Bài 37
CÁC ĐƯỜNG DẪN TRUYỀN THẦN KINH
MỤC TIÊU1. Mô tả được các đường dẫn truyền vận động và cảm giác chính của hệ thần kinh, thông qua đó tích hợp được các phần riêng rẽ của hệ thần kinh. 2. Nêu được những liên hệ chức năng và lâm sàng thích hợp. |
1. ĐẠI CƯƠNG
Các nơron vận động và cảm giác của hệ thần kinh có nhiệm vụ dẫn truyền các xung động vận động từ thần kinh trung ương tới các cơ và tuyến ở ngoại vi và các xung động cảm giác từ các cơ quan cảm thụ ở ngoại vi về thần kinh trung ương. Để làm được điều này, các nơron vận động được sắp xếp thành chuỗi sao cho các sợi trục của chúng hướng về ngoại vi, sợi trục của nơron cuối cùng của chuỗi tiếp xúc với cơ hoặc tuyến; các nơron cảm giác được xếp theo chiều ngược lại. Chuỗi sắp xếp như vậy của các nơron được gọi là các đường dẫn truyền thần kinh.
2. CÁC ĐƯỜNG DẪN TRUYỀN CẢM GIÁC
Có nhiều loại cảm giác: các cảm giác nông từ da (xúc giác, cảm giác đau và nhiệt), cảm giác từ gân – cơ – khớp (cảm giác bản thể/cảm giác sâu), cảm giác từ các nội tạng và cảm giác từ các giác quan chuyên biệt. Các đường dẫn truyền khứu giác, thị giác và thính giác đã được mô tả ở các bài 14 – 16. Phần này chỉ nói về các đường cảm giác nông ở da và cảm giác bản thể.

Hình 37.1. Đường dẫn truyền cảm giác đau và nhiệt
2.1. Các đường dẫn truyền cảm giác nông
Cảm giác nông được ba nơron dẫn truyền về vỏ đại não.
Nơron 1 có thân nằm ở hạch gai (hạch rễ sau) hoặc hạnh cảm giác của một số thần kinh sọ (chủ yếu là thần kinh V). Các sợi của nơron 1 dẫn truyền xung động cảm giác từ da tới nơron 2 ở tuỷ sống hoặc thân não.
Nơron 2 có thân nằm ở sừng sau chất xám của tuỷ sống hoặc ở các nhân cảm giác của thần kinh sọ V. Sợi trục của chúng bắt chéo đường giữa trước khi đi lên tới đồi thị. Những sợi từ tuỷ sống đi lên tạo nên các dải tuỷ – đồi thị trước (dẫn truyền xúc giác) và bên (dẫn truyền cảm giác đau và nhiệt); những sợi từ các nhân thần kinh V đi lên tạo nên liềm sinh ba.
Nơron 3 là nơron của đồi thị và sợi trục của chúng đi lên vỏ não hồi sau trung tâm qua đường bao trong.
2.2. Đường cảm giác bản thể

Hình 37.2. Đường dẫn truyền các cảm giác bản thể, rung động và phân biệt xúc giác qua bó thon và bó chêm
Ngoài các sợi dẫn truyền cảm giác bản thể từ gân – cơ – khớp, đường này còn chứa cả các sợi dẫn truyền cảm giác áp lực ở da. Cảm giác bản thể cho ta nhận biết được vị trí của các bộ phận cơ thể, cảm giác áp lực cho phép ta phân biệt được các vật tiếp xúc với da (cảm giác xúc giác tinh tế). Đích đến của đường dẫn truyền cảm giác bản thể là vỏ tiểu não (không có ý thức) hoặc vỏ đại não (có ý thức).
Đường dẫn truyền cảm giác bản thể có ý thức gồm ba nơron:
Nơron 1 cũng nằm ở hạch gai. Điểm khác với đường cảm giác nông là sợi trục của nơron 1 không tận cùng ở sừng sau tuỷ sống mà đi lên trong các bó chêm và thon tới các nhân thon và chêm ở hành não.
Thân nơron 2 ở các nhân thon và chêm cho sợi trục bắt chéo đường giữa rồi đi lên đồi thị tạo nên liềm giữa.
Nơron 3 cho sợi trục chạy lên vỏ não hồi sau trung tâm qua đường bao trong.

