Tai Và Thần Kinh Tiền Đình Ốc Tai – Giải Phẫu Y Hà Nội

Bài 15

TAI VÀ THẦN KINH TIỀN ĐÌNH – ỐC TẠI

MỤC TIÊU

1. Mô tả được hình thể và cấu tạo của tai ngoài, tai giữa và tai trong; trình bày được cơ chế nghe và đường dẫn truyền từ các cơ quan nhận cảm thính giác và thăng bằng về não.

2. Nếu được các liên hệ chức năng và lâm sàng thích hợp.

Tai là cơ quan nhận cảm về thính giác và thăng bằng. Ba phần của tai là tai ngoài, tai giữa và tai trong.

1. TAI NGOÀI

Tai ngoài gồm loa tai và ống tai ngoài. Loa tai từ mặt bên của đầu nhô lên để thu nhận sóng âm, còn ống tai ngoài từ loa tai đi vào trong để dẫn truyền các rung động âm thanh tới màng nhĩ.

1.1. Loa tai

Tai ngoài

Hình 15.1. Loa tai

Mặt ngoài của loa tai hơi hướng ra trước và có nhiều chỗ lồi và chỗ lõm. Gờ cong chạy ở chu vi loa tai là gờ luân. Một gờ khác, chạy song song và ở trước phần sau của gờ luân, được gọi là gờ đối luân; nó chia ra ở trên thành hai trụ bao quanh một chỗ lõm gọi là hố tam giác. Chỗ lõm cong nằm giữa gờ luân và gờ đối luân là hố thuyền. Gờ đối luân vây quanh một chỗ lõm sâu và rộng gọi là xoăn loa tai. Xoăn loa tai được đầu trước, hay trụ, của gờ luân chia không hoàn toàn thành hai vùng: vùng trên là hõm xoăn nằm ngang mức tam giác trên ống tai ngoài của xương thái dương, vùng dưới là ổ xoăn. Ở trước ổ xoăn có một vật nhỏ nhô ra sau gọi là bình tai; bình tai che khuất một phần lỗ ống tai ngoài. Ở đối diện với bình tai và được ngăn cách với bình tai bằng khuyết gian bình tai là một củ nhỏ gọi là đối bình tai. Bên dưới đối bình tại là dái tai; dái tai mềm vì được cấu tạo bằng mô xơ – mỡ, không giống như phần còn lại của loa tai có mật độ chắc nhờ được chống đỡ bằng sụn chun. Mặt trong của loa tại có những chỗ nhô lên tương ứng với những chỗ lõm trên mặt ngoài.

Về cấu tạo, loa tai là một sụn xơ chun mỏng được che phủ bởi da và được nối với những phần xung quanh bởi các dây chằng và các cơ. Sụn của loa tại liên tiếp với sụn của ống tai ngoài.

1.2. Ống tai ngoài

Ống tai ngoài đi từ xoăn loa tại tới màng nhĩ, dài khoảng 2,5 cm. Nó được cấu tạo bằng sụn ở 1/3 ngoài và bằng xương ở 2/3 trong. Nó đi theo một đường cong hình chữ S: lúc đầu hướng vào trong, ra trước và hơi lên trên, tiếp đó cong về phía sau – trong và lên trên, cuối cùng lại cong về phía trước – trong và xuống dưới. Ống tai ngoài có hai chỗ hẹp, một ở gần đầu trong của phần sụn, một ở phần xương, chỗ cách đáy xoăn tại khoảng 2 cm. Vì màng nhĩ nằm chếch nên sàn và thành trước ống tai ngoài dài hơn trần và thành sau của nó.

Liên quan: Mỏm lồi cầu xương hàm dưới nằm trước và được ngăn cách với phần sụn của ống tai ngoài bởi một phần của tuyến mang tai. Hố sọ giữa nằm trên phần xương của ống tai và các tiểu xoang chũm thì nằm sau và được ngăn cách với ống tại bằng một mảnh xương mỏng. Phần sâu nhất của ống tai nằm dưới ngách thượng nhĩ và trước – dưới hang chũm. Mảnh xương ngăn cách nó với hang chũm chỉ dày 1-2 mm.

2. TAI GIỮA VÀ HÒM NHĨ

Tai giữa là hệ thống các khoang rỗng chứa khí nằm giữa tai ngoài và tai trong. Phần chính của tại giữa là hòm nhĩ, một khoang nằm giữa vòi tai ở trước và hang chũm ở sau. Hòm nhĩ thường được hiểu như là từ đồng nghĩa với tai giữa.

