Bài 1
CÁC THỜI KÌ CỦA TRẺ EM
ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ – BỆNH LÝ TỪNG THỜI KỲ
1. KHÁI NIỆM
Trẻ em là một cơ thể đang lớn và phát triển. Quá trình lớn và phát triển của trẻ em cũng tuân theo quy luật chung của sự tiến hóa sinh vật: từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phức tạp. Quá trình tiến hóa này không phải là một quá trình tuần tiến mà có những bước nhảy vọt, có sự khác biệt về chất chứ không đơn thuần về lượng.
Vì vậy, khi nói đến trẻ em không thể nói chung, mà mỗi lứa tuổi có những đặc điểm sinh học riêng, chi phối đến sự phát triển bình thường cũng như quá trình bệnh lý của trẻ. Thực tế trên cho thấy cần phân chia thành các thời kỳ của trẻ em để tiếp cận phát hiện, chẩn đoán và dự phòng các bệnh lý ở từng thời kỳ.
2. CÁC THỜI KỲ CỦA TRẺ EM
Sự phân chia các thời kỳ (hoặc giai đoạn) của trẻ em là một thực tế khách quan nhưng ranh giới giữa các giai đoạn không rõ ràng, giai đoạn trước chuẩn bị cho giai đoạn sau.
Có nhiều cách phân chia các thời kỳ của trẻ em. Các cách phân chia đều dựa vào những đặc điểm sinh học cơ bản của trẻ, nhưng cách gọi tên mỗi thời kỳ cũng như phân đoạn thời gian khác nhau tùy theo từng trường phái. Trước đây, cách phân chia của trường phái Nhi khoa Liên Xô (A.F Tua) đã được sử dụng rộng rãi ở nước ta.
Hiện nay, Tổ chức Y tế thế giới và đa số các quốc gia (Mỹ, nhiều nước châu Âu) phân chia lứa tuổi trẻ em như sau:
- Sơ sinh (newborn): từ lúc sinh – 28 ngày (1 tháng đầu sau sinh)
- Thời kỳ bú mẹ (infant): 1 tháng – 24 tháng
Một số tác giả đề cập thêm thời kỳ chập chững (toddler): 1 – 3 tuổi
- Thời kỳ tiền học đường (preschool child): 2 – 5 tuổi
- Thời kỳ học đường (school age): 6 – 12 tuổi
- Trẻ vị thành niên (adolescent): 10 – 19 tuổi (WHO)
3. ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ VÀ BỆNH LÝ TỪNG THỜI KỲ
3.1. Thời kỳ trong tử cung
Thai kỳ này tính từ lúc thụ thai cho đến khi đẻ, kéo dài 280 – 290 ngày kể từ ngày đầu tiên của chu kỳ kinh nguyệt cuối cùng và chia làm hai giai đoạn:
*Giai đoạn phát triển phôi: 3 tháng đầu, là giai đoạn hình thành và biệt hóa cơ quan (organogenesis). Vào tuần thứ 8, phôi nặng khoảng 1 gram và dài 2,5 cm; đến tuần thứ 12 nặng 14 gram và dài khoảng 7,5 cm. Như vậy, giai đoạn này phôi tăng cân ít, chủ yếu phát triển chiều dài, đến cuối thai kỳ này tất cả các cơ quan đã hình thành đầy đủ để tạo nên một con người thật sự.
Một số yếu tố độc hại (hóa chất, thuốc, virus,..) có thể gây rối loạn hoặc cản trở sự hình thành các cơ quan, gây quái thai hoặc các dị tật sau này.
*Giai đoạn phát triển thai: đến tháng thứ 4 đã hình thành rau thai và qua đó người mẹ trực tiếp nuôi thai. Vì vậy, thời gian này thai lớn rất nhanh: 6 tuần thứ 16, cân nặng tăng đến 100 gram và dài khoảng 17 cm, tuần thứ 28 cân nặng đạt được 1000 gram và dài 35 cm.
Sự tăng cân của thai phụ thuộc vào sự tăng cân của mẹ, cũng như khả năng giãn nở của tử cung. Tính đến cuối thai kỳ, người mẹ tăng được từ 8 – 12 kg. Trong đó, quý I tăng 0 – 2 kg, quý II tăng 3 – 4 kg, quý III tăng 5 – 6 kg.