Hình 37.3. Đường dẫn truyền cảm giác từ thụ thể cơ học ở khớp, da và cơ tới tiểu não
Đường dẫn truyền cảm giác bản thể không có ý thức gồm hai nơron:
Nơron 1 ở hạch gai cho sợi trục đi vào tận cùng ở sừng sau của chất xám tuỷ sống.
Nơron 2 nằm ở sừng sau tuỷ sống cho sợi trục đi lên tới vỏ của nhộng tiểu não (bắt chéo hoặc không bắt chéo). Những sợi bắt chéo tạo nên dải tuỷ – tiểu não trước, những sợi không bắt chéo tạo nên dải tuỷ – tiểu não sau và dải tuỷ tiểu não mỏ (với đoạn tuỷ cổ). Dải trước đi vào tiểu não qua cuống tiểu não trên, dải sau qua cuống tiểu não dưới.
3. CÁC ĐƯỜNG VẬN ĐỘNG
Đường này có thể không hoặc có ý thức.
3.1. Khái quát về đường vận động có ý thức
Đường vận động có ý thức do hai nơron vận động tạo nên. Thân nơron vận động trên nằm ở hồi trước trung tâm (vùng vận động thân thể) cho sợi trục đi xuống tới nhân vận động các thần kinh sọ hoặc sừng trước tủy sống bên đối diện, tạo nên dải tháp. Những sợi của dải tháp mà đi tới các nhân vận động thần kinh sọ gọi là các sợi vỏ – nhân, các sợi tới tuỷ sống là các sợi vỏ – tuỷ. Khi tới hành não dưới, phần lớn các sợi vỏ – tuỷ của dải tháp bắt chéo rồi tiếp tục đi xuống tủy sống, tạo nên dải vỏ – tuỷ bên; những sợi không bắt chéo ở hành não tạo nên dải vỏ – tuỷ trước. Thân nơron vận động dưới nằm ở sừng trước của tuỷ sống hoặc nhân vận động thần kinh sọ cho sợi đi tới các cơ vân ở ngoại vi.
3.2. Khái quát về đường vận động không có ý thức (ngoại tháp)
Đường ngoại tháp là con đường từ cấu tạo lưới của thân não đi xuống tuỷ sống qua các bó lưới – tuỷ giữa và bên. Vỏ đại não có đường liên hệ với cấu tạo lưới của thân não nhưng đường liên hệ này còn chịu ảnh hưởng của thể vân, nhân dưới đồi thị, chất đen và tiểu não qua những vòng tiếp nối phức tạp. Những trung tâm của các phản xạ thính giác (ở gò dưới của mái trung não), thị giác (ở gò trên của mái trung não), tư thế (nhân tiền đình) và trương lực cơ (nhân đỏ) cũng cho các dải sợi đi tới sừng trước tủy sống (các dải mái – tuỷ, kẽ – tuỷ, tiền đình tuỷ và đỏ – tuỷ). Những đường phản xạ này cũng được mô tả như là các đường ngoại tháp.
3.3. Mô tả chi tiết các đường vận động (đọc thêm)
Khoa học thần kinh hiện đại đã thu được nhiều kiến thức mới về các con đường đi lên và đi xuống. Dưới đây xin giới thiệu chi tiết về các đường đi xuống từ vỏ não để giúp thấy được phần nào tính phức tạp của chúng.
3.3.1. Các diện vận động của vỏ não
Vùng vỏ vận động thứ nhất:
Dựa trên các khác biệt về cấu trúc tế bào, Brodmann chia vỏ não thành 52 diện (vùng) giải phẫu. Diện vận động thứ nhất hay diện 4 của Brodmann, nằm ở hồi trước trung tâm và tiểu thuỳ cạnh trung tâm của thuỳ trán. Nó trải dài từ rãnh bên tới bờ trên của bán cầu và lấn một đoạn ngắn vào mặt trong của thuỳ trán tới phần trước tiểu thuỳ cạnh trung. Diện vỏ vận động bên trái chi phối nửa phải của cơ thể và diện vỏ vận động bên phải chi phối nửa cơ thể bên trái. Các nơron ở phần thấp nhất của diện này chi phối cho các cơ thanh quản và lưỡi, các nơron ở các vùng kế tiếp, theo trình tự lên cao hơn, chi phối cho các cơ mặt, ngón tay cái, bàn tay, cẳng tay, cánh tay, ngực, bụng, đùi, cẳng chân, bàn chân và đáy chậu. Các nơron chi phối cho các cơ cẳng chân, bàn chân và đáy chậu nằm ở tiểu thuỳ cạnh trung tâm. Ở người, các diện chi phối cho các cơ bàn tay, lưỡi và thanh quản lớn một cách không cân xứng (với độ lớn của các cơ của ba vùng này) và phù hợp với mức độ kiểm soát vận động rất tinh vi của não với các nhóm cơ này. Một bản đồ chức năng của vùng vỏ vận động giống như một hình ảnh cơ thể méo mó, lộn ngược và đảo ngược phải – trái. Bản đồ chức năng này được gọi là người lùn cân đối.
