RUNG NHĨ – NỘI KHOA Y HÀ NỘI

CHƯƠNG II. BÀI 10.2:

RUNG NHĨ

1. ĐẠI CƯƠNG

– Rung nhĩ là một trong những rối loạn nhịp tim thường gặp nhất đặc trưng bởi hiện tượng rối loạn điện học hoàn toàn dẫn tới sự mất co bóp đồng bộ về cơ học của hai tâm nhĩ.

– Tần suất tăng dần theo tuổi, ước tính khoảng 0,4 – 1,0% trong quần thể chung và lên tới 10% ở những người trên 80 tuổi.

1.1. Nguyên nhân

– Tăng huyết áp.

– Bệnh động mạch vành.

– Bệnh van tim (còn khá phổ biến ở nước ta, đặc biệt là hẹp van hai lá).

– Suy tim.

– Các nguyên nhân khác: stress thể lực quá mức; một số thuốc, caffein; nhồi máu phổi; bệnh phổi mạn tính tắc nghẽn; cường giáp; nhiễm trùng; rối loạn chuyển hóa; bệnh màng ngoài tim; Hội chứng Wolff-Parkinson-White; phẫu thuật tim mạch…

– Rung nhĩ vô căn.

1.2. Sinh lý bệnh

a. Cơ chế gây RN

Ở ngoại vi: các ổ ngoại vị thường xuất phát từ các tĩnh mạch phổi. Triệt đốt bằng năng lượng sóng có tần số radio nhằm cô lập điện học các tĩnh mạch phổi có thể giúp điều trị hiệu quả các cơn rung nhĩ kịch phát.

Nhiều vòng vào lại tại cơ nhĩ.

b. Hậu quả RN về mặt huyết động

Rung nhĩ thường kèm theo nhịp thất nhanh và không đều làm cho cung lượng tim bị giảm đi đáng kể, nhất là khi bệnh nhân có các bệnh thực tổn ở tim kèm theo. Bản thân rung nhĩ đã giảm khoảng 20% lượng máu xuống thất trong thời kỳ tâm trương. Do đó, khi rung nhĩ kèm theo nhịp thất nhanh thì càng làm cho thời kỳ tâm trương ngắn, lượng máu về thất giảm đi đáng kể.

c. Nguy cơ tắc mạch

(bao gồm đột quỵ và tắc mạch đại tuần hoàn) ở bệnh nhân rung nhĩ sẽ tăng vọt (ước tính gấp 5 lần), đặc biệt ở người có tuổi, bệnh nhân có đái tháo đường, có bệnh van tim, tăng huyết áp, suy tim… Cơ chế là do sự hình thành và di chuyển của cục máu đông từ nhĩ trái.

1.3. Phân loại

Dựa trên thời gian xuất hiện rung nhĩ có thể phân loại:

– Cơn rung nhĩ lần đầu mới xảy ra, là rung nhĩ mới thấy xuất hiện lần đầu tiên ở bệnh nhân, có thể thoáng qua do những nguyên nhân có thể phục hồi được hoặc có thể tồn tại lâu dài.

– Rung nhĩ kịch phát (Paroxysmal), là những rung nhĩ xuất hiện và kết thúc tự phát, thời gian dưới 7 ngày (thường trong vòng 48 giờ) và dễ bị tái phát.

– Rung nhĩ dai dẳng (Persistent), là những rung nhĩ tồn tại lâu hơn 7 ngày nhưng vẫn có thể tái tạo nhịp xoang bằng thuốc hoặc sốc điện chuyển nhịp.

– Rung nhĩ dai dẳng kéo dài (Long standing): là rung nhĩ kéo dài trên 1 năm và vẫn còn có thể kiểm soát nhịp bằng cách chuyển về nhịp xoang.

– Rung nhĩ mạn tính (Permanent), là những rung nhĩ kéo dài mà khả năng nâng chuyển nhịp về nhịp xoang là không khả thi hoặc không được tính đến.

