CHƯƠNG I. BÀI 14:
UNG THƯ PHỔI
MỤC TIÊU
|
1. ĐẠI CƯƠNG
Ung thư phổi (UTP) là bệnh rất thường gặp, đứng hàng thứ ba trong các bệnh phổi mạn tính và hàng thứ năm trong ung thư các tạng khác. Trong vòng 40 năm trở lại đây, ung thư phổi tăng lên rõ rệt.
Năm 2002, theo Youlden DR, và CS, số UTP mới mắc trên toàn thế giới là lên tới 1,35 triệu trường hợp. Số tử vong do UTP là 1,18 triệu trường hợp mỗi năm, chiếm vị trí hàng đầu, cao hơn tất cả các loại ung thư khác, có xu hướng gia tăng ở các nước đang phát triển. Ở Việt Nam ung thư phổi khá phổ biến, tại Khoa Hô hấp Bệnh viện Bạch Mai, nghiên cứu thống kê trong nhiều năm thấy:
- 1969 – 1972: 89 trường hợp.
- 1974 – 1978: 186 trường hợp.
- 1981 – 1985: 285 trường hợp.
- 1996-2000: 639/3606 trường hợp.
Bệnh gặp nhiều ở nam giới. Hút thuốc lá là nguyên nhân gây bệnh chính. Triệu chứng ban đầu rất kín đáo nên chẩn đoán rất khó khăn, điều trị chủ yếu vẫn là ngoại khoa. Ung thư phổi bao gồm ung thư phổi tiên phát và ung thư phổi thứ phát. Trong phạm vi bài này chỉ đề cập đến ung thư phổi tiên phát.
2. UNG THƯ PHỔI TIÊN PHÁT
2.1. Giải phẫu bệnh học
Trong ung thư phổi thì ung thư phế quản thường gặp hơn cả. Khoảng 90% ung thư ở phế quản lớn (ung thư trung tâm) và khoảng 10% ung thư ở phế quản nhỏ (ung thư ngoại vi). Ung thư phế quản phế nang cũng được nói tới. Tổ chức Y tế thế giới phân loại mô bệnh học các khối u phổi và màng phổi như sau:
Phân loại mô bệnh học các u phổi năm 1999 của TCYTTG:
- Ung thư biểu mô dạng biểu bì.
- Ung thư biểu mô tế bào nhỏ.
- Ung thư biểu mô tuyến.
- Ung thư biểu mô tế bào lớn.
- Ung thư biểu mô tuyến-dạng biểu bì.
- Ung thư biểu mô với các thành phần đa hình thể, sarcoma.
- U carcinoid.
- Ung thư biểu mô dạng tuyến nước bọt.
- Ung thư biểu mô không xếp loại.
Đa số các ung thư phế quản thuộc vào 4 nhóm đầu tiên.
2.2. Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ
– Thuốc lá, thuốc lào
Rottman (1898) nghiên cứu các ca ung thư phổi trên công nhân nhà máy thuốc lá ở Leipzig đã đề cập tới vai trò gây bệnh của thuốc lá. Mối liên quan nguyên nhân và hậu quả giữa hút thuốc và ung thư phổi được thấy rõ từ những năm 1950 bằng các nghiên cứu dịch tễ học bệnh – chứng và được khẳng định từ những năm 1960 bởi Hội Y học Hoàng gia Anh và Hội phẫu thuật tổng quát Hoa Kỳ.
Trong khói thuốc lá có chứa hơn 4000 hoá chất, trong đó có trên 40 chất có khả năng gây ung thư chủ yếu là các hợp chất thơm có vòng đồng như benzopyrenes, các nitrosamines, các kim loại như arsenic, nickel, chrome, các đồng vị phóng xạ… Các chất này làm huỷ biến niêm mạc, biến đổi tế bào dẫn đến ác tính hoá.
Người hút thuốc có nguy cơ mắc ung thư phổi cao hơn so với người không hút thuốc từ 6 đến 30 lần tuỳ theo tuổi bắt đầu hút và số lượng thuốc hút tính bằng đơn vị bao năm (bao năm = số bao thuốc hút mỗi ngày × số năm hút).
Nghiên cứu thống kê dịch tễ cho thấy, 86% ung thư phổi ở nam giới và 46% ung thư phổi ở nữ giới có liên quan đến thuốc lá.