Hòm nhĩ là một khoang không đều dẹt theo hướng trong – ngoài nằm trong phần đá xương thái dương. Nó chứa một chuỗi ba xương nhỏ di động được nối các thành ngoài và trong của hòm nhĩ để truyền các rung động của màng nhĩ ngang qua hòm nhĩ tới tại trong; các xương này tiếp khớp với nhau bằng các khớp hoạt dịch và được vận động bởi các cơ. Hòm nhĩ có hai phần: hòm nhĩ thực sự nằm đối diện với màng nhĩ và ngách thượng nhĩ nằm cao hơn màng nhĩ. Ngách thượng nhĩ chứa nửa trên của xương búa và hầu hết xương đe. Đường kính thẳng đứng và đường kính trước – sau của hòm nhĩ đều vào khoảng 15 mm; đường kính ngang vào khoảng 6 mm ở trên và 4 mm ở dưới nhưng ở ngang rốn màng nhĩ chỉ là 2 mm. Hòm nhĩ được giới hạn ở ngoài bởi màng nhĩ và ở trong bởi thành ngoài tai trong. Nó thông ở sau với hang chũm và các tiểu xoang chũm, ở trước với vòi tai.

2.1. Các thành của hòm nhĩ và các cấu trúc có liên quan

2.1.1. Trần hòm nhĩ hay thành trần

Trần hòm nhĩ là một mảnh mỏng của xương đặc ngăn cách hòm nhĩ với khoang sọ và chiếm một vùng đáng kể của mặt trước phần đá xương thái dương. Trần hòm nhĩ cũng liên tiếp ở phía sau với trần hang chũm và ở phía trước với trần của ống cơ căng màng nhĩ. Đường khớp đá – trai chưa cốt hoa ở trẻ nhỏ có thể cho phép sự lan truyền của nhiễm trùng từ hòm nhĩ vào màng não. Ở người lớn, những tĩnh mạch từ hòm nhĩ đi qua khe này tới các xoang đá trên và đá – trai và có thể cũng lan truyền nhiễm trùng tới các cấu trúc này.

2.1.2. Sàn hòm nhĩ hay thành tĩnh mạch cảnh

Sàn là một mảnh xương hẹp, mỏng và lồi ngăn cách hòm nhĩ với hành trên tĩnh mạch cảnh trong. Xương có thể mỏng hoặc khuyết và lúc đó tĩnh mạch chỉ được ngăn cách với hòm nhĩ bằng niêm mạc và mô xơ. Ở gần thành trong, trên sàn có một lỗ nhỏ cho nhánh nhĩ của thần kinh lưỡi – hầu đi vào hòm nhĩ. Đôi khi sàn dày và có thể chứa một số tiểu xoang chũm phụ.

2.1.3. Thành ngoài hòm nhĩ hay thành màng

Thành ngoài hòm nhĩ của tai

Hình 15.2. Thành ngoài hòm nhĩ

Thành ngoài chủ yếu do màng nhĩ tạo nên nhưng một phần cũng do vòng xương mà màng nhĩ gắn vào. Vòng xương bị khuyết ở trên và ở gần vùng khuyết này là lỗ của các tiểu quản sau và trước cho thừng nhĩ đi qua. Lỗ của tiểu quản thừng nhĩ sau nằm trong góc giữa các thành sau và ngoài của hòm nhĩ, ngay sau màng nhĩ và ngang mức với đầu trên của cán xương búa; nó dẫn tới một ống nhỏ đi xuống ở trước ống thần kinh mặt và tận cùng ở khoảng 6 mm trên lỗ trâm – chũm. Thần kinh thừng nhĩ và một nhánh của động mạch trâm – chũm đi qua ống này vào hòm nhĩ. Tiểu quản thừng nhĩ trước mở ra ở đầu trong của khe đá – nhĩ. Thừng nhĩ đi qua đây để rời khỏi hòm nhĩ.

Màng nhĩ: Màng nhĩ ngăn cách hòm nhĩ với ống tại ngoài. Đây là một màng mỏng và bán trong suốt, gần có hình oval, mặc dù ở trên hơi rộng hơn ở dưới, và được đặt ở một góc khoảng 55 độ với sàn ống tai ngoài. Đường kính dài nhất (trước – dưới) từ 9-10 mm và ngắn nhất từ 8-9 mm. Hầu hết chu vi của nó là một vòng xơ – sụn dày gắn vào rãnh nhĩ ở đầu trong của ống tai ngoài; rãnh này bị khuyết ở trên và tại đây các nếp búa trướcsau đi tới mỏm ngoài xương búa, giới hạn nên phần chùng của màng nhĩ ở bên trên; phần chùng là phần mỏng và có hình tam giác. Phần còn lại của màng nhĩ thì căng và được gọi là phần căng. Cán của xương búa được gắn chặt với mặt trong của màng nhĩ cho tới tận trung tâm của nó, tức rốn màng nhĩ, điểm mà màng nhĩ nhô về phía hòm nhĩ.