Các diện liên hợp vận động của vỏ não:
Ngay trước vùng vỏ vận động thứ nhất là diện vỏ tiền vận động, vốn là diện 6 của Brodmann nằm ở mặt bên của bán cầu. Diện tiền vận động chứa một người lùn cân đối giống với hình ảnh cơ thể ở diện 4. Phần lấn vào mặt trong bán cầu của diện 6 nằm ngay trước tiểu thuỳ cạnh trung tâm. Phần này của diện 6 là diện vận động phụ, vốn cũng chứa một bản đồ chức năng của các vận động cơ thể.
Các vùng khác của vỏ não mà có thể ảnh hưởng đến sự vận động bao gồm các diện 3, 1 và 2 của Brodmann trên hồi sau trung tâm, và diện vận động thứ hai nằm ở nơi mà các hồi trước và sau trung tâm liên tiếp với nhau tại đầu dưới của rãnh trung tâm. Diện cuối cùng này gối lên diện vỏ cảm giác thân thể thứ hai. Diện 8 của Brodmann ở hồi trán giữa cũng có vai trò kiểm soát vận động. Vùng này, với tên gọi là các trường mắt trán, chứa các nơron ảnh hưởng chuyên biệt lên các cử động mắt.
Các nơron vận động trên:
Theo nghĩa chặt chẽ nhất, các nơron vận động trên nằm ở các diện vận động của vỏ đại não. Các nơron này có thể ảnh hưởng hoặc trực tiếp lên các nơron vận động dưới nằm ở tuỷ sống và nhân vận động của các thần kinh sọ, hoặc gián tiếp qua các nhóm nơron khác ở thân não, và các nhóm này được xem như là các nơron vận động trên của thân não (bao gồm cấu tạo lưới, nhân đỏ, gò trên, nhân kẽ của Cajal). Các nơron vận động trên tiếp nối synap trực tiếp lên các nơron vận động dưới hặc gián tiếp qua các interneuron (nơron liên hợp)
3.3.2. Các nơron vận động dưới
Các nơron vận động dưới là chặng cuối cùng của đường dẫn truyền xung động vận động từ thần kinh trung ương tới cơ và liên kết trực tiếp với các cơ qua các tiếp nối thần kinh – cơ (các bản tận cùng vận động). Thân tế bào của chúng nằm ở sừng trước của tuỷ sống và nhân vận động của các thần kinh sọ (trong thần kinh trung ương), các sợi trục của chúng tiếp nối synap với các sợi cơ ngoài thoi cơ và trong thoi cơ. Các nơron vận động dưới gồm hai loại chính: nơron alpha chi phối các sợi cơ ngoài thoi cơ (các sợi gây ra cử động), các nơron gamma chi phối các sợi cơ trong thoi cơ (qua đó điều hoà sự nhạy cảm của thoi cơ dành cho sự điều chỉnh tính dễ bị kích thích của nơron alpha qua các sợi cảm giác Ia và nhóm II).
3.3.3. Dải vỏ – tuỷ và dải vỏ – nhân
Dải (hay các sợi) vỏ – tủy:
Dải vỏ – tuỷ, vốn cùng với các sợi vỏ – nhân được gọi chung là dải tháp, kiểm soát các cử động chủ yếu mang tính kĩ năng của các cơ nằm ở phần xa của các chi và kích thích các nơron vận động alpha, beta và gamma mà chi phối các cơ gấp ở xa. Khoảng chừng một phần ba các sợi trục trong dải vỏ – tuỷ bắt nguồn từ vùng vỏ vận động thứ nhất (diện 4). Khoảng 10% các sợi trục này (hoặc 3% các sợi vỏ – tuỷ) xuất phát từ các tế bào tháp lớn (tế bào Betz), vốn nằm ở lớp thứ năm của các diện 4 và 6). Khoảng một phần ba khác của các sợi trong dải vỏ – tuỷ xuất phát từ các vùng tiền vận động và vận động phụ ở diện 6, và một phần ba còn lại của các sợi bắt nguồn từ thuỳ đỉnh, chủ yếu ở các diện 3, 1 và 2 của hồi sau trung tâm. Cùng với nhau, những vùng vỏ này đóng góp vào các đường vỏ – tuỷ và vỏ – nhân và được gọi chung là vỏ cảm giác – vận động.