Hút thuốc thụ động cũng làm tăng nguy cơ mắc ung thư phổi lên gấp 1,5 lần so với người không tiếp xúc với khói thuốc.
– Yếu tố nghề nghiệp
Công nhân làm việc trong môi trường có phơi nhiễm với một trong các yếu tố sau đây có nguy cơ mắc ung thư phổi:
- Tia xạ ion hoá (Radon): trong các hầm mỏ, một số công trình xây dựng dân dụng, tình trạng ô nhiễm khí radon từ các vật liệu.
- Chrome, sắt, arsenic, nickel, silic, chloro-methyl-ether, các hydrocarbon thơm đa vòng.
- Amiăng: khi con người tiếp xúc với bụi amiăng thì nguy cơ mắc ung thư phổi tăng lên gấp 10 lần, đặc biệt nếu người đó có hút thuốc lá kèm theo, nguy cơ sẽ tăng lên gấp 100 lần.
– Yếu tố không liên quan với nghề nghiệp:
- Tia xạ: khí moutard (trong thế chiến thứ nhất), bom nguyên tử, xạ trị cho bệnh nhân u lympho Hodgkin.
- Do ô nhiễm không khí: ở các vùng, các khu công nghiệp.
- Nhiễm virus: nhiễm virus HPV, EBV có nguy cơ mắc ung thư phổi.
- Bệnh lý phế quản phổi: xơ phổi, sau lao phổi, sarcoidosis…
- Yếu tố di truyền: có thể có yếu tố gia đình liên quan đến một số đột biến gen gây ung thư phổi. Các tế bào ung thư phổi có những sai lệch nhiễm sắc thể cả về số lượng và cấu trúc. Cùng với các bất thường nhiễm sắc thể là những bất thường về gen. Trong ung thư phổi, những bất thường về di truyền thường gặp bao gồm: khuếch đại gen MYC, đột biến gây hoạt hoá gen RAS, đột biến gây bất hoạt gen p53, gen p16 và gen RB. Những bất thường này kích thích ung thư phổi phát triển và thoát khỏi sự chết tế bào theo chương trình (apoptosis).
- Yếu tố dinh dưỡng: một số nghiên cứu chỉ ra rằng bữa ăn ít rau và hoa quả; bữa ăn nhiều thực phẩm nướng, chiên có nguy cơ mắc ung thư phổi cao hơn, đặc biệt nếu bệnh nhân có phơi nhiễm với khói thuốc lá kèm theo.
- Yếu tố nhân khẩu học:
Giới tính: ở Pháp ung thư phế quản gây tử vong đứng hàng đầu trong các loại ung thư ở nam giới (12.000 người mới mắc/năm) tỷ lệ nam/nữ là 6,1/1. Nghiên cứu tại Khoa Hô hấp – Bệnh viện Bạch Mai thấy 85-90% số người bị ung thư phổi là nam giới.
Tuổi: ung thư phổi thường gặp nhiều nhất ở tuổi 40-60 tuổi, dưới 40 ít gặp và trên 70 tuổi tỷ lệ cũng thấp. Tuy nhiên trên thực tế ung thư phổi có thể gặp ở bất kỳ tuổi nào.
2.3. Triệu chứng lâm sàng
2.3.1. Giai đoạn tiềm tàng
– Triệu chứng phế quản: đa số ung thư vùng rốn phổi lúc đầu biểu hiện ho khan hoặc khạc đờm, ho kéo dài, dùng các thuốc điều trị triệu chứng không đỡ. Người hút thuốc lá việc chẩn đoán khó khăn hơn vì người hút thuốc lá thường xuyên có triệu chứng ho hoặc khạc đờm. Trên lâm sàng nếu người có tuổi trên 40, nghiện thuốc lá, có triệu chứng hô hấp nếu trên cần phải chụp X-quang phổi và soi phế quản để chẩn đoán.
– Ho ra máu: triệu chứng này gặp khoảng 50% các trường hợp, ho ra máu rất ít, lẫn với đờm thường có về buổi sáng và kéo dài trong nhiều ngày.
– Khám phổi có thể thấy tiếng rít khí phế quản (wheezing), chứng tỏ khối u đã làm tắc lòng phế quản không hoàn toàn.
– Hội chứng viêm phế quản phổi cấp hoặc bán cấp: thường gặp trong ung thư phế quản thể trung tâm, có biểu hiện như một viêm phổi hoặc phế quản phế viêm. Cần nghĩ…
– Đến ung thư khi bệnh nhân hết sốt, không ho, không khạc đờm mà hình ảnh X-quang còn tồn tại lâu > 1 tháng.