Về mô học, màng nhĩ được cấu tạo bởi ba tầng: một tầng thượng bì ở ngoài, một tầng sợi trung gian và một tầng niêm mạc ở trong. Tầng thượng bì liên tiếp với da mỏng của ống tai ngoài. Tầng niêm mạc là một phần của niêm mạc hòm nhĩ. Ở phần chùng, tầng sợi được thay thế bằng mô liên kết lỏng lẻo.

Các động mạch của màng nhĩ đến từ: nhánh loa tại sâu của động mạch hàm trên (tới lớp thượng bì bên ngoài) và nhánh trâm – chũm của động mạch chẩm hoặc tai sau và nhánh nhĩ của động mạch hàm trên tới lớp niêm mạc bên trong.

Các tĩnh mạch của màng nhĩ: các tĩnh mạch nông dẫn tới tĩnh mạch cảnh ngoài; các tĩnh mạch ở mặt sâu dẫn một phần tới xoang ngang và các tĩnh mạch màng cứng và một phần tới đám rối tĩnh mạch vòi tai.

Các thần kinh của màng nhĩ đến từ: nhánh tại thái dương của thần kinh hàm dưới, nhánh loa tại của thần kinh lang thang, nhánh nhĩ của thần kinh lưỡi hầu và có thể từ cả thần kinh mặt.

2.1.4. Thành trong của hòm nhĩ hay thành mê đạo

Thành trong hòm nhĩ của tai

Hình 15.3. Thành trong hòm nhĩ

Thành trong của hòm nhĩ cũng là thành ngoài của tại trong. Các cấu trúc nổi bật của thành này là ụ nhô, cửa sổ tiền đình, cửa sổ ốc tai và lồi ống thần kinh mặt.

Ụ nhô là một gò lồi tròn có các rãnh nhỏ (rãnh ụ nhô) do các thần kinh của đám rối nhĩ tạo nên; nó ứng với phần nhô ra ngoài của vòng đáy của ốc tai. Ở sau ụ nhô là xoang nhĩ, nơi tương ứng với vị trí của bóng ống bán khuyên sau.

Cửa sổ tiền đình là một lỗ mở hình thận nằm ở sau – trên ụ nhỏ, liên kết hòm nhĩ với tiền đình; đường kính dài của nó nằm ngang và bờ lồi của nó hướng lên trên. Nền của xương bàn đạp lắp vào cửa sổ này, chu vi của nó được gắn với bờ của cửa sổ bởi một dây chằng vòng.

Cửa sổ ốc tai nằm ở sau – dưới cửa sổ tiền đình và được ngăn cách với cửa sổ tiền đình bởi phần sau của ụ nhô. Đây là cửa thông hòm nhĩ với thang nhĩ của ốc tai nhưng được đóng kín bởi màng nhĩ phụ; màng này lồi về phía ốc tại.

Lồi ống thần kinh mặt tương ứng với đoạn thứ hai của ống chứa thần kinh mặt. Ống này chạy qua thành trong hòm nhĩ từ trước ra sau ở ngay trên cửa sổ tiền đình, sau đó thì uốn cong xuống dưới vào thành sau của hòm nhĩ.

2.1.5. Thành sau của hòm nhĩ hay thành chũm và hang chũm

Rộng ở trên hơn ở dưới, các đặc điểm hình thể chính của thành này là đường vào hang chũm, lồi tháp và hố đe.

Đường vào hang chũm là một lỗ rộng từ ngách thượng nhĩ chạy ra sau tới phần trên của hang chũm. Trên thành trong của đường vào hang là một chỗ lồi tròn có tên là lồi ống bán khuyên ngoài. Lồi này nằm ở sau – trên lồi ống thần kinh mặt và do ống bán khuyên ngoài nằm bên dưới tạo nên.

Lồi tháp nằm ở ngay sau cửa sổ tiền đình và trước phần thẳng đứng của ống thần kinh mặt; khoang rỗng trong lồi này chứa cơ bàn đạp, gân của cơ chui ra qua một lỗ nhỏ ở đỉnh lồi tháp.

Hố đe là một chỗ lõm nhỏ chứa trụ ngắn của xương đe, mỏm này được cố định vào hố bởi các sợi dây chằng.

