CHƯƠNG I. BÀI 3.1:
TỔNG QUAN BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH
1. ĐỊNH NGHĨA
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) là bệnh thường gặp, có thể dự phòng và điều trị được. Bệnh đặc trưng bởi sự tắc nghẽn luồng khí thở ra không hồi phục hoàn toàn, sự cản trở thông khí này thường tiến triển từ từ và liên quan đến phản ứng viêm bất thường của phổi với các phân tử hoặc khí độc hại mà trong đó khói thuốc đóng vai trò hàng đầu. Đợt cấp BPTNMT và các bệnh đồng mắc góp phần làm nặng thêm bệnh.
2. DỊCH TỄ HỌC BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH
– Theo Tổ chức Y tế thế giới ước tính có khoảng 340 triệu người mắc BPTNMT trên thế giới, với tỷ lệ mắc bệnh là 1,01% dân số thế giới vào năm 2001. Bệnh được xếp hàng thứ tư trong các nguyên nhân gây tử vong và là nguyên nhân gây tàn phế đứng hàng thứ mười hai.
– Dự đoán trong thập kỷ này số người mắc BPTNMT sẽ tăng gấp 3 – 4 lần và đến năm 2020 bệnh sẽ đứng hàng thứ ba trong các nguyên nhân gây tử vong và đứng hàng thứ năm trong gánh nặng bệnh tật toàn cầu.
– Tỷ lệ mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính cao nhất ở những nước đã và đang thịnh hành việc hút thuốc; ngược lại tỷ lệ mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính thấp ở những nước ít hút thuốc hơn hay những nước có tỷ lệ tiêu thụ thuốc lá trên mỗi cá thể thấp.
– Tần suất mắc BPTNMT trung bình và nặng ở Việt Nam đứng cao nhất trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương chiếm 6,7% dân số. Ngô Quý Châu và cộng sự (2006) nghiên cứu cắt ngang BPTNMT trong dân cư một số tỉnh thành phố phía Bắc cho thấy tỷ lệ mắc bệnh chung cho cả hai giới là 5,1%, tỷ lệ mắc bệnh ở nam là 6,7% và ở nữ là 3,3%.
– Theo Đinh Ngọc Sỹ và cộng sự (2009) nhận thấy tỷ lệ mắc BPTNMT ở những đối tượng trên 40 tuổi là 4,2%.
3. CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ GÂY BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH
3.1. Hút thuốc
Là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Khoảng 15 – 20% số những người hút thuốc có triệu chứng lâm sàng của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và có khoảng 80 – 90% các bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có hút thuốc. Trẻ em trong gia đình có người hút thuốc có các bệnh đường hô hấp với tỷ lệ cao hơn trẻ em trong gia đình không có người hút thuốc.
3.2. Các yếu tố khác
– Yếu tố môi trường:
- Ô nhiễm môi trường: tiếp xúc nặng nề với bụi và hóa chất nghề nghiệp (hơi, chất kích thích, khói), ô nhiễm không khí trong và ngoài nhà (khói bếp do đun củi, rơm, than…).
- Nhiễm trùng đường hô hấp: nhiễm trùng đường hô hấp ở trẻ em dưới 8 tuổi gây tổn thương lớp tế bào biểu mô đường hô hấp và các tế bào lông chuyển, làm giảm khả năng chống đỡ của phổi. Nhiễm virus, đặc biệt virus hợp bào hô hấp có khả năng làm tăng tính phản ứng phế quản, tạo cơ hội cho bệnh phát triển.
– Yếu tố cá thể:
- Tăng tính phản ứng của phế quản: là yếu tố nguy cơ phát triển bệnh phổi mạn tính tắc nghẽn. Tăng tính phản ứng phế quản gặp với tỷ lệ 8-14% ở người bình thường.
- Thiếu α1-antitrypsin: là yếu tố di truyền được xác định chắc chắn gây bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.
- Tuổi: tỷ lệ mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính cao hơn ở người già.
4. CƠ CHẾ BỆNH SINH
– Đặc điểm bệnh sinh của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là quá trình viêm nhiễm thường xuyên toàn bộ đường dẫn khí và nhu mô. Xâm nhập đại thực bào, tế bào lympho T (chủ yếu là CD8) và bạch cầu đa nhân trung tính.
Các tế bào viêm giải phóng ra rất nhiều chất trung gian hoạt mạch gồm: leucotrien B4 (LTB4), interleukin 8 (IL-8), yếu tố hoại tử u (TNF-α) và các chất khác có khả năng phá hủy cấu trúc của phổi và/hoặc duy trì tình trạng viêm tăng bạch cầu trung tính.
– Hít phải khói bụi và các chất độc, hút thuốc có thể gây ra tình trạng viêm cũng như phá hủy cấu trúc phế quản và phổi. Tình trạng viêm này sẽ dẫn đến bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.