Ngoài ra còn có các thuật ngữ Rung nhĩ thứ phát gây ra bởi những nguyên nhân cấp tính có thể điều chỉnh được như cường giáp trạng, ngộ độc rượu cấp hoặc sau phẫu thuật tim. Rung nhĩ đơn độc xảy ra trên bệnh nhân không có bệnh tim thực tổn.

1.3.1. Lâm sàng

– Có thể không có triệu chứng gì.

– Đa số bệnh nhân thấy hồi hộp đánh trống ngực, khó thở, đau ngực, chóng mặt, vã mồ hôi… Trường hợp nặng có thể có rối loạn huyết động: tụt huyết áp, ngất.

– Có trường hợp biến chứng tắc mạch là biểu hiện đầu tiên của bệnh: tắc mạch não, tắc mạch chi…

– Nghe tim: thấy loạn nhịp hoàn toàn, có thể thấy những dấu hiệu của các bệnh tim kèm theo (nếu có).

1.3.2. Cận lâm sàng

a. Điện tâm đồ

– Sóng P và đường đẳng điện biến mất, thay bằng sóng f (fibrillation) với tần số rất nhanh và rất không đều, 400 – 700 ck/phút.

– Nhịp thất thường nhanh và không đều (loạn nhịp hoàn toàn). Nhịp thất đều và tần số thất chậm trong trường hợp rung nhĩ kèm theo bloc nhĩ thất hoàn toàn. Tần số thất có thể rất nhanh và phức bộ QRS giãn rộng trong trường hợp rung nhĩ xảy ra trên nền hội chứng WPW về điện hình. Rung nhĩ trong hội chứng suy nút xoang có thể gây ngừng tim kéo dài.

Hình 2.62. Rung nhĩ với đáp ứng thất nhanh, 130-140 ck/phút.
Hình ảnh sóng f nhìn rõ nhất ở chuyển đạo V1.

Hình 2.63. Rung nhĩ với đáp ứng thất chậm và rất đều, tần số thất: 46 ck/phút. Gợi ý kèm theo tình trạng bloc nhĩ thất hoàn toàn.

Hình 2.64. Rung nhĩ trên nền hội chứng Wolff-Parkinson-White, tần số thất nhanh 150 – 200 ck/phút, và nhìn thấy rõ sóng Delta ở đầu phức bộ QRS.

Hình 2.65. Rung nhĩ có đoạn ngừng tim (vô tâm thu) kéo dài trong hội chứng suy nút xoang.

b. Siêu âm tim

– Giúp đánh giá tình trạng cấu trúc và chức năng tim.

– Giúp đánh giá huyết khối, nguy cơ hình thành huyết khối (hiện tượng tăng đông trong các buồng tim).

2. ĐIỀU TRỊ

Nguyên tắc điều trị:

– Dự phòng đột quỵ hay tắc mạch hệ thống cho các bệnh nhân nguy cơ cao.

– Giảm triệu chứng bằng kiểm soát nhịp hoặc kiểm soát tần số.

– Điều trị các yếu tố nguy cơ, điều trị bệnh tim mạch và các bệnh lý đồng mắc khác.

2.1. Kiểm soát tần số thất

– Rung nhĩ thường có tần số đáp ứng thất nhanh. Có thể giảm tần số thất bằng các thuốc làm chậm dẫn truyền qua nút nhĩ thất.

– Có thể dùng đơn độc hoặc phối hợp các nhóm thuốc để tăng hiệu quả.

– Tần số thất mục tiêu tùy thuộc vào từng bệnh nhân cụ thể, nhưng thường đảm bảo khoảng 70 – 80 ck/phút khi nghỉ ngơi và 90 – 110 ck/phút khi gắng sức vừa phải.

a. Digitalis

– Là thuốc kinh điển để hạn chế tần số thất khi bị rung nhĩ nhanh. Digoxin là thuốc lý tưởng cho những bệnh nhân bị rung nhĩ nhanh có kèm theo suy tim.