2.3.2. Ung thư tiềm tàng
Ung thư phế quản đôi khi không có dấu hiệu gì về lâm sàng trong một thời gian dài, thường gặp đối với thể ung thư phế quản type biểu mô vảy.
2.3.3. Những dấu hiệu chứng tỏ ung thư đã lan toả
– Đau ngực: không có vị trí đau rõ rệt, thường đau bên tổn thương, đau kiểu thần kinh liên sườn. Có khi đau quanh bả vai, mặt trong cánh tay (hội chứng Pancoast – Tobias) do trường hợp ung thư ở đỉnh phổi. Đôi khi, triệu chứng đau ngực có thể làm cho thầy thuốc nhầm là đau thần kinh liên sườn.
– Khó thở: khó thở ít gặp, thường do tắc lòng phế quản và xẹp phổi hoàn toàn, nếu khó thở kiểu thanh quản và có tiếng thở rít (wheezing) có thể do khối u chèn ép ở ngã ba khí phế quản, cũng có khi khó thở do liệt cơ hoành.
– Khó nói: giọng khàn, giọng đôi do thần kinh quặt ngược bị chèn ép.
– Khó nuốt: do thực quản bị chèn ép.
– Hội chứng chèn ép tĩnh mạch chủ trên: phù áo khoác, tuần hoàn bàng hệ ở ngực, mặt, môi tím.
– Hội chứng tràn dịch màng phổi: ung thư di căn vào màng phổi – phải chọc hút dịch màng phổi xét nghiệm tế bào, sinh thiết màng phổi, nội soi màng phổi để chẩn đoán.
– Hội chứng Claude-Bernard-Horner: do chèn ép thần kinh giao cảm cổ. Bệnh nhân có biểu hiện nửa mặt đỏ, khe mi mắt hẹp, đồng tử nhỏ, nhãn cầu tụt về phía sau.
2.3.4. Dấu hiệu ngoài phổi
Bệnh nhân thường gầy, sút cân. Có thể có sốt nhẹ, tốc độ lắng máu tăng, bạch cầu tăng.
Đánh giá toàn trạng dựa theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới, giúp cho nhận định bệnh nhân khách quan và lựa chọn phương pháp điều trị.
| Bậc thể trạng | Đánh giá |
|---|---|
| 0 | Hoạt động bình thường |
| 1 | Mệt nhưng hoạt động thể lực bị hạn chế ít |
| 2 | Nằm tại giường dưới 50% thời gian ban ngày |
| 3 | Nằm tại giường trên 50% thời gian ban ngày |
| 4 | Nằm liệt giường |
– Hội chứng Pierre-Marie: ngón tay dùi trống, sưng đau các khớp nhỏ và nhỡ, đau dọc các xương dài.
– Xâm lấn hạch bờ trước cơ bậc thang, hạch thượng đòn. Cần chọc hút, sinh thiết hạch để chẩn đoán.
2.3.5. Dấu hiệu nội tiết – thần kinh
– Có thể có vú to một bên hoặc hai bên ở nam giới.
– Hội chứng Cushing tiến triển nhanh do khối u bài tiết ra chất có hoạt tính giống hormon ACTH (ACTH like).
– Hội chứng Schwartz-Bartter: giảm natri trong máu, giảm áp lực thẩm thấu máu, natri niệu bình thường hoặc tăng, áp lực thẩm thấu niệu tăng, không có suy thận hoặc tuyến thượng thận.
2.3.6. Cận lâm sàng
– X-quang phổi: là xét nghiệm rất quan trọng và không thể thiếu trong chẩn đoán ung thư phế quản.
- Hình ảnh trực tiếp: đám mờ thường có đường kính trên 3 cm, bờ không rõ, có múi, hoặc tua gai. Ít khi thấy có vôi hoá trong đám mờ, nếu có thì thường lệch tâm. Khi hoại tử có thể có hình hang thành dày, bờ bên trong gồ ghề.