Các sợi vỏ – tuỷ đi qua trụ sau của bao trong và vùng giữa của cuống đại não, hay trụ đại não. Sau đó, chúng đi trong những bó nhỏ ở phần nền cầu não và cuối cùng lại tập trung thành một bó để tạo nên tháp hành. Con đường vỏ – tuỷ mang tên là dải tháp vì nó đi qua tháp hành chứ không phải vì nó xuất phát từ các tế bào tháp ở vỏ não. Ở hành não dưới, hầu hết các sợi vỏ – tuỷ bắt chéo tới bên đối diện. Chỗ bắt chéo này được gọi là bắt chéo vận động hay bắt chéo tháp. Khoảng 90% số sợi bắt chéo ở mức này và đi xuống qua tuỷ sống như là dải vỏ – tuỷ bên; dải này đi trong thừng bên qua tất cả các đốt tuỷ và tiếp xúc synap ở mặt bên của các lá từ IV đến VIII. Nhiều tế bào trong các lá VII và VIII là các interneuron mà sợi trục của chúng synap với các nơron vận động alpha và gamma ở lá IX. Chỉ một ít sợi (có lẽ là xuất phát từ các tế bào Betz) synap trực tiếp lên các nơron vận động alpha, beta và gamma ở lá IX. Những nơron vận động này chi phối cho các cơ ở phần xa của các chi (bàn tay và bàn chân).
Số 10% các sợi vỏ – tuỷ mà không bắt chéo ở hành não đi xuống trong thừng trước của các đoạn tuỷ cổ và ngực trên như là dải vỏ – tuỷ trước. Dải này không đi xuống quá đoạn tuỷ ngực trên. Ở các đốt tuỷ mà nó đi qua, hầu hết các sợi bắt chéo qua mép trắng trước trước khi chúng synap với các interneuron và các nơron vận động ở bên đối diện; một số lượng nhỏ các sợi trục trong dải vỏ – tuỷ trước tận cùng ở cùng bên so với các tế bào vỏ não nguyên uỷ. Càng đi xuống thấp, số lượng các sợi trong các dải vỏ – tuỷ càng giảm dần khi mà ngày càng có nhiều sợi bắt chéo để tới nơi tận cùng.
Các sợi vỏ tuỷ mà tận cùng ở nền sừng sau (các lá IV, V và VI) có thể ảnh hưởng tới các cung phản xạ tại chỗ và các tế bào nguyên uỷ của những đường cảm giác đi lên. Qua hệ thống này, vỏ não có thể kiểm soát cường độ vận động phản xạ và có thể làm thay đổi luồng thông tin cảm giác đi tới não.
Các nơron vỏ mà tách ra các sợi vỏ – tuỷ sử dụng glutamate như là một chất dẫn truyền thần kinh và kích thích các nơron mà chúng synap. Tuy nhiên, các sợi vỏ – tuỷ có thể gây ra các tác động hoặc kích thích hoặc ức chế lên các nơron vận động dưới. Các tác động kích thích có được từ những tiếp nối trực tiếp (đơn synap) với các nơron vận động dưới, và các tác động ức chế sảy ra qua các tiếp nối synap lên các interneuron ức chế. Nhiều interneuron làm trung gian cho các tác động ức chế sử dụng glycine như là chất dẫn truyền thần kinh. Sự hoạt hoá các sợi vỏ – tuỷ nói chung gây ra các điện thế kích thích sau synap ở các nơron vận động của các cơ gấp và các điện thế ức chế sau synap ở các nơron vận động của các cơ duỗi.
