CHƯƠNG I. BÀI 12:
TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI
MỤC TIÊU
|
1. ĐỊNH NGHĨA
Bình thường khoang màng phổi là một khoang ảo không có khí, vì một lý do nào đó không khí xuất hiện trong khoang màng phổi gọi là tràn khí màng phổi (TKMP). Nếu tràn khí màng phổi ít chỉ phát hiện tình cờ trên phim X-quang. Nếu tràn khí màng phổi nhiều sẽ gây hội chứng tràn khí màng phổi trên lâm sàng.
2. DỊCH TỄ HỌC
Tràn khí màng phổi là bệnh thường gặp trong lâm sàng hô hấp. Theo nghiên cứu của tại Minesota (Hoa Kỳ) trong 25 năm thấy tỷ lệ tràn khí màng phổi chiếm 18/100.000 dân/năm; tỷ lệ giữa nam = 5/1; thường gặp ở đàn ông trên 40 tuổi; phần lớn là tràn khí màng phổi thứ phát sau các bệnh lý hô hấp.
Tại Việt Nam, thống kê của Khoa Hô hấp Bệnh viện Bạch Mai từ 1996 – 2000 cho biết tỷ lệ TKMP vào viện là 3,58% (Ngô Quý Châu). Tại Khoa Ngoại Viện lao và bệnh phổi trung ương năm 1998 có 58 trường hợp TKMP tự phát, tăng lên 75 trường hợp TKMP tự phát năm 2001 được chẩn đoán và điều trị.
3. CƠ CHẾ BỆNH SINH CỦA TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI
3.1. Áp lực khoang màng phổi
Vì xu hướng tự nhiên của phổi là co lại nên áp lực màng phổi là âm tính so với áp lực của phế nang trong toàn bộ chu kỳ hô hấp, ngược lại lồng ngực lại có xu hướng dãn ra. Dung tích khí cặn chức năng là thể tích khí của phổi còn lại ở cuối thời kỳ thở ra tự nhiên, nhờ đó mà có lực kéo đàn hồi của phổi, cũng là lực dãn căng lồng ngực.
Áp lực khoang màng phổi bình thường dao động trong khoảng từ -3 đến -5 cmH₂O. Tuy nhiên có sự khác nhau về áp lực màng phổi ở đỉnh phổi và đáy phổi.
Khi có sự thông thương giữa phế nang hoặc đường dẫn khí và khoang màng phổi thì không khí sẽ đi từ phế nang vào khoang màng phổi cho đến khi không còn sự khác biệt về áp suất hoặc cho đến khi đường thông được bịt kín. Cũng như vậy khi có tổn thương ở thành ngực gây thông thương giữa khí quyển và khoang màng phổi không khí sẽ đi vào khoang màng phổi cho đến khi chênh lệch áp suất bị loại bỏ hoặc sự thông thương được bịt kín. Áp lực khoang màng phổi tăng lên làm thay đổi áp lực của thành ngực, lúc này cho phép khoang lồng ngực giãn ra theo đường cong thể tích – áp lực. Sự tăng áp lực trong khoang màng phổi cũng gây ra đẩy trung thất sang bên đối diện, nửa ngực rộng ra và một nửa cơ hoành bị đẩy xuống.
3.2. Hậu quả của tràn khí màng phổi
TKMP làm giảm dung tích sống và áp lực oxy máu động mạch. Ở bệnh nhân có chức năng phổi tương đối bình thường trước khi bị TKMP tự phát tiên phát thì bệnh nhân có thể chịu đựng được. Nếu chức năng phổi của bệnh nhân bất thường trước khi bị TKMP thì sự giảm dung tích sống có thể dẫn đến suy hô hấp với sự giảm thông khí phế nang và nhiễm toan hô hấp.
Hầu hết bệnh nhân TKMP đều có giảm PaO₂ và tăng sự chênh lệch về áp lực oxy giữa phế nang và động mạch. Sự giảm PaO₂ xuất hiện bởi vì vùng đó giảm tỷ số trao đổi khí – dịch, một shunt giải phẫu và do lối khí co giãn thông khí phế nang. TKMP lớn hơn thì shunt nhiều hơn.