Hang chũm: Là một xoang khí lớn nằm trong phần đá xương thái dương, các liên quan của hang chũm có tầm quan trọng lớn về ngoại khoa; xoang này còn thường bị nhiễm khuẩn. Phần trên của thành trước có đường vào hang chũm, thông ngách thượng nhĩ với hang chũm; phía trong đường vào hang là ống bán khuyên ngoài. Phần dưới của thành trước chứa đoạn đi xuống của ống thần kinh mặt. Thành trong của hang chũm liên quan với ống bán khuyên sau. Hang chũm ngăn cách với xoang sigma ở phía sau bằng một vách xương; một số tiểu xoang chũm có thể nằm trong vách xương này. Trần xoang chũm, vốn liên tiếp với trần hòm nhĩ, nằm dưới hố sọ giữa và thuỳ thái dương. Thành ngoài của hang chũm, đường tiếp cận ngoại khoa thông thường vào hang, được tạo nên bởi mỏm sau ống tai của phần trai xương thái dương. Thành này chỉ dày 2 mm lúc mới sinh nhưng tăng lên với tốc độ khoảng 1 mm mỗi năm để đạt tới độ dày cuối cùng khoảng 12-15 mm. Ở người trưởng thành, thành ngoài của hang chũm tương ứng với tam giác trên ống tai trên mặt ngoài của sọ, có thể sờ thấy được qua hõm xoăn. Cạnh trên của tam giác là mào trên chũm, nằm ngang mức với sàn của hố sọ giữa; cạnh trước – dưới, hay bờ sau – trên của ống tai ngoài, chạy dọc theo đoạn đi xuống của ống thần kinh mặt; và cạnh sau, tạo nên bởi một đường thẳng đứng ở sau tiếp tuyến với bờ sau của ống tai ngoài, nằm ở ngay trước xoang sigma. Dung tích xoang chũm người trưởng thành vào khoảng 1 ml và đường kính chung của nó vào khoảng 10 mm. Không giống các xoang khí khác, nó có mặt ngay từ khi sinh và có kích thước gần bằng của người lớn, mặc dù nó nằm ở một mức cao hơn tương đối so với ống tai ngoài của người lớn.

Các tiểu xoang chũm: Các xoang này biến đổi nhiều về số lượng, hình dạng và kích thước. Thường thì chúng tiếp nối với nhau và được lót bằng một niêm mạc liên tiếp với niêm mạc của hang chũm và hòm nhĩ. Chúng lấp đầy mỏm chũm, thậm chí tới đỉnh mỏm, và một số có thể chỉ được ngăn cách với xoang sigma và hố sọ sau chỉ bằng một mảnh xương rất mỏng, đôi khi khuyết. Một số có thể nằm nông hơn, hoặc thậm chí ở sau xoang sigma và số khác có thể nằm ở thành sau của phần xuống ống thần kinh mặt. Đôi khi chúng phát triển rất ít vào mỏm chũm.

2.1.6. Thành trước hay thành động mạch cảnh và vòi tai

Thành này hẹp do các thành ngoài và trong của hòm nhĩ tiến lại gần nhau. Phần dưới của nó là một mảnh xương mỏng tạo nên thành sau của ống động mạch cảnh, trên đó có các lỗ cho các thần kinh cảnh nhĩ và các nhánh nhĩ của động mạch cảnh trong đi qua. Phần trên của thành trước có lỗ của hai ống chạy song song; ống trên là ống cơ căng màng nhĩ và ống dưới là phần xương của vòi tai. Các ống này chạy chếch ra trước, xuống dưới và vào trong để đổ vào góc giữa phần trai và phần đá của xương thái dương; chúng được ngăn cách với nhau bằng một vách xương mỏng. Ống cơ căng màng nhĩ và vách xương chạy về phía sau, trên thành trong hòm nhĩ, rồi tận cùng ở ngay trên cửa sổ tiền đình, nơi mà đầu sau của vách cong ra ngoài để tạo nên một ròng rọc có tên là mỏm hình ốc; trên mỏm này, gân của cơ căng màng nhĩ cong ra ngoài để tới bám vào phần trên của cán xương búa.

Vòi tai: Vòi tai nối thông hòm nhĩ với tỵ hầu, cho phép không khí đi từ khoang này tới khoang kia để làm cân bằng áp lực không khí trên cả hai mặt của màng nhĩ. Nó dài khoảng 36 mm và đi về phía trước – trong ở một góc khoảng 45 độ so với mặt phẳng dọc và 30 độ so với mặt phẳng nằm ngang. Nó được tạo nên một phần bằng xương và một phần bằng sụn và mô sợi.

Phần xương, dài khoảng 12 mm, bắt đầu từ thành trước hòm nhĩ, tại lỗ nhĩ, và hẹp dần để tận cùng ở chỗ nối các phần trai và đá của xương thái dương, nơi phần sụn bám vào; ống động mạch cảnh nằm ở trong.