Dải (hay các sợi) vỏ – nhân:
Các sợi vỏ – nhân phát sinh từ các nơron ở phần dưới của vùng vỏ cảm giác – vận động ở mặt bên bán cầu và từ diện 8 của Brodmann. Các sợi trục đi cùng với các sợi vỏ – tuỷ nhưng gần đường giữa hơn các sợi vỏ – tuỷ, qua gối của bao trong, cuống đại não, nền cầu não và tháp hành. Các sợi tận cùng tại thân não, nơi chúng tác động lên các nhân vận động của các thần kinh sọ III (vận nhãn), IV (ròng rọc), V (sinh ba), VI (giạng), VII (mặt), IX (lưỡi – hầu), X (lang thang), XI (phụ) và XII (hạ thiệt). Các sợi từ diện 8 của vỏ não, còn là các trường mắt trán, gây nên các cử động mắt một cách gián tiếp bằng cách synap với các tế bào ở cấu tạo lưới cầu não, rồi sợi trục của các nơron của cấu trúc này lại đi tới nhân của các thần kinh sọ III, IV và VI. Các sợi vỏ – nhân từ vùng vỏ chi phối cho vùng mặt của các diện 4 và 6 tận cùng ở các interneuron nằm liền kề các nơron vận động chi phối cho các cơ vẫn còn lại (không phải các cơ ngoài nhẫn cầu). Các sợi trục phân phối tới nhân vận động của các thần kinh sọ ở cùng bên và bên đối diện, ngoại trừ phần nhân thần kinh mặt mà chỉ phối các cơ biểu hiện nét mặt ở vùng mặt dưới thì nhận được các sợi hầu như hoàn toàn đến từ bên đối diện. Nhân thần kinh hạ thiệt nhận được các sợi chủ yếu là từ bên đối diện; nhân thần kinh phụ nhận được các sợi chủ yếu là cùng bên. Trái với liệt Bell, trong đó toàn bộ cơ mặt ở cùng bên với tổn thương bị liệt, tổn thương đường vỏ nhân chủ yếu dẫn tới liệt các cơ vùng mặt dưới (liệt vận động tự ý) bên đối diện (liệt mặt trung ương).
Giống như dải vỏ – tuỷ, dải vỏ – nhân cũng có những sợi tận cùng trên những nơron chuyển tiếp cảm giác. Ở thân não, những nhân chuyển tiếp này bao gồm nhân thon, nhân chêm, các nhân cảm giác của thần kinh sinh ba và nhân của dải đơn độc.

Hình 37.4. Đường vỏ tủy và một số sợi của đường vỏ nhân
3.3.4. Các đường lưới – tuỷ và vỏ – lưới
Dải lưới – tuỷ giữa (lưới – tuỷ cầu) phát sinh từ những nơron của cấu tạo lưới giữa của cầu não (các nhân cầu đuôi và cầu miệng). Các sợi trục đi xuống chủ yếu ở cùng bên và tận cùng trực tiếp và gián tiếp trên các nơron vận động alpha và gamma ở tất cả các mức tuỷ. Dải này có tác động lên hệ cơ trục với xu hướng duỗi rõ rệt và nó còn tăng cường tác động của dải tiền đình – tuỷ bên. Tác động của vỏ não lên cấu tạo lưới cầu não chỉ là tối thiểu; cấu tạo lưới cầu cũng chịu ảnh hưởng từ thông tin đa cảm giác từ các nguồn sinh ba và cảm giác thân thể. Dải lưới – tuỷ bên (lưới – tuỷ hành) bắt nguồn từ cấu tạo lưới giữa của hành não (nhân tế bào khổng lồ) và chịu sự chi phối mạnh mẽ bởi các sợi vỏ – lưới, đặc biệt là từ các vùng vỏ vận động, tiền vận động và vận động phụ. Các sợi trục của dải lưới – tuỷ bên tận cùng ở cả hai bên, trực tiếp và gián tiếp, trên các nơron vận động alpha và gamma ở tất cả các mức tuỷ. Dải lưới – tuỷ bên thiên về tác động lên cơ gấp, tăng cường ảnh hưởng của dải vỏ – tuỷ và dải đỏ – tuỷ. Các dải lưới – tuỷ có vai trò quan trọng trong điều hoà trương lực cơ bản của hệ cơ và tư thế. Chúng không được tổ chức theo kiểu định khu thân.