- Hình ảnh gián tiếp: do u chèn ép vào đường thở tạo nên hình ảnh “khí cạm”, xẹp phổi, viêm phổi dưới chỗ chít hẹp, hoặc chèn ép thần kinh hoành gây liệt hoành…
– Chụp cắt lớp vi tính ngực có tiêm cản quang tĩnh mạch: thăm dò này rất có giá trị trong chẩn đoán và xếp loại giai đoạn TNM. Trên phim chụp thấy rõ khối u phổi, hạch trung thất, có thể thấy u xâm lấn các thành phần trong lồng ngực, tràn dịch màng phổi-màng tim, huỷ xương sườn, cột sống, xẹp phổi, hoặc tổn thương phổi kế.
– Kỹ thuật thăm dò khác:
- Thăm dò chức năng hô hấp: đánh giá khả năng phẫu thuật cắt bỏ thuỳ phổi hoặc cả bên phổi.
- Siêu âm ổ bụng, chụp cắt lớp vi tính hoặc cộng hưởng từ sọ não, xạ hình xương toàn thân: đánh giá di căn của khối u.
- Định lượng các dấu ấn ung thư (tumor marker): CEA, Cyfra 21-1, NSE. Các dấu ấn ung thư chủ yếu có giá trị tiên lượng và theo dõi tái phát u sau mổ, ít có giá trị chẩn đoán xác định.
2.3.7. Phương pháp lấy bệnh phẩm chẩn đoán xác định
– Xét nghiệm đờm tìm tế bào ung thư.
– Chọc hút, sinh thiết hạch thượng đòn.
– Chọc hút dịch màng phổi làm xét nghiệm tế bào học, sinh thiết màng phổi mù, nội soi màng phổi sinh thiết tìm tế bào ung thư.
– Soi phế quản tìm tế bào ung thư trong dịch phế quản, sinh thiết khối u hoặc sinh thiết xuyên vách phế quản.
– Chọc hút, sinh thiết xuyên thành ngực dưới hướng dẫn của X-quang, siêu âm hoặc cắt lớp vi tính ngực lấy bệnh phẩm làm tế bào học, mô bệnh học.
2.3.8. Chẩn đoán sớm
Nam giới > 45 tuổi, nghiện thuốc lá có các triệu chứng hô hấp: ho khan hoặc khạc đờm kéo dài, cần chụp X-quang phổi và xét nghiệm đờm hoặc dịch phế quản 4 tháng một lần để phát hiện sớm ung thư phổi. Tỷ lệ phát hiện sớm ung thư phổi bằng phương pháp sàng lọc này đạt từ 4-8 trường hợp trong 1.000 người.
2.3.9. Phân loại giai đoạn TNM theo AJCC và UICC 2009
Phân loại đánh giá TNM 8 năm 2017 do Hội Nghiên cứu ung thư phổi thế giới (The international association for the study of Lung cancer – IASLC) xây dựng
| T: U nguyên phát (Primary tumor) | |
| Tx | Không có bằng chứng của khối u nguyên phát |
| T0 | Không thấy u nguyên phát |
| Tis | Ung thư biểu mô tại chỗ (ung thư biểu mô vảy hoặc biểu mô tuyến) |
| T1 | U ≤ 3 cm |
| T1a(mi) | Ung thư biểu mô tuyến xâm nhập tối thiểu |
| T1a(ss) | U lan rộng trên bề mặt phế quản trung tâm |
| T1a | Kích thước khối u ≤ 1 cm |
| T1b | Kích thước khối u > 1 cm nhưng ≤ 2 cm |
| T1c | Kích thước khối u > 2 cm nhưng ≤ 3 cm |
| T2 | Kích thước khối u > 3 cm nhưng ≤ 5 cm hoặc có bất kỳ đặc điểm: – Xâm lấn vào màng phổi tạng – Xâm lấn phế quản gốc nhưng không tới carina (không phụ thuộc vào khoảng cách từ carina) hoặc xẹp phổi đến vùng phổi. |
| T2a | Kích thước khối u > 3 cm nhưng ≤ 4 cm |
| T2b | Kích thước khối u > 4 cm nhưng ≤ 5 cm |
| T3 | U > 5 cm nhưng ≤ 7 cm. Hoặc u có đường kính bất kỳ xâm lấn một trong các thành phần sau: thành ngực, thần kinh hoành, hoặc màng ngoài tim. Hoặc có những khối u vệ tinh khác ở cùng thùy. |