Phần sụn, dài khoảng 24 mm, được tạo nên bởi một mảnh sụn hình tam giác, phần lớn hơn của mảnh sụn nằm ở thành sau – trong của vòi. Đỉnh của phần sụn được gắn với đầu tận cùng của phần xương của vòi và nền của nó nằm ngay dưới niêm mạc của thành bên tỵ hầu, tạo nên một gờ vòi ở sau lỗ hầu của vòi tai. Phần trên của sụn bị bẻ cong ra ngoài và xuống dưới, tạo nên một mảnh trong rộng và một mảnh ngoài hẹp. Trên thiết đồ ngang, sụn trông như một cái móc và khuyết ở phía dưới – ngoài, nơi ống được cấu tạo bằng mô sợi. Sụn được cố định vào nền sọ trong rãnh giữa phần đá xương thái dương và cánh lớn xương bướm, tận cùng ở gần rễ của mảnh trong mỏm chân bướm. Các phần sụn và xương của vòi không nằm trên cùng mặt phẳng, phần xương chạy xuống theo một độ dốc hơi lớn hơn phần sụn. Đường kính của vòi lớn nhất tại lỗ hầu, nhỏ nhất tại chỗ nối của hai phần (eo) và lại tăng dần về phía hòm nhĩ. Niêm mạc của vòi liên tiếp với niêm mạc của tỵ hầu và hòm nhĩ; nó được lót bằng thượng mô trụ có lông và mỏng ở phần xương nhưng dày lên bởi các tuyến niêm mạc ở phần sụn; ở gần lỗ hầu có một khối mô bạch huyết gọi là hạnh nhân vòi.

2.2. Các xương nhỏ của tai

Một chuỗi của ba xương nhỏ di động, xương búa, xương đe và xương bàn đạp, truyền các sóng âm từ màng nhĩ qua hòm nhĩ tới cửa sổ tiền đình. Xương búa được gắn với màng nhĩ và nền xương bàn đạp với vành của cửa sổ tiền đình, trong khi đó xương đe được treo ở giữa và tiếp khớp với cả hai xương.

Xương búa: Có hình dạng giống như một cái búa, xương này dài 8-10 mm và là xương lớn nhất của chuỗi xương; nó có một chỏm, một cổ, một cán và các mỏm trước và ngoài. Chỏm là đầu trên phình rộng hình trứng nằm trong ngách thượng nhĩ; nó tiếp khớp ở sau với xương đe. Cổ là phần hẹp ở dưới cổ và dưới cổ là một chỗ phình mà từ đó các mỏm nhô ra.

Các xương nhỏ và cơ vận động cho chuỗi xương nhỏ của tai

Hình 15.4. Các xương tai nhỏ và cơ vận động cho chuỗi xương nhỏ của tai

Cán xương búa được gắn với màng nhĩ. Nó chạy xuống về phía sau – trong, thu nhỏ dần tới một đầu tự do.

Mỏm trước là một gai xương nhỏ từ chỗ phình bên dưới cổ nhô ra trước và được nối với khe đá – nhĩ bằng các sợi dây chằng. Mỏm ngoài, một mỏm hình nón từ gốc cán búa nhô ra, hướng ra ngoài và được gắn với phần trên của màng nhĩ và với các các đầu của chỗ khuyết ở phần trên rãnh nhĩ bằng các nếp búa trước và sau.

Xương đe: Xương này trông giống như một răng tiền cối với hai rễ tách xa nhau. Nó có một thân và hai trụ. Thân có một mặt khớp hình yên hướng ra trước tiếp khớp với chỏm xương búa. Trụ dài chạy xuống gần như thẳng đứng, ở sau và song song với cán búa; đầu dưới của nó cong vào trong và tận cùng ở một mỏm tròn, gọi là mỏm thấu kính; mặt trong của mỏm thấu kính có mặt khớp với chỏm của xương bàn đạp. Trụ ngắn, gần có hình nón, nhô ra sau và được các sợi dây chằng gắn với hố đe trong phần sau – dưới của ngách thượng nhĩ.

Xương bàn đạp: Xương này có một chỏm, một cổ, hai trụ trước và sau, và một nền. Chỏm hướng ra ngoài và có một mặt khớp nhỏ tiếp khớp với mỏm thấu kính của xương đe. Cổ được gắn ở phía sau với gân của cơ bàn đạp. Các trụ từ cổ tỏa ra và liên tiếp với nền hình bầu dục; nền được gắn với bờ của cửa sổ tiền đình bởi một vòng sợi.

Các xương nhỏ của hòm nhĩ tiếp khớp với nhau bằng các khớp hoạt dịch điển hình, được nối với các thành hòm nhĩ bằng các dây chằng và được vận động bằng các cơ.