Theo tiêu chuẩn của Tổ chức Nông Lương thế giới (FAO), trong thai kỳ mang thai, người mẹ phải tăng trung bình được 12,5 kg, trong đó 4 kg mỡ, là nguồn dự trữ để sản xuất sữa. Nếu người mẹ không tăng đủ cân trong quá trình thai nghén sẽ làm tăng nguy cơ mẹ bị suy kiệt, cân nặng trẻ sơ sinh thấp và tỷ lệ tử vong cao.
Vì vậy, để đảm bảo cho thai nhi phát triển bình thường các bà mẹ khi mang thai cần:
- Trước khi dự định mang thai 3 tháng, cần kiểm tra sức khỏe tổng quát cả vợ và chồng, bà mẹ cần được cung cấp các vi chất, dinh dưỡng (đặc biệt là acid folic, vitamin D, sắt), tiêm chủng một số vaccin như sởi, thủy đậu, quai bị, Rubella, cúm, uốn ván…
- Khám thai, tư vấn định kỳ, ít nhất 3 lần trong suốt thai kỳ mang thai.
- Thận trọng khi dùng thuốc, tránh tiếp xúc với các yếu tố độc hại.
- Chế độ lao động hợp lý, hỗ trợ tinh thần, tạo cảm giác thoải mái, hạn chế stress.
- Chế độ dinh dưỡng đầy đủ, đảm bảo từ 2400 – 2500 calo/ngày.
3.2. Thời kỳ sơ sinh
Thời kỳ sơ sinh tính từ lúc đẻ đến 28 ngày tuổi, có đặc điểm sinh học chủ yếu là sự thích nghi với môi trường bên ngoài tử cung.
Có sự khác biệt rất lớn khi trẻ đột ngột chuyển từ môi trường tử cung sang môi trường bên ngoài khi ra đời (bảng 1.1). Đứa trẻ muốn tồn tại phải có sự thích nghi tốt về:
- Hô hấp: phổi bắt đầu hoạt động.
- Tuần hoàn: vòng tuần hoàn kín thay thế vòng tuần hoàn rau thai.
- Huyết học: thay HbF thành HbA1, giảm số lượng hồng cầu.
- Các cơ quan khác (tiêu hóa, thận, thần kinh) cũng có những biến đổi.
Bảng 1. Sự khác biệt giữa môi trường trước và sau sinh
| Trước sinh | Sau sinh | |
| Môi trường vật lý | Nước | Không khí |
| Nhiệt độ môi trường | Ổn định (37°C) | Dao động |
| Các kích thích cảm giác | Rung động | Nhiều loại khác nhau |
| Dinh dưỡng | Phụ thuộc vào chất dinh dưỡng trong máu mẹ | Sữa mẹ hoặc các loại sữa thay thế |
| Cung cấp oxy | Từ mẹ qua rau thai đến con | Hô hấp ở phổi |
| Bài tiết sản phẩm chuyển hóa | Qua máu mẹ | Qua da, phổi, thận, đường tiêu hóa của trẻ |
Một đặc điểm sinh học nổi bật của trẻ trong thời kỳ sơ sinh là chức năng các cơ quan và hệ thống đều chưa hoàn thiện, nhưng biến đổi rất nhanh, đặc biệt trong tuần đầu cuộc sống.
Về mặt bệnh lý, thời kỳ này bao gồm:
- Các bệnh lý trước đẻ: dị tật bẩm sinh, rối loạn chuyển hóa bẩm sinh, đẻ non.
- Các bệnh do đẻ: sang chấn, ngạt,…
- Các bệnh mắc phải sau đẻ: các bệnh nhiễm khuẩn toàn thân hoặc tại chỗ.
Muốn hạn chế tỷ lệ tử vong cho trẻ sơ sinh cần:
- Chăm sóc trước đẻ: chăm sóc cho bà mẹ và khám thai định kỳ.
- Thực hiện tốt các biện pháp sinh an toàn, hạn chế tai biến do trong quá trình đẻ.
- Vô khuẩn trong chăm sóc và giữ ấm cho trẻ.