– Thường dùng loại tiêm tĩnh mạch để có tác dụng nhanh (Isolanid, cedilanid 0,4 mg tiêm TM 1/2-1 ống). Trong trường hợp không khẩn cấp, có thể cho dạng uống digoxin 0,25 mg (0,5-1 viên/ngày), điều chỉnh liều theo đáp ứng.

– Chú ý nếu có chỉ định sốc điện điều trị rung nhĩ thì nên dừng digitalis trước đó vài ngày.

b. Chẹn beta giao cảm

– Có thể dùng dạng tiêm tĩnh mạch (metoprolol, bisoprolol…) hoặc dạng uống. Các thuốc chẹn beta giao cảm thường được lựa chọn ở những bệnh nhân rung nhĩ nhanh kèm theo bệnh mạch vành, suy tim có chức năng tống máu thất trái giảm.

– Cần chú ý các chống chỉ định của thuốc chẹn beta giao cảm, nên cho liều thấp, từ từ tăng dần theo đáp ứng của bệnh nhân.

c. Các thuốc chẹn kênh calci

– Thường dùng verapamil hoặc diltiazem dạng tiêm tĩnh mạch hoặc dạng uống. Các thuốc này làm giảm đáp ứng thất tốt, đặc biệt dạng tiêm có tác dụng khá nhanh.

– Chống chỉ định dùng khi có rối loạn chức năng thất trái.

d. Trong trường hợp rung nhĩ nhanh trên hội chứng tiền kích thích (WPW)

– Procainamid là thuốc được lựa chọn để cắt cơn rung nhĩ chuyển nhịp xoang. Việc sử dụng các thuốc chống loạn nhịp khác đều là chống chỉ định (digoxin, chẹn beta giao cảm, chẹn calci…) hoặc phải hết sức thận trọng (amiodaron dạng uống). Cơn rung nhĩ gây đáp ứng thất quá nhanh ảnh hưởng đến huyết động cần shock điện chuyển nhịp cấp cứu (shock đồng bộ 200J). Cắt đốt đường dẫn truyền phụ bằng năng lượng tần số radio qua đường ống thông (RF) là biện pháp cần được lựa chọn để điều trị triệt để hội chứng WPW và giúp giảm tần số thất khi rung nhĩ về mặt dài hạn.

e. Cắt đốt nút nhĩ thất bằng sóng có tần số radio qua đường ống thông và cấy máy tạo nhịp tim

– Thực hiện trong trường hợp rung nhĩ đáp ứng tần số thất nhanh gây nhiều triệu chứng và không thể kiểm soát được bằng thuốc. Trong trường hợp bệnh cảnh của suy tim kèm theo có giảm phân suất tống máu, cần cân nhắc cấy máy tái đồng bộ cơ tim sau triệt đốt nút nhĩ thất.

2.2. Dự phòng đột quỵ và tắc mạch

– Thuốc chống đông giúp giảm đáng kể biến cố đột quỵ và tắc mạch hệ thống, tuy nhiên ngược lại sẽ làm tăng nguy cơ xuất huyết.

– Các thuốc chống ngưng tập tiểu cầu (aspirin, clopidogrel) hiện nay đã không còn vai trò trong dự phòng đột quỵ ở bệnh nhân rung nhĩ đơn thuần. Các thuốc được sử dụng để dự phòng đột quỵ trong trường hợp này là các thuốc kháng vitamin K như: warfarin hay các thuốc chống đông trực tiếp đường uống khác (DOAC). Các thuốc chống ngưng tập tiểu cầu chỉ được sử dụng kết hợp với thuốc chống đông đường uống khi có chỉ định khác như cơ hội chứng vành cấp kèm theo, bệnh nhân mới đặt stent động mạch vành, …