3.3.5. Dải đỏ – tuỷ
Nhân đỏ tiếp nhận các sợi đến từ vùng vỏ não vận động cùng bên và hoạt động như là một hệ thống vỏ – tuỷ gián tiếp. Các sợi trục của dải đỏ – tuỷ bắt chéo tại bắt chéo trần bụng của trung não và đi xuống trong phần bên thân não và thừng bên của tuỷ sống, nơi chúng hoà trộn rộng rãi với các sợi trục của dải vỏ – tuỷ bên. Dải đỏ – tuỷ tận cùng trực tiếp và gián tiếp trên các nơron vận động alpha và gamma ở tuỷ sống, đặc biệt là những nơron liên quan đến cử động gấp của các chi. Dải đỏ – tuỳ giúp gây ra các cử động gấp đối với chi dưới nhưng giúp kiềm chế các cử động gấp đối với chi trên. Các tổn thương dải đỏ – tuỷ thường sảy ra kết hợp với tổn thương dải vỏ – tuỷ; các sợi vỏ – đỏ cũng tổn thương cùng với các sợi vỏ – tuỷ ở bao trong và cuống đại não. Những tổn thương này dẫn đến liệt cứng nửa người bên đối diện. Các tổn thương thân não ở dưới mức nhân đỏ dẫn đến tình trạng mất não (co cứng cơ duỗi).
3.3.6. Các dải tiền đình – tuỷ
Dải tiền đình – tuỷ bên phát sinh từ nhân tiền đình bên và tận cùng trực tiếp và gián tiếp lên các nơron vận động alpha và gamma mà liên quan đến hệ cơ duỗi, đặc biệt là hệ cơ ở phần gần của các chi. Nếu hệ cơ duỗi khỏe đối trọng này mà mà không bị kiềm chế bởi các tiếp nối đi xuống từ nhân đỏ và tiểu não, sẽ sinh ra một tình trạng tăng trương lực cơ duỗi thường trực. Dải tiền đình – tuỷ giữa phát sinh từ nhân tiền đình giữa và có vai trò ức chế các nơron vận động alpha và gamma mà kiểm soát hệ cơ trục và cơ của cổ. Các sợi của dải này tận cùng chủ yếu trên các interneuron ở sừng trước của đoạn tuỷ cổ. Hai dải tiền đình – tuỷ này giữ ổn định và phối hợp vị trí của đầu. cổ và thân; chúng cũng là đường phản xạ quan trọng giúp thân não kiểm soát trương lực và tư thế. Các dải tiền đình – tuỷ hoạt động cùng với các dải lưới – tuỷ để kiểm soát trương lực và tư thế.
3.3.7. Dải mái – tuỷ và dải kẽ – tủy
Dải mái – tuỷ phát sinh từ các nơron ở các lớp sâu của gò trên, bắt chéo trong bắt chéo trần lưng của trung não, chạy xuống ở bên đối diện ở gần đường giữa, và tận cùng trực tiếp và gián tiếp lên các nơron vận động alpha và gamma ở tuỷ sống cổ mà liên quan đến các cử động của đầu và cổ. Con đường này làm trung gian cho các cử động phản xạ dõi theo thị giác để cho đầu luôn ở vị trí phù hợp với thông tin thị giác (hình ảnh chuyển động). Dải kẽ – tuỷ phát sinh từ nhân kẽ của Cajal, một vùng giúp phối hợp các cử động mắt và các trung tâm nhìn chăm chú. Dải kẽ – tuỷ đi xuống ở cùng bên trong bó dọc giữa và tận cùng trực tiếp và gián tiếp tiếp lên các nơron vận động alpha và gamma liên quan đến hệ cơ trục của thân tham gia vào cử động xoay.
3.3.8. Nhìn chung về các dải đi xuống
Các tận cùng của dải vỏ – tuỷ bên và dải đỏ – tuỷ chủ yếu hướng tới các nơron vận động dưới mà kết hợp với các cơ ở phần xa của chi. Dải vỏ – tủy trước, các dải lưới – tủy và các dải tiền đình – tuỷ chủ yếu hướng tới các nơron vận động dưới mà kết hợp với các cơ ở phần gần của chi và các cơ trục.
Cập nhật thông tin mới nhất về kiến thức y học và test y học tại facebook TEST Y HỌC
Tham gia nhóm zalo: Tài Liệu Y Học Tổng Hợp
Ôn thi nội trú, sau đại học Giải Phẫu TẠI ĐÂY