- Bảo đảm cho trẻ bú mẹ sớm ngay sau sinh để trẻ được bú sữa non, loại sữa cung cấp nhiều chất dinh dưỡng và miễn dịch cho trẻ.
3.3. Thời kỳ bú mẹ (thời kỳ nhũ nhi)
Thời kỳ này tiếp theo thời kỳ sơ sinh cho đến 24 tháng.
Đặc điểm sinh học cơ bản của trẻ bú mẹ là:
- Tốc độ tăng trưởng nhanh, nhất là trong 3 tháng đầu. Quá trình đồng hóa mạnh hơn quá trình dị hóa. Do đó, nhu cầu dinh dưỡng cao.
- Chức năng các cơ quan phát triển nhanh nhưng vẫn chưa hoàn thiện, đặc biệt chức năng tiêu hóa, tình trạng miễn dịch thụ động (IgG từ mẹ truyền sang) giảm nhanh trong khi khả năng tạo globulin miễn dịch còn yếu.
- Đã hình thành hệ thống tín hiệu thứ nhất (các phản xạ có điều kiện) và đến cuối năm thứ nhất trẻ bắt đầu phát triển hệ thống tín hiệu thứ hai (trẻ bắt đầu nói).
Về bệnh lý, thời kỳ này hay gặp:
- Các bệnh lý dinh dưỡng và tiêu hóa: suy dinh dưỡng, thiếu máu dinh dưỡng, còi xương, tiêu chảy cấp.
- Các bệnh nhiễm khuẩn mắc phải như viêm phổi, viêm màng não mủ. Nói chung các bệnh nhiễm khuẩn dễ có xu hướng lan tỏa.
- Các bệnh lý thần kinh và phát triển như xuất huyết não, động kinh, bại não, chậm phát triển tâm thần – vận động…
Về chăm sóc trẻ trong thời kỳ này cần chú ý các mặt sau đây:
- Đảm bảo dinh dưỡng: cho trẻ bú mẹ và ăn sam đầy đủ, đúng thời điểm.
- Đảm bảo tiêm phòng đầy đủ và đúng thời gian, đúng kỹ thuật.
- Vệ sinh thân thể, giữ ấm.
- Đặc biệt cần theo dõi quá trình phát triển của trẻ theo các mốc lứa tuổi, cả về thể chất và tinh thần, vận động, quan tâm tăng cường giao tiếp, tương tác với trẻ.
3.4. Thời kỳ tiền học đường
Có thể làm hai giai đoạn:
- Giai đoạn nhà trẻ (thời kỳ chập chững: toddler): từ 1 tuổi đến 3 tuổi
- Giai đoạn mẫu giáo (hay còn là tuổi tiền học đường): từ 3 tuổi đến 5 tuổi
Đặc điểm sinh học chủ yếu:
- Tốc độ tăng trưởng chậm hơn.
- Chức năng cơ bản của các cơ quan dần dần hoàn thiện.
- Chức năng vận động phát triển nhanh, hệ cơ phát triển, trẻ có khả năng phối hợp động tác khéo léo hơn.
- Trí tuệ phát triển nhanh, đặc biệt về ngôn ngữ. Trẻ bắt đầu hình thành và tăng cường các mối quan hệ tương tác, giao tiếp đa dạng với trẻ cùng lứa và người thân.
Về bệnh lý:
- Ở thời kỳ tiền học đường, xu hướng bệnh ít lan tỏa hơn.
- Xuất hiện các bệnh có tính chất dị ứng: hen phế quản, nổi mề đay, viêm da cơ địa…
- Do tiếp xúc rộng rãi ở các môi trường mầm non, trẻ dễ mắc một số bệnh lây nhiễm như sởi, thủy đậu, chân tay miệng… nhưng nếu được tiêm chủng tốt có thể hạn chế các bệnh lý này.
- Các rối loạn phát triển như chậm phát triển tâm thần vận động, rối loạn phổ tự kỷ…
Trong giai đoạn này, việc giáo dục thể chất và tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển tâm sinh lý có một vai trò hết sức quan trọng.
3.5. Thời kỳ học đường (thiếu niên)
Đặc điểm sinh học chủ yếu:
- Hình thái và chức năng các cơ quan đã phát triển hoàn toàn.