Khi TKMP chiếm ít hơn 25% của thể tích nửa ngực thì shunt không tăng. Sau khi không khí được lấy ra khỏi khoang màng phổi thì tình trạng PaO₂ thường được cải thiện, nhưng sự cải thiện này có thể sau vài giờ.
4. PHÂN LOẠI
4.1. Phân loại dựa theo nguyên nhân
4.1.1. Tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát (không rõ nguyên nhân hay TKMP tiên phát)
– Thường xảy ra cho những người cao, gầy, lồng ngực dẹt.
– Tuổi hay gặp nhất trong khoảng từ 20 – 40 tuổi và rất hiếm gặp sau tuổi 40.
– Tràn khí màng phổi thường xảy ra sau các hoạt động gắng sức hay sau vận động mạnh, nhưng đôi khi lại xảy ra ngay cả lúc đang ngủ hoặc nghỉ ngơi.
– Nguyên nhân: thường do vỡ các bóng khí dưới màng phổi – những khuyết tật bẩm sinh cấu trúc đàn hồi của phổi, các kén khí do phát triển bất thường ở phần cuối của các tiểu phế quản và động tĩnh còn do sự phình ra của các phần phổi hậu quả của rối loạn lưu thông của tiểu phế quản tại những vị trí có tổn thương viêm nhiễm thực thể trước đó.
4.1.2. Tràn khí màng phổi tự phát thứ phát
Do vỡ các ổ bệnh lý vào khoang màng phổi ở những bệnh nhân có quá trình huỷ hoại cấu trúc phổi. TKMP thứ phát cũng thường xảy ra sau gắng sức hoặc sau ho. Các nguyên nhân của TKMP thứ phát như:
– Áp xe phổi.
– Hang lao phổi.
– Nhồi máu phổi.
– Hen phế quản:
- Thường xảy ra lúc có cơn hen xuất hiện đau ngực và khó thở tăng lên.
- Nghe phổi có thể phát hiện thấy các tiếng ran phổi không đều nên rất dễ nhầm với cơn hen phế quản ác tính.
– Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT):
- Tiên lượng nặng do dễ có suy hô hấp.
- Tỷ lệ tái phát cao nếu không áp dụng phương pháp điều trị chống tái phát.
– Xơ hoá kén (Cystic fibrosis).
– Giãn phế nang.
– Tràn khí màng phổi theo chu kỳ kinh nguyệt.
- Thường xảy ra theo chu kỳ kinh.
- Tỷ lệ gặp 3 – 6%.
- Tuổi từ 30 – 40 có tiền sử bệnh lạc nội mạc tử cung ở vùng tiểu khung trong 20 – 40% trường hợp.
- Nguyên nhân do lạc nội mạc tử cung (endometriosis).
- Chủ yếu (90%) TKMP bên phải, xảy ra trong phạm vi 72 giờ tính từ khi bắt đầu xuất hiện kinh nguyệt.
- Điều trị: điều trị bằng liệu pháp hormon, nhưng tỷ lệ tái phát cao (50%).
– Bệnh bụi phổi.
- Bệnh bụi phổi silic hay gây TKMP, xảy ra trong giai đoạn tiến triển của bệnh. Tràn khí màng phổi thường khu trú do vỡ phế nang.
– Bệnh ký sinh trùng phổi:
- Tràn khí màng phổi xảy ra do vỡ u nang bào sán.
- Thường gây viêm mủ màng phổi do ký sinh trùng Echinococcus.
– Các bệnh ác tính của phổi và cơ quan trung thất.
– Một số bệnh phổi khác (sarcoidose, bệnh xơ phổi lan toả, ung thư phổi v.v…).
4.1.3. Tràn khí màng phổi do chấn thương
Tràn khí màng phổi sau các va chạm, sang chấn, vết thương xuyên thấu hay không xuyên thấu lồng ngực.