Soi màng nhĩ phải

Hình 15.5. Màng nhĩ bên phải

2.3. Các cơ vận động cho chuỗi xương nhỏ của tai

Cơ căng màng nhĩ: Cơ này xuất phát từ phần sụn của vòi tai, chạy ra sau trong ống cơ căng màng nhĩ và tận cùng bằng một gân; gân này uốn cong ra ngoài quanh mỏm hình ốc và bám vào đầu trên cán xương búa. Cơ căng màng nhĩ kéo màng nhĩ vào trong để làm căng màng nhĩ và đẩy xương bàn đạp sát hơn vào cửa sổ tiền đình. Nó được vận động bởi một nhánh thần kinh tới cơ chân bướm trong của thần kinh hàm dưới.

Cơ bàn đạp: Cơ bàn đạp nằm trong khoang rỗng của lồi tháp. Gân của nó chui qua một lỗ ở đỉnh lồi tháp để chạy ra trước bám vào mặt sau của cổ xương bàn đạp. Cơ bàn đạp có tác dụng đối kháng với cơ căng màng nhĩ. Nó được chi phối bởi một nhánh của thần kinh mặt. Liệt cơ bàn đạp dẫn đến hội chứng tăng thính.

Sơ đồ 3 phần của tai

Hình 15.6. Sơ đồ 3 phần của tai

3. TAI TRONG

Tai trong mới thực sự là nơi chứa các bộ phận thụ cảm thính giác và thăng bằng nên còn được gọi là cơ quan tiền đình – ốc tai. Nó phức tạp nên được gọi là mê đạo, bao gồm mê đạo xươngmê đạo màng. Mê đạo xương là hệ thống khoang rỗng phức tạp bên trong phần đá xương thái dương. Mê đạo màng là một hệ thống ống và túi màng nằm trong mê đạo xương. Khoảng nằm giữa mê đạo màng và thành xương chứa ngoại dịch. Dịch chứa trong mê đạo màng là nội dịch.

3.1. Mê đạo xương

Mê nhĩ xương của tai

Hình 15.7. Mê đạo xương

Mê đạo xương bao gồm tiền đình, các ống bán khuyên và ốc tại.

Tiền đình nằm ở phía trong hòm nhĩ, phía sau ốc tai và phía trước các ống bán khuyên. Đây là một hốc xương có sáu thành. Thành ngoài ngăn cách với hòm nhĩ bằng một vách xương và liên hệ với hòm nhĩ qua cửa sổ tiền đình. Thành trong liên quan với đáy ống tai trong, có ngách bầu dục cho soan nang tựa vào và ngách cầu cho cầu nang tựa vào. Thành sauthành trên có năm lỗ thông với các ống bán khuyên.

Thành dưới là mảnh xương mỏng liên tiếp với mảnh xoắn ốc của ốc tai. Tiền đình thông ở trước với thang tiền đình của ốc tai.

Các ống bán khuyên xương gồm ba ống, mỗi ống nằm thẳng góc với hai ống kia. Ống bán khuyên trước nằm trên mặt phẳng thẳng đứng, vuông góc với trục phần đá xương thái dương. Ống bán khuyên sau nằm trên mặt phẳng thẳng đứng, song song với trục phần đá xương thái dương. Ống bán khuyên ngoài nằm trên mặt phẳng ngang và cong ra ngoài. Các ống bán khuyên là những ống hình trụ cong hình móng ngựa nằm ở sau – trên tiền đình và mở vào tiền đình, mỗi ống có một đầu phình gọi là bóng xương. Đầu có bóng xương mở vào tiền đình tại trụ xương bóng, đầu không có bóng xương mở vào tiền đình tại trụ xương đơn. Trụ xương đơn của ống bán khuyên ngoài mở trực tiếp vào tiền đình. Trụ xương đơn của các ống bán khuyên trước và sau hợp lại thành trụ xương chung trước khi đổ vào tiền đình.

Ốc tai có hình một con ốc xoắn hai vòng rưỡi nằm trước tiền đình. Đáy ốc tai hướng vào trong; vòm ốc tai hướng ra ngoài. Ốc tai gồm một trụ ốc tai hình nón và ống xoắn ốc tai xoắn quanh trụ ốc tai hai vòng rưỡi từ đáy tới vòm ốc tai. Trong lòng ống xoắn ốc tai có một mảnh chạy xoắn ốc gọi là mảnh xoắn xương. Mảnh này có một bờ quấn quanh trụ ốc tai, một bờ tự do nhô vào lòng ống xoắn ốc tai. Ống ốc tại (tức phần màng của ốc tai) đi từ bờ tự do của mảnh xoắn xương tới thành ngoài của ống xoắn ốc tai. Mảnh xoắn xương và ống ốc tai chia ống xoắn ốc tại thành hai thang: thang tiền đình ở trên và thang nhĩ ở dưới. Hai thang chứa ngoại dịch và thông nhau tại khe xoắn ở vòm ốc tai, một khe nằm giữa vòm ốc tai ở một bên còn bên kia là đầu tịt của ống ốc tai và đầu tận cùng của mảnh xoắn xương.