– Bệnh nhân rung nhĩ có hẹp van hai lá mức độ vừa trở lên, hoặc van cơ học cần được sử dụng thuốc chống đông nhóm kháng vitamin K như: warfarin hoặc sintrom (duy trì INR từ 2,0-3,0; riêng van cơ học phải duy trì INR từ 2,5-3,5 hoặc cao hơn). Hiện nay các thuốc chống đông trực tiếp đường uống (DOAC) chưa được cấp chỉ định trong điều trị rung nhĩ ở bệnh nhân có hẹp van hai lá mức độ vừa trở lên hoặc mang van tim cơ học.

– Đối với bệnh nhân rung nhĩ không kèm theo hẹp van hai lá mức độ vừa trở lên hoặc van tim cơ học cần sử dụng thang điểm CHA2DS2-VASc phân tầng nguy cơ đột quỵ tắc mạch nhằm đưa ra quyết định có điều trị thuốc chống đông hay không. Nếu bệnh nhân có nguy cơ cao thì các thuốc chống đông trực tiếp đường uống (Rivaroxaban, dabigatran, apixaban, endoxaban) hoặc thuốc kháng vitamin K (duy trì INR từ 2,0-3,0) được chỉ định.

Bảng 2.36. Thang điểm CHA2DS2 – VASc

Tiêu chuẩn Điểm
Suy tim sung huyết 1
Tăng huyết áp 1
Tuổi ≥ 75 2
Đái tháo đường 1
Đột quỵ/tai biến thoáng qua/huyết khối tĩnh mạch sâu 2
Bệnh tim mạch khác (Tiền sử NMCT, bệnh động mạch ngoại vi hoặc vôi động mạch chủ) 1
Tuổi 65-74 1
Giới nữ 1
Điểm tối đa 9

Bảng 2.37. Hướng dẫn điều trị thuốc chống đông theo thang điểm CHA2DS2-VASc cho bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim

CHA2DS2-VASc Điều trị chống đông
0 Không dùng chống đông
1 điểm ở nam giới hoặc 2 điểm ở nữ giới Có thể cân nhắc thuốc chống đông trực tiếp đường uống (DOAC) hoặc warfarin (INR 2,0 – 3,0)
≥ 2 Thuốc chống đông trực tiếp đường uống (DOAC) hoặc warfarin (INR 2,0 – 3,0).

Điều trị thuốc chống đông khi chuyển nhịp:

– Tất cả bệnh nhân rung nhĩ > 48 giờ, hoặc rung nhĩ không rõ thời điểm khởi phát phải điều trị bằng thuốc kháng vitamin K hiệu quả (INR từ 2-3) hoặc thuốc chống đông đường uống (DOAC) ít nhất 3 tuần trước khi chuyển nhịp.

– Siêu âm tim qua thực quản loại trừ huyết khối nhĩ trái có thể thay thế cho 3 tuần điều trị bằng thuốc kháng vitamin K, nhưng bệnh nhân vẫn phải tiếp tục được điều trị warfarin hoặc heparin trong thời gian chuyển nhịp.

– Trong trường hợp chuyển nhịp cấp cứu phải dùng heparin đường tĩnh mạch duy trì aPTT từ 1,5 đến 2 lần nhóm chứng hoặc heparin trọng lượng phân tử thấp và điều trị tiếp theo bằng thuốc kháng vitamin K/DOAC.

– Warfarin/DOAC được tiếp tục điều trị sau chuyển nhịp ít nhất 4 tuần. Sau thời gian 4 tuần, quyết định tiếp tục sử dụng thuốc chống đông hay không phụ thuộc vào thang điểm nguy cơ CHA2DS2-VASc của bệnh nhân.

