Bài 64
ĐẶC ĐIỂM HỆ THẦN KINH TRẺ EM
1. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU HỆ THẦN KINH
Hệ thần kinh bao gồm: hệ thần kinh trung ương (não và tủy sống); hệ thần kinh ngoại biên (thần kinh sọ, thần kinh tủy sống); hệ thần kinh thực vật.
Bảng 11.1. Phân chia hệ thần kinh trung ương và ngoại biên
| Hệ thần kinh trung ương |
| Não |
| Não trước
Bán cầu đại não Não trung gian (giữa 2 bán cầu đại não) |
| Não giữa |
| Não sau
Hành não Cầu não Tiểu não |
| Tủy sống |
| Đoạn cổ |
| Đoạn ngực |
| Đoạn thắt lưng |
| Đoạn cùng |
| Đoạn cụt |
| Hệ thần kinh ngoại biên |
| Thần kinh sọ và các nhân dây thần kinh sọ |
| 12 đôi dây thần kinh sọ |
| Thần kinh sống và các nhân dây thần kinh sống |
| 31 đôi dây thần kinh sống
8 đôi dây thần kinh sống cổ 12 đôi dây thần kinh sống ngực 5 đôi dây thần kinh sống thắt lưng 5 đôi dây thần kinh sống cùng 1 đôi dây thần kinh sống cụt |
1.1. Não bộ
- Hệ thần kinh được hình thành rất sớm, từ tuần thứ 2 của thời kỳ phôi từ lớp ngoại bì cùng với sự phát triển da.
- Sự phát triển quan trọng nhất là sự myelin hóa và các biến đổi ở vỏ não. Sự myelin hóa được bắt đầu từ tháng 4 của thời kỳ phôi thai.
- Ở trẻ sơ sinh, hệ thần kinh còn kém phát triển so với các cơ quan khác, não chưa trưởng thành và quá trình myelin hóa chưa hoàn thiện.
- Các dây thần kinh của bó tháp bắt đầu được bọc myelin từ 6 tháng tuổi và hoàn chỉnh khi trẻ 4 tuổi.
- Não trẻ sơ sinh có đủ các rãnh, các thùy và tiếp tục phát triển đến tuổi trưởng thành. Bề mặt não trẻ 6 tháng tuổi hoàn toàn giống não người lớn.
- Trọng lượng não bộ trẻ sơ sinh nặng khoảng 370–390 gam (não người lớn nặng 1400 gam). Nếu so với trọng lượng cơ thể thì não trẻ sơ sinh lớn hơn não người lớn. Cuối năm thứ nhất trọng lượng não tăng gấp 2,5 lần so với lúc đẻ, đến 9 tuổi não nặng 1400 gam, từ 9–20 tuổi có thể tăng thêm 100 gam.
- Chu vi vòng đầu hay chu vi chẩm trán ở trẻ mới sinh là 31–34 cm. Chu vi vòng đầu trung bình tăng 2–3 cm/tháng ở trẻ 1–3 tháng, tăng 1 cm/tháng ở trẻ 4–6 tháng, tăng 0,5 cm/tháng ở trẻ 6–9 tháng. Sau đó chu vi vòng đầu tăng chậm dần: ở trẻ 12 tháng tuổi vòng đầu khoảng 45–47 cm; trẻ 15 tuổi vòng đầu khoảng 52 cm. Cần đánh giá vòng đầu dựa vào biểu đồ vòng đầu để theo dõi quá trình phát triển (theo hình 11.1 và 11.2).

Hình 11.1. Chu vi vòng đầu trẻ trai 0–5 tuổi

Hình 11.2. Chu vi vòng đầu trẻ gái 0–5 tuổi
- Não trẻ em có 100 tỷ tế bào neuron như người lớn và vỏ não cũng chia 6 lớp nhưng đến 8 tuổi các tế bào mới được biệt hóa hoàn toàn như người lớn.
- Khác người lớn, sự phân biệt giữa chất trắng và chất xám cũng như lớp vỏ và dưới vỏ ở não bộ thời kỳ thai và ở trẻ sơ sinh chưa rõ rệt.
- Hệ thống mạch máu ở não trẻ sơ sinh phát triển mạnh, cấu tạo thành mạch còn mỏng và kém bền vững.
- Áp lực động mạch não bình thường từ 50–150 mmHg.
- Nhu cầu tiêu thụ oxy của não trẻ em lớn hơn so với não người lớn: lưu lượng máu não và tiêu thụ oxy ở trẻ 6 tháng tuổi khoảng 5,2 ml/100 gam não so với người lớn là 3,3 ml/100 gam não.
- Não trẻ dưới 2 tuổi chứa nhiều nước, nhiều protid và ít lipid hơn so với não người lớn.
1.2. Tiểu não
- Tiểu não gồm 3 phần: tiểu não nguyên thủy, tiểu não cổ, tiểu não mới.
- Tiểu não có chức năng điều hòa tự động đối với vận động, trương lực cơ, thăng bằng và phối hợp động tác. Chức năng điều hòa được hoàn thiện dần dần.
- Sự biệt hóa các tế bào thần kinh ở tiểu não hoàn thiện khi trẻ được 9–11 tháng (lúc này trẻ có thể giữ thăng bằng tập đứng và tập đi).
1.3. Tủy sống
Tủy sống là phần của trục thần kinh tiếp nối từ thân não đến thắt lưng.
- Tủy sống có hình trụ, hơi dẹt theo chiều từ trước ra sau.
- Tủy sống có hình chữ S có 2 chỗ uốn cong từ sau ra trước ở vùng cổ và thắt lưng.
- Chóp cùng tủy sống của trẻ em tương đương đốt sống thắt lưng 3, ở người lớn tương đương thắt lưng 2.