- Giai đoạn tiền dậy thì tốc độ tăng trưởng nhanh, trẻ gái tăng trưởng sớm hơn trẻ trai 1 – 2 năm.
- Hệ cơ phát triển mạnh, răng vĩnh viễn thay thế cho răng sữa.
- Tế bào vỏ não đã hoàn toàn biệt hóa, chức năng vỏ não phát triển mạnh và phức tạp hơn, trí tuệ phát triển và hình thành rõ rệt tâm sinh lý giới tính.
Về bệnh lý: gần giống như người lớn. Trẻ dễ mắc các bệnh như thấp tim, viêm cầu thận và các bệnh xuất hiện trong quá trình học tập như bệnh biến dạng cột sống (gù, vẹo), tật khúc xạ, bệnh răng miệng và rối loạn tâm lý, cảm xúc (các rối loạn lo âu, tiểu dầm, rối loạn tic…).
Do những đặc điểm sinh bệnh nổi trên, ở nhiều nước đã hình thành chuyên ngành y tế học đường để chăm sóc tốt sức khỏe cho trẻ em ở lứa tuổi này.
3.6. Thời kỳ dậy thì
Thời kỳ dậy thì thực ra bắt đầu từ lứa tuổi thiếu niên, khi có biểu hiện của các đặc tính sinh dục thứ phát (thay đổi tuyến vú và tinh hoàn, mọc lông nách và lông mu, bước “nhảy vọt tăng trưởng”). Tuổi dậy thì thay đổi theo giới, tình trạng dinh dưỡng, môi trường văn hóa, xã hội…
Bảng 2 là tuổi dậy thì trung bình của trẻ vị thành niên các tỉnh phía Bắc Việt Nam, theo nghiên cứu năm 1995. Hiện nay, tuổi dậy thì có xu hướng xảy ra sớm hơn.
Bảng 2. Tuổi dậy thì của trẻ vị thành niên Việt Nam (1995)
| Trai | Gái | |
| Tuổi bắt đầu dậy thì | 13 năm 2 tháng ± 1 năm | 11 năm 11 tháng ± 1 năm 2 tháng |
| Tuổi dậy thì hoàn toàn | 15 năm 2 tháng ± 1 năm 3 tháng | 14 năm 6 tháng ± 1 năm |
Đặc điểm sinh học chủ yếu của thời kỳ này:
- Sự thay đổi về hệ thần kinh – nội tiết, mà nổi bật là sự hoạt động của các tuyến sinh dục, gây ra những biến đổi về hình thái và sự tăng trưởng của cơ thể. Sau khi dậy thì hoàn toàn, tốc độ tăng trưởng chậm lại và ngừng hẳn ở nữ vào tuổi 19 – 20 và nam ở tuổi 21 – 25.
- Có sự thay đổi về tâm lý (cảm xúc giới tính, tính cách, nhân cách…).
Về bệnh lý: dễ bị rối loạn liên quan đến nội tiết như trứng cá, rối loạn kinh nguyệt, rối loạn trầm cảm, lo âu, tự sát, nghiện chất… cũng như các rối loạn phát triển giới tính. Cần lưu ý quan tâm giáo dục giới tính ở vị thành niên và phát hiện sớm các dấu hiệu trầm cảm.
4. KẾT LUẬN
Sự thay đổi và phát triển ở các thời kỳ của trẻ em phụ thuộc vào nhiều yếu tố di truyền và môi trường sống (dinh dưỡng, gia đình, xã hội, văn hóa, giáo dục…). Vì vậy, ranh giới giữa các thời kỳ không cố định, có thể sớm hay muộn, tùy từng đứa trẻ, nhưng mọi trẻ đều trải qua các thời kỳ phát triển trên.
Cần nắm vững những đặc điểm sinh bệnh học của từng thời kỳ để vận dụng vào công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ sức khỏe trẻ em.
Cần có một quan điểm “động” trong việc nhìn nhận các thời kỳ phát triển của trẻ em.
Cập nhật thông tin mới nhất về kiến thức y học và test y học tại facebook TEST Y HỌC
Tham gia nhóm zalo: Tài Liệu Y Học Tổng Hợp
Ôn thi nội trú, sau đại học TẠI ĐÂY