Bảng 2.38. Các loại thuốc kháng vitamin K thường dùng

Nhóm thuốc (theo thời gian tác dụng) Tên gốc Biệt dược Thời gian bắt đầu tác dụng (giờ) Thời gian kéo dài tác dụng (giờ)
Ngắn Ethyle Biscoumacetate
Phenindion
Tromexan
Pindion
28-24 24-48
48-96
Vừa Acenocoumarol
Fluindion
Tioclomarol
Sintrom
Previscan
Apegmon
24-48 48-96
48-72
48-96
Dài Warfarin Coumadin 36 96-120

2.3. Chuyển nhịp (đưa về nhịp xoang) và duy trì nhịp xoang

Chuyển nhịp (đưa về nhịp xoang) giúp cải thiện triệu chứng do rối loạn nhịp ở bệnh nhân rung nhĩ. Không những vậy, chuyển nhịp và duy trì nhịp xoang còn mang lại hiệu quả về mặt huyết động và cải thiện tiên lượng ở nhóm bệnh nhân rung nhĩ có kèm suy tim.

Tuy nhiên, phải lưu ý là bệnh nhân cần được đánh giá kỹ lưỡng trước khi quyết định chuyển nhịp. Trong một chừng mực nào đó, nếu không đánh giá lưỡng bệnh nhân, việc cố gắng chuyển nhịp và dùng thuốc duy trì có thể sẽ thất bại hoặc không mang lại lợi ích gì hơn.

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng, đối với những bệnh nhân bị rung nhĩ đã lâu, tuổi cao, có nhiều yếu tố tái phát kèm theo… thì việc không chế nhịp thất, ngăn ngừa tắc mạch và “chung sống hòa bình” với rung nhĩ lại là giải pháp tối ưu nhất. Cần phải điều trị hiệu quả các bệnh nguyên của rung nhĩ thứ phát trước khi xem xét chuyển nhịp xoang.

a. Chuyển nhịp bằng thuốc

– Là phương pháp nên được lựa chọn đầu tiên.

– Tỷ lệ thành công khác nhau phụ thuộc vào tình trạng cụ thể từng bệnh nhân, nguyên nhân gây rung nhĩ và thời gian rung nhĩ. Nhìn chung, tỷ lệ thành công thấp hơn chuyển nhịp bằng sốc điện.

– Trong trường hợp dùng thuốc chuyển nhịp không thành công nên chỉ định sốc điện điều trị kịp thời. Khi đó vai trò của việc dùng các thuốc này khá quan trọng vì nó giúp khả năng sốc điện chuyển nhịp thành công cao hơn và duy trì tốt nhịp xoang sau đó.

*Các thuốc dạng tiêm tĩnh mạch

– Procainamid (nhóm IA): là thuốc có thể được chọn để chuyển nhịp trong RN. Có khoảng 1/3 bệnh nhân khi dùng thuốc này có tác dụng phụ (rối loạn tiêu hóa, huyết học, hội chứng giống Lupus…).

– Amiodaron (Cordaron): là một trong các nhóm thuốc khá phổ biến để chuyển nhịp. Thông thường sẽ dùng liều bolus và sau đó duy trì qua đường truyền tĩnh mạch. Amiodaron còn được sử dụng để duy trì nhịp xoang sau khi chuyển nhịp thành công.

– Ibutilid: là một thuốc mới và rất hiệu quả trong điều trị rung nhĩ. Biến chứng có thể gặp là cơn xoắn đỉnh (gặp 1-2%).

*Các thuốc dạng uống

– Cả amiodaron và procainamid đều có ở dạng uống, trong đó amiodaron là thuốc hay được sử dụng hơn cả, nhất là để duy trì nhịp xoang sau khi đã được chuyển nhịp. Lưu ý những tác dụng phụ của amiodaron khi dùng lâu dài và thời gian bán hủy cực kỳ dài của nó. Procainamid khi dùng lâu dài sẽ kém dung nạp hơn nên thường không dùng loại này để duy trì nhịp xoang.