3.2. Mê đạo màng

Mê nhĩ màng của tai

Hình 15.8. Mê đạo màng

Mê đạo màng gồm mê đạo tiền đình và mê đạo ốc tai.

Mê đạo tiền đình gồm soan nang và cầu nang (là hai túi màng nằm trong tiền đình xương) và các ống bán khuyên màng nằm trong các ống bán khuyên xương. Soan nang là một túi hình soan chiếm phần trên của tiền đình và tiếp nhận năm lỗ đổ vào của ba ống bán khuyên màng. Cầu nang là một túi nhỏ hình cầu ở phía trước soan nang. Cầu nang nối với soan nang bằng ống soan – cầu và với ống ốc tại bằng ống nối. Từ giữa ống soan – cầu tách ra một ống gọi là ống nội dịch. Ống này đi qua cống tiền đình tới dưới màng não cứng ở mặt sau phần đá xương thái dương thì phình ra thành túi nội dịch. Các ống bán khuyên màng gồm ba ống trước, sau và ngoài nằm trong ba ống bán khuyên xương tương ứng, mỗi ống có một đầu phình gọi là bóng màng. Đầu có bóng màng của các ống bán khuyên mở vào soan nang tại trụ màng bóng, đầu không có bóng màng mở vào tại trụ màng đơn. Trụ màng đơn của các ống bán khuyên trước và sau hợp lại tạo thành trụ màng chung.

Trong soan nang và cầu nang lần lượt có vết soan nangvết cầu nang; trong lòng mỗi bóng màng có một lồi ngang gọi là mào bóng. Các vết và mào này là những nơi chứa các tế bào lông cảm thụ sự thay đổi vị trí của đầu. Sự thay đổi vị trí của đầu gây ra sự chuyển động của ngoại dịch và nội dịch. Sự chuyển động đó kích thích các các tế bào lông ở các vết và mào. Xung động thần kinh sinh ra từ tế bào cảm thụ thăng bằng được thần kinh tiền đình dẫn về não.

Thiết đồ qua ống ốc tai

Hình 15.9. Thiết đồ qua ốc tai

Mê đạo ốc tai là một ống màng chứa nội dịch có tên là ống ốc tai, hay thang giữa. Nó có mặt cắt ngang hình tam giác và nằm trong ống xoắn ốc tai, giữa thành ngoài của ống xoắn ốc tai và bờ tự do của mảnh xoắn xương. Ba thành của ống ốc tai là: thành (hay màng) tiền đình ngăn cách ống ốc tai với thang tiền đình, thành nhĩ (hay màng nền) ngăn cách ống ốc tai với thang nhĩ, và thành ngoài.

Nằm trên thành nhĩ là cơ quan xoắn. Cơ quan xoắn là một lá tế bào thượng mô cuộn lại, bao gồm các tế bào chống đỡ và khoảng 16000 tế bào lông, vốn là tế bào cảm thụ thính giác. Mặt đỉnh của mỗi tế bào lông là một bó gồm 30-100 lông lập thể nhô vào nội dịch. Mặt đáy của các tế bào lông synap với sợi của các nơron cảm giác có thân nằm ở hạch xoắn ốc tai. Màng mái, một màng keo đàn hồi, nằm ở trên và tiếp xúc với các tế bào lông.

Sơ đồ mê nhĩ xương và mê nhĩ màng của tai

Hình 15.10. Sơ đồ mê đạo xương và mê đạo màng

3.3. Cơ chế nghe

Loa tại tập trung những sóng âm trong không khí và hướng sóng âm đi dọc ống tai ngoài tới màng nhĩ, làm cho màng nhĩ rung lên. Rung động cơ học của màng nhĩ được chuỗi xương con truyền tới cửa sổ tiền đình. Chuyển động lắc qua lắc lại của xương bàn đạp ở cửa sổ tiền đình tạo nên những sóng rung động trong ngoại dịch. Sóng này lan toả qua ngoại dịch của thang tiền đình tới vòm ốc tai rồi tới ngoại dịch ở thang nhĩ và cuối cùng trở về chỗ mở thông của ốc tai với tai giữa (cửa sổ ốc tai), làm rung động màng nhĩ phụ. Sóng rung động của ngoại dịch ấn lõm ống ốc tai, gây nên sóng rung động của nội dịch. Rung động của nội dịch kích thích các tế bào thượng mô thần kinh của cơ quan xoắn. Những xung động thần kinh từ cơ quan xoắn được phần ốc tại của thần kinh sọ VIII truyền về não.