| T4 | U > 7 cm. Hoặc u có đường kính bất kỳ xâm lấn vào cơ hoành, tim, mạch máu lớn, khí quản, thần kinh thanh quản quặt ngược, thực quản, thân đốt sống, hoặc carina. Hoặc có những u khác ở thùy phổi khác cùng bên. |
| N: hạch Lympho vùng (Regional lymph nodes) | |
| N0 | Không di căn vào hạch vùng |
| N1 | Di căn vào hạch lympho quanh phế quản và/hoặc hạch quanh rốn phổi cùng bên, bao gồm cả xâm lấn trực tiếp |
| N2 | Di căn vào hạch lympho trung thất cùng bên và/hoặc dưới carina |
| N3 | Di căn vào hạch lympho trung thất đối bên, hạch rốn phổi đối bên, hạch cơ bậc thang cùng hoặc đối bên, hoặc hạch lympho thượng đòn |
| M: di căn xa (Distant metastasis) | |
| M0 | Không có di căn xa |
| M1a | Có khối u khác ở phổi đối bên. Hoặc tràn dịch màng phổi/màng tim do di căn ung thư; hoặc có những nốt ở màng phổi/màng tim |
| M1b | Di căn đơn ở 1 cơ quan |
| M1c | Di căn đa ổ ở 1 hoặc nhiều cơ quan |
Phân loại giai đoạn theo ký hiệu TNM và dưới nhóm
| T/M | Dưới nhóm | N0 | N1 | N2 | N3 |
| T1 | T1a ≤ 1 T1b > 1-2 T1c > 2-3 |
IA1 | IIB | IIIA | IIIB |
| IA2 | IIB | IIIA | IIIB | ||
| IA3 | IIB | IIIA | IIIB | ||
| T2 | T2a xâm lấn màng phổi/trung tâm T2a > 3-4 T2b > 4-5 |
IB | IIB | IIIA | IIIB |
| IB | IIB | IIIA | IIIB | ||
| IIA | IIB | IIIA | IIIB | ||
| T3 | T3 > 5-7 T3 xâm lấn T3 vệ tinh |
IIIA | IIIA | IIIB | IIIC |
| IIIA | IIIA | IIIB | IIIC | ||
| IIIA | IIIA | IIIB | IIIC | ||
| T4 | T4 > 7 T4 xâm lấn T4 nốt khác thùy, cùng bên |
IIIA | IIIA | IIIB | IIIC |
| IIIA | IIIA | IIIB | IIIC | ||
| IIIA | IIIA | IIIB | IIIC | ||
| M1 | M1a nốt đối bên M1a lan tràn màng phổi/màng tim M1b một di căn xa M1c nhiều di căn xa |
IVA | IVA | IVA | IVA |
3. UNG THƯ PHỔI THỨ PHÁT
Là di căn của ung thư từ một bộ phận khác như: dạ dày, gan, vú, bộ phận sinh dục. Ung thư phổi thứ phát có thể là trung tâm hay ngoại vi, tùy theo vị trí và giai đoạn. Triệu chứng như ung thư tiên phát – nhưng hình ảnh X-quang có hình ảnh nhiều bóng; thường có nhiều u là những hình tròn mờ đều, bờ nét có khi ở cả hai phổi. Ung thư phổi thứ phát không có chỉ định phẫu thuật.
4. ĐIỀU TRỊ UNG THƯ PHỔI
4.1. Điều trị triệu chứng
4.1.1. Điều trị giảm đau
Sử dụng các thuốc giảm đau theo phác đồ bậc thang của Tổ chức Y tế thế giới, tùy theo mức độ đau kết hợp với điều trị căn nguyên:
– Bậc 1: dùng thuốc giảm đau không opioid (paracetamol, aspirin), nếu cơn đau hoặc đau tăng thì sử dụng thuốc bậc 2.
– Bậc 2: opioid nhẹ (codein, tramadol) dùng cho cơn đau nhẹ hoặc trung bình. Có thể thêm thuốc giảm đau không opioid, nếu cơn đau hoặc đau tăng thì sử dụng thuốc bậc 3.
– Bậc 3: opioid mạnh (morphin, fentanyl) dùng cho cơn đau trung bình tới nặng. Có thể thêm thuốc giảm đau không opioid.
4.1.2. Điều trị khó thở
– Loại bỏ nguyên nhân gây khó thở: tràn dịch màng phổi, tràn dịch màng tim, u tắc đường thở lớn…
– Thở oxy kính mũi hoặc oxy mask.
– Dùng thuốc: thuốc giãn phế quản và corticoid dạng hít hoặc corticoid toàn thân.
