trước nằm trước thực quản, thân sau nằm sau thực quản.
Cập nhật thông tin mới nhất về kiến thức y học và test y học tại facebook TEST Y HỌC
Tham gia nhóm zalo: Tài Liệu Y Học Tổng Hợp
Ôn thi nội trú, sau đại học Giải Phẫu TẠI ĐÂY