4. THẦN KINH ỐC TAI VÀ ĐƯỜNG DẪN TRUYỀN THÍNH GIÁC

4.1. Thần kinh ốc tai

Thần kinh ốc tai bao gồm hai loại sợi: các sợi li tâm (đi) và các sợi hướng tâm (đến, cảm giác).

Các sợi cảm giác của thần kinh ốc tai bắt nguồn từ các nơron hai cực của hạch xoắn ốc tai nằm trong trụ ốc tai. Sợi gai (mỏm ngoại vi) của các nơron hai cực đi tới cơ quan xoắn (cơ quan Corti) và tiếp xúc synap với các tế bào lông trong và các tế bào lông ngoài; các sợi trục tạo nên thần kinh ốc tai.

Các sợi li tâm trong thần kinh ốc tai có nguồn gốc từ phức hợp nhân trám trên của cầu não. Chúng tạo nên bó trám – ốc tai và chi phối các tế bào lông ngoài của cơ quan xoắn. Các tế bào lông ngoài có khả năng co rút và các lông lập thể của chúng vùi trong màng mái. Điều này cho phép chúng kiểm soát được các đặc tính đáp ứng cảm giác của cơ quan xoắn bằng cách điều chỉnh mức độ mà màng mái áp vào các tế bào lông trong.

Thần kinh tiền đình ốc tai

Hình 15.11. Thần kinh tiền đình ốc tai

4.2. Đường thính trung ương

Thần kinh ốc tai đi vào thân não tại rãnh hành – cầu. Thần kinh vòng quanh bờ ngoài của cuống tiểu não dưới và đi vào các nhân ốc bụnglưng. Mỗi sợi thần kinh đi vào tách đôi và tiếp nối synap với các nơron ở cả hai nhân. Những nhân này chứa các nơron được tổ chức theo kiểu định khu âm. Thông tin từ các nhân ốc được chuyển lên các cấu trúc ở trung ương qua ba vân thính: vân thính lưng, vân thính bụng và vân thính trung gian. Vân thính lưng bắt nguồn ở nhân ốc lưng, chạy trên cuống tiểu não dưới và bắt chéo để gia nhập vào liềm bên bên đối diện. Hai vân thính còn lại bắt nguồn từ nhân ốc bụng. Vân thính trung gian đi theo một con đường tương tự như vẫn thính lưng. Vân thính bụng đi theo một con đường khác, bằng cách đi trước cuống tiểu não dưới để tận cùng ở các nhân của thể thangcác nhân trám trên ở cùng bên và bên đối diện. Những nhân này lại cho sợi đi tới các liềm bên cùng bên và bên đối diện.

Những sợi từ các nhân ốc lưng và bụng đi lên qua các vân thính lưng và trung gian đi tới gò dưới bên đối diện (một số synap ở những nơron chuyển tiếp trong các nhân của liềm bên). Những sợi chiếu này tạo nên đường thính trung ương một tai, có chức năng truyền thông tin về tần số của các tín hiệu thính giác. Trái lại, những sợi của vân thính bụng tạo nên một con đường hai tai đi lên cả hai bên, với những trạm tiếp nối synáp ở thể thang, phức hợp trám trên và các nhân của liềm bên. Con đường chuyên biệt này có thể phân tích vị trí của nguồn, hay hướng, của các kích thích thính giác. Con đường hai tai cũng tận cùng ở gò dưới, nơi gửi các sợi trục của nó tới nhân (thể) gối trong qua cánh tay gò dưới.

Các nhân thể gối trong đóng vai trò như các nhân cảm giác chuyên biệt của đồi thị và tạo nên trạm chuyển tiếp cảm giác cuối cùng của đường nghe. Các sợi từ thể gối trong đi tới thuỳ thái dương tạo nên tia thính giác và tận cùng ở các hồi thái dương ngang và mặt phẳng thái dương liền kề nằm ở mặt lưng của hồi thái dương trên và bị vùi một phần trong rãnh bên. Nằm trong các hồi thái dương ngang và phần trước của mặt phẳng thái dương, các diện 41 và 42 của Brodmann đóng vai trò như là các diện thính giác thứ nhất và thứ hai của vỏ não.

Cập nhật thông tin mới nhất về kiến thức y học và test y học tại facebook TEST Y HỌC

Tham gia nhóm zalo: Tài Liệu Y Học Tổng Hợp

Ôn thi nội trú, sau đại học Giải Phẫu TẠI ĐÂY

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Content is protected !!
All in one