– Biện pháp can thiệp điều trị khó thở do tắc nghẽn đường thở: nong khí phế quản, điều trị laser, điện đông cao tần, xạ trị nội phế quản, đặt giá đỡ (stent) khí, phế quản.
4.1.3. Điều trị ho
– Điều trị nguyên nhân gây ho: nhiễm trùng, tràn dịch màng phổi, suy tim, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính kết hợp.
– Thuốc giảm ho: terpin codein 4 – 6 viên/ngày, nếu bệnh nhân ho khan nhiều.
– Thuốc giãn phế quản: chỉ định cho những trường hợp ho kèm theo co thắt phế quản.
– Các biện pháp điều trị u phổi (hóa chất, xạ trị) cũng giúp giảm ho trong những trường hợp ho do chèn ép khí, phế quản.
4.1.4. Điều trị di căn xương
– Thuốc giảm đau theo bậc thang đóng vai trò quan trọng.
– Xạ trị tại chỗ, sử dụng liều xạ trị đơn 8Gy.
– Thuốc nhóm bisphosphonat có tác dụng ngăn ngừa quá trình tiêu xương tại chỗ di căn, giảm triệu chứng đau xương.
– Truyền tĩnh mạch đồng vị phóng xạ, tiêm phong bế dây thần kinh hoặc phẫu thuật.
4.1.5. Điều trị di căn não
– Corticoid: dexamethason là dạng corticoid được dùng phổ biến nhất do ít gây rối loạn điện giải so với các nhóm corticoid khác. Liều thường dùng của dexamethason điều trị u não là 16 mg/ngày, giảm liều nhanh và dừng trong 6 tuần.
– Xạ trị não: xạ trị não được chỉ định để dự phòng di căn ở những bệnh nhân đã cắt bỏ hoàn toàn hoặc gần cắt hết khối u phổi triệt để (hóa trị liệu và xạ trị). Xạ trị não cũng được chỉ định cho những bệnh nhân có di căn một hoặc nhiều ổ trong não.
– Phẫu thuật điều trị di căn não: áp dụng đối với ổ di căn não đơn độc. Có thể phẫu thuật cắt bỏ khối di căn hoặc xạ phẫu bằng dao gamma quay.
– Xạ phẫu điều trị di căn não: đặc biệt có giá trị với những tổn thương di căn não ở vị trí mà phẫu thuật đơn thuần không tiếp cận được hoặc ở những bệnh nhân không có chỉ định mổ.
– Hóa trị liệu: làm giảm chèn ép, giảm áp lực nội sọ. Các hóa chất được sử dụng bao gồm nhóm platin, temozolomid.
4.1.6. Chèn ép tủy sống
– Corticoid: dexamethason liều cao (96 mg/ngày) cho phép giảm nhanh tình trạng ép tủy.
– Xạ trị: chỉ định cho những bệnh nhân có di căn tủy sống nhưng không có biểu hiện chèn ép thần kinh. Hiệu quả điều trị tốt hơn khi phối hợp cùng corticoid.
– Phẫu thuật: chỉ định giới hạn trong chèn ép thần kinh tiến triển, đau do di căn tủy sống thất bại với các biện pháp điều trị nội khoa hoặc xạ trị.
4.1.7. Ho máu
Những trường hợp ho máu nhẹ, ho khạc đờm lẫn dây máu thường không cần phải xử trí.
Ho máu nặng > 200ml/24 giờ, cần phải tiến hành nội soi phế quản can thiệp, chụp mạch và gây tắc động mạch phế quản hoặc động mạch phổi.
Phẫu thuật cắt phổi vừa điều trị nguyên nhân vừa điều trị triệu chứng ho ra máu.
4.1.8. Tràn dịch màng phổi
– Chọc tháo dịch màng phổi khi bệnh nhân khó thở.
– Ngăn ngừa dịch tái phát: gây dính màng phổi qua nội soi màng phổi hoặc qua ống dẫn lưu bằng bột talc hoặc iodopovidon.
– Nếu không gây dính được: mở thông khoang màng phổi – ổ bụng.
4.1.9. Hội chứng chèn ép tĩnh mạch chủ trên
– Corticoid: 1-2 mg/kg/ngày, uống hoặc tiêm tĩnh mạch.
– Thuốc chống đông: tiêm dưới da: lovenox 40mg/ngày.
– Thuốc lợi tiểu: furosemid 40mg-1 viên/ngày.