– Quinidin là thuốc trước đây thường được dùng nhất để chuyển nhịp và duy trì nhịp xoang. Tuy nhiên quinidin có nhiều tác dụng phụ đặc biệt là nguy cơ gây xoắn đỉnh.

– Sotalol là thuốc thuộc nhóm III nhưng có tác dụng chẹn beta giao cảm. Thuốc có thể dùng ở bệnh nhân rung nhĩ nhưng cần chú ý các tác dụng phụ liên quan đến chẹn beta giao cảm và có thể gây xoắn đỉnh do làm QT kéo dài.

– Flecainid và propafenon là thuốc thuộc nhóm IC có tác dụng tốt ở bệnh nhân rung nhĩ. Chúng là thuốc có khả năng dung nạp tốt nhưng có thể làm tăng tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân có rối loạn nhịp thất do bệnh động mạch vành. Do đó, các thuốc này thường không được chỉ định ở bệnh nhân rung nhĩ do căn nguyên bệnh động mạch vành hoặc bệnh có tổn thương cấu trúc tim.

– Disopyramid thuộc nhóm IA, có tác dụng tương tự procainamid và quinidin. Tuy nhiên thuốc này gây giảm co bóp cơ tim nhiều nên không nên dùng ở những bệnh nhân có rối loạn chức năng thất trái.

– Moricizin là thuốc nhóm I có tính chất của cả phân nhóm A và B. Nó không nên được dùng ở bệnh nhân có bệnh động mạch vành.

b. Chuyển nhịp bằng sốc điện

– Là biện pháp có hiệu quả cao trong chuyển nhịp từ rung nhĩ về nhịp xoang với tỷ lệ thành công trên 80%.

– Sốc điện điều trị rung nhĩ nên được chỉ định ngay khi có những rối loạn huyết động trầm trọng. Đối với những trường hợp chuyển nhịp có chuẩn bị, sốc điện có thể được xem như là một phương pháp lựa chọn ưu tiên hoặc có thể tiến hành sau khi đã chuyển nhịp bằng thuốc thất bại. Sốc điện sẽ thành công cao hơn khi đã được dùng thuốc chống loạn nhịp trước đó (VD: amiodaron).

– Sốc điện chuyển nhịp chỉ tiến hành khi bệnh nhân đã được dùng chống đông đầy đủ (xem phần trên). Trong trường hợp cấp cứu thì cho heparin và phải làm siêu âm qua thực quản để loại trừ không có máu đông trong buồng tim.

– Sốc điện phải được tiến hành ở những nơi có khả năng cấp cứu và theo dõi tốt về tim mạch, bệnh nhân được gây mê tốt. Các nhân viên y tế phải thành thạo trong việc áp dụng các biện pháp hô hấp hỗ trợ.

– Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả của chuyển nhịp bằng sốc điện là: thời gian bị rung nhĩ lâu hay nhanh, độ lớn của sóng f, kích thước nhĩ trái. Thời gian bị rung nhĩ càng lâu, sóng f càng nhỏ, nhĩ trái đo trên siêu âm lớn hơn 45 mm là những yếu tố dự báo thất bại của sốc điện hoặc khả năng tái phát rung nhĩ cao.

– Năng lượng dùng trong sốc điện điều trị rung nhĩ thường bắt đầu bằng liều nhỏ 100 J sau đó có thể tăng lên tới 200J, 300J và phải là sốc điện đồng bộ.

2.4. Các phương pháp điều trị khác

a. Điều trị rung nhĩ bằng triệt đốt qua catheter (RF):

– Dựa vào cơ chế tĩnh mạch phổi là vị trí quan trọng khởi phát và tạo nhiều vòng vào lại nhỏ ở bệnh nhân rung nhĩ. Cô lập điện học giữa tĩnh mạch phổi và nhĩ trái bằng năng lượng sóng radio qua đường ống thông có thể giúp loại trừ rung nhĩ như một giải pháp điều trị triệt để.