- Trọng lượng tủy sống ở trẻ sơ sinh là 2–6 gam, đến 5 tuổi tăng gấp 3 lần. Ở trẻ 14–15 tuổi trọng lượng tủy sống tăng gấp 5 lần ở trẻ sơ sinh và có trọng lượng như người lớn (khoảng 24–30 gam).
- Dây thần kinh sống ở trẻ nhỏ đi ngang, sau đó đi chếch dần cho đến tuổi trưởng thành sẽ đi xuống. Đoạn đuôi cùng của tủy sống đi thẳng đến rễ đuôi ngựa.
- Dịch não tủy được tạo ra từ đám rối mạch mạc của não thất bên tuần hoàn qua lỗ Monro xuống não thất III, sau đó qua cống Sylvius xuống não thất IV, rồi đổ vào các khoang tĩnh mạch, khoang dưới nhện của não và tủy sống qua các lỗ Magendie và Luschka.
- Hằng ngày dịch não tủy sẽ được hấp thu qua hạt Pacchioni (villi) ở khoang dưới nhện vào hệ tĩnh mạch. Dịch não tủy hấp thu mỗi giờ bằng lượng dịch được sản xuất ra: khoảng 20 ml.
- Lượng dịch não tủy ở trẻ sơ sinh 15–20 ml, ở trẻ 1 tuổi khoảng 35 ml, người lớn khoảng 120–150 ml. Màu sắc dịch não tủy trẻ sơ sinh hơi vàng, protein từ 0,4–0,8 g/l, phản ứng Pandy có thể dương tính, số lượng tế bào ≤ 20 bạch cầu/mm³. Dịch não tủy trẻ lớn giống người lớn: dịch trong, không màu, protein ≤ 0,45 g/l, tế bào ≤ 5 bạch cầu/mm³.
1.4. Hệ thần kinh thực vật
Gồm hai hệ giao cảm và phó giao cảm.
- Hệ giao cảm: gồm các sợi xuất phát ở sừng bên chất xám tủy sống, từ các đoạn lưng 1 đến thắt lưng 3.
- Hệ phó giao cảm gồm các sợi xuất phát từ các nhân Edinger-Westphal (cuống não) nhân nước bọt trên, nhân nước bọt dưới, nhân lưng (hành não) và đi theo các dây thần kinh sọ não III, VII, IX, X.
Những sợi xuất phát từ các trung tâm ở sừng trước chất xám tủy thuộc các đoạn tủy 1–4.
Hệ thần kinh thực vật hoạt động ngay sau đẻ. Hệ giao cảm ưu thế hơn hệ phó giao cảm.
2. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ VÀ BỆNH LÝ
2.1. Những đặc điểm sinh lý và bệnh lý
- Hộp sọ trẻ em có sự kết hợp giữa đặc tính hộp cứng có vai trò bảo vệ bộ não và sự thích nghi với vận động của cơ thể.
- Giải phẫu chức năng của não có tác dụng bảo vệ não đối với các tác động bên ngoài: lều tiểu não phân não ra làm hai phần: trên lều và dưới lều tiểu não. Vách giữa ngăn phần não trên lều thành hai nửa bán cầu não. Cấu trúc này giúp cố định não trong khung xương.
- Khả năng mềm dẻo của não được thể hiện khi não bị tổn thương có thể hồi phục. Não có khả năng tái tạo tại vị trí bị tổn thương. Hơn nữa não ở trẻ em có khả năng phát triển bù trừ tốt, bán cầu não lành có thể phát triển qua đường giữa sang bên bán cầu tổn thương.
- Do các tế bào thần kinh chưa biệt hóa nên phản ứng vỏ não có xu hướng lan tỏa, bất kỳ một kích thích nào cũng gây phản ứng toàn thân.
- Khả năng hưng phấn của vỏ não ở thời kỳ sơ sinh còn yếu, các kích thích ngoại cảnh thường quá mức nên dẫn đến tình trạng ức chế bảo vệ, trẻ ngủ nhiều.
- Các hoạt động dưới vỏ não thường chiếm ưu thế nên trẻ sơ sinh có vận động ngoại tháp như múa vờn.
- Các rốn thần kinh chưa được myelin hóa hoàn toàn nên phản xạ Babinski có thể dương tính sinh lý khi đánh giá ở trẻ dưới 2 tuổi.
- Nhu cầu tiêu thụ oxy của não trẻ em lớn hơn não người lớn do não đang ở giai đoạn biệt hóa và phát triển nhanh và trọng lượng.
- Não trẻ em đang trong giai đoạn phát triển và biệt hóa nên sóng điện não thay đổi theo tuổi: trẻ nhỏ sóng chậm hơn so với trẻ lớn, sau 8 tuổi sóng điện não ổn định giống người lớn.
2.2. Những đặc điểm bệnh lý
- Do não nhiều nước, các tế bào chưa biệt hóa, nên não dễ bị kích thích để gây co giật và dễ gây nên phản ứng não – màng não khi sốt.
- Não dễ bị tổn thương khi bị nhiễm độc so với người lớn.
- Do đặc điểm hệ thống mạch máu não phong phú, thành mạch mỏng dễ vỡ nên trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ dễ bị xuất huyết não, màng não.
- Não nhiều nước, ít tổ chức đệm nâng đỡ nên chấn thương nhỏ có thể gây tổn thương với các triệu chứng thần kinh khu trú.
Cập nhật thông tin mới nhất về kiến thức y học và test y học tại facebook TEST Y HỌC
Tham gia nhóm zalo: Tài Liệu Y Học Tổng Hợp
Ôn thi nội trú, sau đại học TẠI ĐÂY