– Xạ trị và/hoặc hoá trị liệu sẽ làm giảm triệu chứng chèn ép.
4.2 Điều trị bệnh ung thư phổi
4.2.1. Điều trị ung thư biểu mô tế bào nhỏ
– Loại khu trú ở lồng ngực: xạ trị kết hợp đa hoá trị liệu:
+ Hoá trị liệu: dùng phối hợp hai hoặc nhiều thuốc
Etoposid + Cisplatin.
Adriamycin + Etoposid + Cyclophosphamid + Cisplatin.
Dùng 6 đợt nếu có đáp ứng hoàn toàn, hoặc đến lúc bệnh tiến triển nếu đáp ứng bán phần.
– Xạ trị:
+ Xạ trị khối u (55 Gray), trung thất, hố thượng đòn. Có thể xen kẽ với hoá trị liệu.
+ Xạ trị dự phòng não ở các trường hợp đáp ứng hoàn toàn.
Loại lan rộng: đa hoá trị liệu.
4.2.2. Điều trị ung thư biểu mô không phải loại tế bào nhỏ
– Giai đoạn IA, IB, IIA, IIB: chỉ định phẫu thuật (cắt bỏ phân thuỳ, một thuỳ hoặc một phổi).
– Giai đoạn IIIA: hoá trị liệu trước sau đó phẫu thuật.
– Giai đoạn IIIB: hoá trị liệu có platin sau đó xạ trị.
– Giai đoạn IV: hoá trị liệu có platin và vinorelbine khi toàn trạng còn tốt.
Chỉ định phẫu thuật:
– Thể trạng chung của người bệnh còn tốt.
– Chức năng hô hấp: FEV1 > 1 lít.
– Tổn thương khu trú: chỉ định phẫu thuật cho những trường hợp ung thư phổi không tế bào nhỏ ở giai đoạn I đến giai đoạn IIIa theo phân loại TNM.
– Theo mô bệnh học: chỉ định phẫu thuật cho những ung thư phổi không tế bào nhỏ. Ung thư phổi tế bào nhỏ thường lan toả nhanh và di căn sớm, tại thời điểm phát hiện thường đã lan toả do vậy thường chỉ áp dụng hoá trị liệu và xạ trị liệu, ít khi có chỉ định phẫu thuật.
Chống chỉ định của phẫu thuật:
– Giai đoạn IIIb trở lên.
– Di căn xa: khi có biểu hiện di căn gan, xương, não hoặc phổi bên đối diện.
– Tràn dịch màng phổi ác tính: chỉ còn chỉ định nội soi gây dính màng phổi nhằm ngăn ngừa tràn dịch màng phổi tái phát.
– Hội chứng chèn ép tĩnh mạch chủ trên.
– Hội chứng Claude – Bernard – Horners.
– Liệt dây thanh âm gây nói khàn, liệt dây thần kinh hoành.
– Chèn ép, thâm nhiễm thực quản gây khó nuốt, nuốt nghẹn.
– Ung thư phổi tế bào nhỏ.
– Chống chỉ định khác: COPD nặng, rối loạn đông máu, suy tim, thể trạng suy kiệt…
5. TIẾN TRIỂN, BIẾN CHỨNG, TIÊN LƯỢNG
5.1. Tiến triển: ung thư phổi di căn qua 4 đường
– Đường động mạch phổi (thường gặp).
– Bạch mạch.
– Phế quản.
– Kế cận.
5.2. Biến chứng
– Áp xe phổi thứ phát.
– Bội nhiễm phổi.
– Xẹp phổi.
– Tràn khí màng phổi.
– Ho ra máu nặng do ung thư xâm lấn vỡ động mạch lớn.
5.3. Tiên lượng
Phụ thuộc loại tế bào, giai đoạn TNM, tình trạng toàn thân và đáp ứng điều trị.
6. KẾT LUẬN
Ung thư phổi là loại ung thư có tiên lượng nặng, tỷ lệ chẩn đoán sớm được thấp nên vấn đề phòng bệnh rất quan trọng. Không hút thuốc lá, thuốc lào hoặc nếu đã hút thì hãy cai thuốc để phòng ngừa ung thư phổi.
Cập nhật thông tin mới nhất về kiến thức y học và test y học tại facebook TEST Y HỌC
Tham gia nhóm zalo: Tài Liệu Y Học Tổng Hợp
Ôn thi nội trú, sau đại học TẠI ĐÂY