– Triệt đốt bằng catheter (RF) là phương pháp có hiệu quả khá cao và được lựa chọn cho bệnh nhân rung nhĩ có triệu chứng liên quan với rối loạn nhịp. Bên cạnh đó, các hướng dẫn điều trị hiện nay cho thấy lợi ích của việc triệt đốt rung nhĩ bằng RF để chuyển nhịp ở nhóm bệnh nhân suy tim có rối loạn chức năng thất trái mang lại hiệu quả ưu việt hơn so với nhóm chỉ điều trị bằng thuốc kiểm soát tần số. Hiện nay, thực tế đã chứng minh nhóm bệnh nhân rung nhĩ kịch phát được hưởng lợi nhiều nhất từ kỹ thuật này với tỉ lệ thành công cao, tỉ lệ tái phát thấp. Tỉ lệ này còn tốt hơn nữa ở nhóm bệnh nhân trẻ tuổi, chưa có biểu hiện tái cấu trúc nhĩ trái và không có bệnh lý nền kèm theo.

– Tỷ lệ thành công từ 40 – 90% với chỉ 1 lần triệt đốt, nếu bệnh nhân tái phát rung nhĩ có thể tiếp tục tiến hành triệt đốt những lần tiếp theo.

– Những biến chứng có thể gặp của triệt đốt bao gồm: tràn dịch màng tim, ép tim cấp, biến chứng mạch máu, hẹp tĩnh mạch phổi, đột quỵ, dò nhĩ trái thực quản, tổn thương thần kinh hoành, tổn thương van hai lá. Tỷ lệ tử vong thấp < 0,1%.

– Trong trường hợp duy trì được nhịp xoang, bệnh nhân được chỉ định dùng thuốc kháng đông đường uống ít nhất 2 tháng sau khi triệt đốt đối với nhóm nguy cơ đột quỵ thấp. Đối với nhóm nguy cơ đột quỵ cao (Điểm CHA2DS2-VASc ≥ 1) cần tiếp tục duy trì thuốc chống đông lâu dài ngay cả khi đã chuyển nhịp thành công.

Hình 2.39. Triệt đốt bằng năng lượng tần số radio nhằm cô lập các tĩnh mạch phổi trong điều trị rung nhĩ.

b. Phẫu thuật điều trị rung nhĩ:

– Phẫu thuật cô lập nhĩ trái (Maze) thường được chỉ định kết hợp với các phẫu thuật khác như mổ bắc cầu chủ vành, thay van tim, mổ sửa chữa trong bệnh tim bẩm sinh. Phẫu thuật sẽ tạo các đường cắt cô lập từng vùng cơ nhĩ, tiêu hủy và các tính mạch phổi nhằm vào ổn được ngăn dẫn truyền trong nhĩ, nhờ vậy ngăn được sự hình thành các vòng vào lại gây rung nhĩ.

c. Đặt máy tạo nhịp tim vĩnh viễn được chỉ định trong hai trường hợp sau đây:

– Rung nhĩ kèm theo đáp ứng thất chậm hoặc rung nhĩ trong bệnh cảnh hội chứng suy nút xoang.

– Rung nhĩ với đáp ứng thất rất nhanh, không thể khống chế bằng điều trị nội khoa, có thể cấy máy tạo nhịp tim (tạo nhịp thất) kết hợp với cắt đốt đường dẫn truyền nhĩ thất bằng năng lượng sóng tần số radio qua đường ống thông.

– Cần lưu ý vẫn phải duy trì điều trị chống đông sau cấy máy tạo nhịp tuân theo các chỉ định đã trình bày ở trên.

Cập nhật thông tin mới nhất về kiến thức y học và test y học tại facebook TEST Y HỌC

Tham gia nhóm zalo: Tài Liệu Y Học Tổng Hợp

Ôn thi nội trú, sau đại học TẠI ĐÂY

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Content is protected !!
All in one