5. GIẢI PHẪU BỆNH
Các thay đổi về mô bệnh học ở bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính quan sát thấy ở đường dẫn khí trung tâm, ngoại vi, nhu mô phổi và hệ thống mạch máu phổi.
– Đường dẫn khí trung tâm:
Khí quản, phế quản có đường kính bên trong lớn hơn 2 mm, có tình trạng xâm nhập tế bào viêm vào bề mặt lớp biểu mô. Phì đại tuyến tiết nhầy và tăng số lượng tế bào hình đài chế nhầy ở niêm mạc phế quản.
– Đường dẫn khí ngoại vi:
Các phế quản nhỏ và tiểu phế quản có đường kính bên trong nhỏ hơn 2 mm. Quá trình viêm mạn tính dẫn đến tổn thương và phá hủy thành phế quản. Quá trình phá hủy này dẫn đến tái cấu trúc lại thành phế quản với tăng thành phần collagen và tổ chức sẹo, làm hẹp lòng và gây tắc nghẽn đường thở vĩnh viễn.
– Sự phá hủy nhu mô phổi:
Ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính diễn biến gây ra giãn phế nang ở trung tâm hoặc toàn bộ tiểu thùy, nó có liên quan đến sự giãn và phá hủy tiểu phế quản hô hấp. Những tổn thương này xảy ra ở thủy trên của phổi ở những trường hợp nhẹ, nhưng ở giai đoạn bệnh tiến triển thì có thể xuất hiện ở toàn bộ phổi và gây phá hủy giường mao mạch phổi.
Sự mất cân bằng giữa men proteinase nội sinh và antiproteinase trong phổi – do yếu tố bẩm sinh hoặc do hoạt động của các tế bào viêm và hoạt động của đại thực bào – là cơ chế chính gây phá hủy phổi do giãn phế nang.
– Dày thành mạch máu
Dày thành mạch máu trong bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính thường bắt đầu từ giai đoạn sớm của bệnh. Dày lên của nội mạc là thay đổi đầu tiên có thể đo được, sau đó là sự lắng đọng cơ trơn và xâm nhập tế bào viêm vào thành mạch. Khi tình trạng bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính càng xấu đi thì khối lượng cơ trơn, proteoglycans và collagen thành mạch càng tăng do đó thành mạch càng dày lên.
6. LÂM SÀNG
– Bệnh nhân tuổi thường trên 40, có tiền sử hút thuốc hoặc nghề nghiệp có tiếp xúc với khói, bụi ô nhiễm.
– Bệnh nhân thường đến khám vì ho, khạc đờm, khó thở.
+ Ho nhiều về buổi sáng, ho cơn hoặc ho từng đợt, có kèm khạc đờm hoặc không.
+ Đờm nhầy, trong, từ đợt cấp có bội nhiễm thì màu trắng đục, xanh hoặc vàng.
+ Khó thở khi gắng sức, xuất hiện từ từ, tăng dần, giai đoạn muộn có khó thở liên tục.
– Khám lâm sàng:
+ Kiểu thở: thở mím môi nổi nhất là khi gắng sức.
+ Có sử dụng các cơ hô hấp phụ: co liên sườn, co kéo hõm ức, hố thượng đòn.
+ Có sử dụng cơ bụng khi thở ra: thở nghịch thường.
+ Đường kính trước sau lồng ngực tăng lên (lồng ngực hình thùng).
+ Dấu hiệu Campbell: khí quản đi xuống ở thì hít vào.
+ Dấu hiệu Hoover: giảm đường kính phần dưới lồng ngực khi hít vào.
+ Gõ vang ở bệnh nhân có giãn phế nang.
+ Nghe: tiếng tim mờ nhỏ, rì rào phế nang giảm, có thể thấy có ran rít, ran ngáy, ran ẩm và ran nổ.
– Dấu hiệu tăng áp lực động mạch phổi:
+ Mất lõm tim mất ếch do tăng mạch máu màng tiếp hợp.
+ Nhịp tim nhanh, có thể có loạn nhịp hoàn toàn.
+ T2 đanh mạnh, tiếng click tống máu, rung tâm thu ở ổ van động mạch phổi, ngựa phi phải tiền tâm thu.
+ Dấu hiệu Carvallo: thổi tâm thu ở dọc theo bờ trái xương ức tăng lên ở thì hít vào.
+ Tĩnh mạch cổ nổi, đập theo nhịp tim, tăng khi làm việc, gắng sức. Đau hạ sườn phải lan ra sau lưng. Phản hồi gan tĩnh mạch cổ dương tính.
+ Phù chân và cổ trướng.
Cập nhật thông tin mới nhất về kiến thức y học và test y học tại facebook TEST Y HỌC
Tham gia nhóm zalo: Tài Liệu Y Học Tổng Hợp
Ôn thi nội trú, sau đại học TẠI ĐÂY






